Thân thế sự nghiệp
Đoàn Nhữ Hài tự Thuấn Thần, quê ở làng Hội Xuyên thuộc huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (nay là huyện Gia Lộc, Hải Dương). Ông phục vụ qua ba đời vua: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và Trần Hiến Tông. Trong suốt quá trình làm quan, ông được đánh giá là người thông tuệ, có tài cả về ngoại giao lẫn việc quản trị trong nước. Ông từng đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Ngự sử trung tán, Tham tri chính sự, Hành khiển, Thiên tử chiêu dụ sứ và Kinh lược Nghệ An. Năm 1335, trong chiến dịch chinh phạt Ai Lao, ông đã hy sinh.
Đường quan lộ
Khi còn trẻ, Đoàn Nhữ Hài lên Thăng Long học tập và ở tại chùa Tư Phúc. Ông tham gia thi Thái học sinh nhưng không đỗ đạt.
Cơ duyên ông gặp vua Trần Anh Tông vào tháng 5 năm Kỷ Hợi (1299) là một bước ngoặt trong cuộc đời ông. Một hôm, Thượng hoàng Trần Nhân Tông từ phủ Thiên Trường trở về kinh sư để xem xét công việc của con. Nhưng đúng lúc ấy, vua Anh Tông lại đang uống rượu xương bồ với các cận thần và say đến mức ngủ quên chưa dậy. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Thượng hoàng tìm khắp các cung từ giờ Thìn đến giờ Tỵ mà không thấy vua đâu. Khi biết vua say rượu đến mức ngủ mê man, Thượng hoàng vô cùng tức giận, lập tức quay về Thiên Trường và ra lệnh ngày hôm sau toàn bộ quan lại phải đến phủ điểm danh, ai không tuân sẽ bị xử phạt.
Đến giờ Mùi, vua Anh Tông mới tỉnh và vô cùng hoảng hốt trước tình thế. Không thấy người thân cận nào ở bên, vua đi thẳng ra bờ sông Nhị để trấn tĩnh và tình cờ ghé vào chùa Tư Phúc, nơi Đoàn Nhữ Hài đang ngồi đọc sách. Ông đã soạn một tờ biểu giúp vua Anh Tông để tạ tội với Thượng hoàng. Nhà vua lập tức cùng ông xuống thuyền đi ngay trong đêm đến Thiên Trường.
Rạng sáng hôm sau, đến nơi vua sai Đoàn Nhữ Hài vào dâng biểu. Thượng hoàng lúc này vẫn chưa nguôi giận, cố tình không đoái hoài và để mặc ông quỳ ngoài cửa điện. Buổi chiều, trời bỗng nổi giông gió, mưa lớn, nhưng ông vẫn giữ nguyên tư thế quỳ mà không động đậy. Thượng hoàng thấy vậy mới sai người nhận tờ biểu vào. Đọc xong, Thượng hoàng khen lời biểu viết hay, trách vua Anh Tông nghiêm khắc rồi cho phép nhà vua vào tạ lỗi và tha tội.
Khi trở về kinh, vua Anh Tông lập tức phong Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử trung tán chuyên can gián và kiểm soát việc làm của vua. Lúc bấy giờ, ông chưa đến 20 tuổi chưa đỗ đạt, cũng không phải người trong hoàng tộc. Việc được giao trọng trách quan trọng như vậy khiến nhiều người bàn tán, nhưng Đoàn Nhữ Hài đã chứng minh năng lực của mình và hoàn thành nhiệm vụ một cách xứng đáng.
Đi sứ và chinh phạt Chiêm Thành
Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rằng: trước thời Đoàn Nhữ Hài, sứ thần Đại Việt khi sang Chiêm Thành đều phải lạy chúa Chiêm trước rồi mới mở chiếu thư. Khi được cử đi sứ, Nhữ Hài đã thay đổi hoàn toàn lệ cũ. Ông đặt chiếu thư lên án và nói với chúa Chiêm:
“Từ khi sứ thần của thiên triều mang chiếu thư của thiên tử đến, xa cách uy sáng đã lâu, nay mở chiếu thư chẳng khác nào thấy mặt thiên tử. Tôi phải lạy chiếu thư trước rồi mới đọc sau.” Rồi ông hướng vào chiếu thư mà lạy. Chúa Chiêm buộc phải lạy theo. Hành động này khiến Chiêm Thành không thể trách cứ, vì xét theo lễ là hoàn toàn hợp lý, mà quốc thể Đại Việt vẫn được giữ vững.
Hôm sau, Đoàn Nhữ Hài treo bảng cấm buôn bán tại Tỳ Ni (một thương cảng lớn của Chiêm Thành). Ông còn dặn quan giữ cảng rằng khi sứ bộ rời đi có thể dỡ bảng xuống ngay. Với ông, Chiêm Thành tuy thần phục nhưng lòng vẫn chưa thuận; vì vậy, ông chủ động nói trước để không mất thế ngoại giao. Từ lần đi sứ ấy, lệ sứ thần Đại Việt không phải lạy chúa Chiêm được bắt đầu từ Đoàn Nhữ Hài.
Nhờ tài ngoại giao xuất sắc, khi trở về ông được vua Anh Tông khen ngợi và giao trọng trách lớn. Tháng 12 năm Giáp Thìn (1304), ông tiếp tục được thăng chức, bổ nhiệm làm Tri khu mật viện sự. Điều này thể hiện sự tín nhiệm đặc biệt của nhà vua. Năm 1307, ông còn được giao đi phủ dụ hai châu Ô, Lý vừa nhập vào Đại Việt và đổi tên thành Thuận – Hóa.Chinh phạt
Trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành năm Tân Hợi (1311), Đoàn Nhữ Hài tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng, góp phần giúp Đại Việt giành thắng lợi mà gần như không phải tổn thất binh lực.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, trước đó Chế Chí đã sai trại chủ Câu Chiêm sang cống. Vua Anh Tông bí mật sai Đoàn Nhữ Hài hẹn trước với người này. Khi quân Đại Việt tiến đến, vua chia quân làm ba đường: Trần Quốc Chẩn theo đường núi, Trần Khánh Dư đi đường biển, còn vua chỉ huy đạo chủ lực theo đường bộ; Đoàn Nhữ Hài được cử làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước.
Khi đến Câu Chiêm, Nhữ Hài sai người báo với Chế Chí, khuyên ông ta đầu hàng để tránh tổn thất. Chế Chí nghe theo, dẫn gia quyến xuống thuyền ra hàng. Nhưng Trần Khánh Dư lại định truy bắt để giành công, khiến Nhữ Hài phải lập tức tấu lên. Vua nổi giận, sai chặt chân giám quân của Khánh Dư để răn. Sau đó Khánh Dư phải xin lỗi, vua mới nguôi.
Trong khi vua tổ chức quân tuần tra, quân Chiêm định tập kích ngự doanh, nhưng quân Trần Quốc Chẩn kịp đến hợp lực, khiến đối phương tan vỡ. Cuộc chiến kết thúc nhanh chóng, không mất một mũi tên, và công lao lớn thuộc về chiến lược chiêu dụ và làm tan rã lực lượng Chiêm Thành của Đoàn Nhữ Hài.
Tử trận
Năm Ất Hợi (1335), dưới triều Trần Hiến Tông, biên giới phía Tây Đại Việt liên tục bị Ai Lao quấy nhiễu. Quân Ai Lao thậm chí đã xâm phạm ấp Nam Nhung thuộc Nghệ An. Thời điểm ấy, Đoàn Nhữ Hài đang giữ chức Kinh lược Địa sứ Nghệ An, chỉ huy quân Thần Vũ và Thần Sách, nên được giao nhiệm vụ làm đốc tướng khi Thượng hoàng Trần Minh Tông quyết định thân chinh đánh dẹp.
Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: trước đó, Minh Tông từng định tự dẫn quân đi đánh Ai Lao nhưng phải hủy bỏ. Đến năm 1335, dù bị đau mắt, ông vẫn quyết xuất quân, bác bỏ đề nghị hoãn binh và nói:“Năm ngoái định thân chinh mà không đi được; năm nay lại vì đau mắt mà hoãn, thiên hạ sẽ cho ta là nhát. Nếu giặc phương Bắc xâm lấn thì biết trông cậy vào đâu?”
Thờ tự
Tuy nhiên, Đoàn Nhữ Hài vốn xuất thân từ văn quan không có kinh nghiệm trận mạc dày dặn như các võ tướng. Do đó, ông đã đánh giá sai thực lực của đối phương. Nhữ Hài tin rằng quân Ai Lao trấn giữ Nam Nhung “ít và yếu, đánh tất thắng”. Thậm chí, ông còn dự tính sau khi thắng trận sẽ bắt sống tù binh, theo dòng sông La xuôi về đồng bằng để phô trương thanh thế Đại Việt.
Trên thực tế, cục diện chiến trường hoàn toàn vượt ngoài dự tính. Ngày giao chiến, mây mù dày đặc, quân Ai Lao bố trí voi ngựa phục kích ở hai mặt. Quân Đại Việt rơi vào thế giáp công, nhanh chóng vỡ trận. Đoàn Nhữ Hài bị dồn vào sông và chết đuối. Thượng hoàng Minh Tông khi nghe tin đã nhận xét về cái chết của ông: “Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!”
Sau trận thua này, triều Trần phải xem lại toàn bộ chiến lược đối phó với Ai Lao, và thất bại của Đoàn Nhữ Hài trở thành một trong những bài học lớn về việc đánh giá chủ quan trong quân sự.
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Doan Nhu Hai (1280–1335)
Background and Career
Doan Nhu Hai, courtesy name Thuan Than, was born in Hoi Xuyen village, Truong Tan district, Hong Chau province (present-day Gia Loc district, Hai Duong). He served under three Tran emperors: Tran Anh Tong, Tran Minh Tong, and Tran Hien Tong. Throughout his career, he was recognized as intelligent, talented in both diplomacy and domestic administration. He held key positions such as Imperial Inspector (Ngu Su Trung Tan), Minister of Governance (Tham Tri Chinh Su), Deputy Commander (Hanh Khien), Imperial Envoy (Thien Tu Chieu Du Su), and Military Governor of Nghe An (Kinh Luc Nghe An). He died in 1335 during the campaign against Ai Lao.
Official Career
In his youth, Doan Nhu Hai studied in Thang Long and stayed at Tu Phuc Pagoda. He attempted the Imperial Academy examination (Thai Hoc Sinh) but did not pass.
His pivotal encounter with Emperor Tran Anh Tong occurred in May of the Ky Hoi year (1299). One day, the Retired Emperor Tran Nhan Tong returned from Thien Truong palace to the capital to inspect his son’s affairs. At that moment, Emperor Anh Tong was intoxicated with his officials and asleep. According to Dai Viet Su Ky Toan Thu, the Retired Emperor searched from the hour of Thin to Ty but could not find the emperor. Discovering his son in a drunken stupor, he was furious and returned to Thien Truong, ordering all officials to report the next day.
By the hour of Mui, Emperor Anh Tong awoke in panic. Finding no attendants nearby, he went to the Nhi River to compose himself and accidentally visited Tu Phuc Pagoda, where Doan Nhu Hai was reading. Nhu Hai drafted a memorial to help the emperor apologize to the Retired Emperor. That night, the emperor and Nhu Hai took a boat to Thien Truong. At dawn, Nhu Hai presented the memorial. The Retired Emperor initially ignored him, leaving him kneeling outside the palace. Even as a storm arose in the afternoon, Nhu Hai remained kneeling. Seeing his steadfastness, the Retired Emperor accepted and read the memorial, praising it and allowing the emperor to apologize and be pardoned.
Upon returning to the capital, Emperor Anh Tong immediately appointed Doan Nhu Hai as Imperial Inspector (Ngu Su Trung Tan), responsible for monitoring and advising the emperor. At the time, he was not yet 20, untested in examinations, and not of royal blood. Despite initial skepticism, Nhu Hai proved his capability and executed his duties effectively.
Diplomatic Missions and Cham Campaign
Diplomatic Mission
Prior to Nhu Hai, Vietnamese envoys to Champa had to bow to the Cham king before reading imperial edicts. Nhu Hai changed this custom by placing the edict first, stating:
“Since the emperor’s envoy brings the emperor’s edict, distant in authority and majesty, opening the edict is like seeing the emperor’s face. I must bow to the edict first before reading it.”
He then bowed to the edict itself. The Cham king had to follow suit. This action preserved both proper etiquette and Đại Việt’s national dignity.
The next day, Nhu Hai posted a trade ban at Ty Ni, a major Cham port, instructing port officials to remove it upon the envoys’ departure. His foresight ensured diplomacy remained balanced: although Champa was submissive, their loyalty was not yet certain. After this mission, Vietnamese envoys no longer needed to bow to the Cham king, beginning with Nhu Hai.
For his outstanding diplomacy, Emperor Anh Tong praised him and assigned him important duties. In December of Giap Thin year (1304), he was promoted to Tri Khu Mat Vien Su, reflecting special imperial trust. In 1307, he was sent to integrate Ô and Ly prefectures into Đại Việt, renaming them Thuan–Hoa.
Cham Campaign
During the 1311 campaign against Champa (Tan Hoi year), Nhu Hai played a crucial role in securing victory with minimal casualties. According to Dai Viet Su Ky Toan Thu, the Cham king Che Chi initially sent a local chief to pay tribute. Nhu Hai secretly coordinated with him. When Đại Việt forces advanced, the emperor divided troops into three: Tran Quoc Chan by mountain route, Tran Khanh Du by sea, and the main army by land; Nhu Hai led as the imperial envoy ahead.
At Cau Chiêm, Nhu Hai advised Che Chi to surrender, which he did. However, Tran Khanh Du attempted to capture him to claim credit, forcing Nhu Hai to report this to the emperor. The emperor, enraged, punished Tran Khanh Du’s officer, who then apologized. Meanwhile, a Cham ambush failed due to Tran Quoc Chan’s timely reinforcement. The battle ended quickly without any arrows fired, largely due to Nhu Hai’s strategy of persuasion and dismantling enemy forces.
Death in Battle
In 1335 (At Hoi year), under Emperor Tran Hien Tong, the western border faced repeated Ai Lao incursions, even invading Nam Nhung commune, Nghe An. Nhu Hai, serving as Military Governor of Nghe An, commanded Thần Vu and Thần Sách troops. Despite eye problems, he insisted on leading the army personally, rejecting delays:
“Last year I intended to lead personally but could not; this year, delaying due to eye pain will make the world see me as cowardly. If northern invaders attack, who can they rely on?”
However, as a civil official lacking extensive battlefield experience, he underestimated the enemy. Believing Ai Lao forces at Nam Nhung were few and weak, he expected easy victory and even planned to parade captured prisoners along the La River. On the battlefield, dense fog and Ai Lao’s elephant and cavalry ambush trapped Đại Việt troops, leading to total defeat. Doan Nhu Hai was driven into the river and drowned. Retired Emperor Minh Tong remarked on his death:
“Thus we see that human desires cannot exceed limits!”
Following this defeat, the Tran court reassessed strategies against Ai Lao, and Nhu Hai’s loss became a major lesson in military prudence and realistic evaluation.
References
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp
Doan Nhu Hai (1280–1335)
Origine et carrière
Doan Nhu Hai, de nom de courtoisie Thuan Than, était originaire du village de Hoi Xuyen, district de Truong Tan, province de Hong Chau (aujourd’hui district de Gia Loc, Hai Duong). Il servit sous trois empereurs : Tran Anh Tong, Tran Minh Tong et Tran Hien Tong. Tout au long de sa carrière, il fut reconnu pour son intelligence, ses compétences tant en diplomatie qu’en administration intérieure. Il occupa de nombreux postes importants tels que Ngu Su Trung Tan (Inspecteur impérial), Tham Tri Chinh Su (Conseiller principal), Hanh Khien, envoyé impérial (Thien Tu Chieu Du Su) et gouverneur militaire de Nghe An (Kinh Luc Nghe An). Il mourut en 1335 lors de la campagne militaire contre Ai Lao.
Parcours administratif
Jeune, Doan Nhu Hai étudia à Thang Long et résida au temple Tu Phuc. Il participa à l’examen impérial (Thai Hoc Sinh) mais échoua.
Sa rencontre avec l’empereur Tran Anh Tong en mai de l’année Ky Hoi (1299) marqua un tournant. Le roi avait été trouvé ivre par le précédent empereur Tran Nhan Tong et l’incident provoqua la colère du Thượng Hoàng. Nhu Hai rédigea une pétition pour apaiser la situation et accompagna le roi pour présenter les excuses au Thượng Hoàng, faisant preuve d’une grande sagesse et sang-froid. Suite à cela, malgré son jeune âge (moins de 20 ans), il fut nommé Ngu Su Trung Tan, chargé de conseiller le roi et de superviser ses actions.
Diplomatie et campagnes contre Chiêm Thành
Mission diplomatique
Avant Doan Nhu Hai, les envoyés vietnamiens devaient s’incliner devant le roi de Chiêm avant d’ouvrir la lettre impériale. Lors de sa mission, Nhu Hai inversa la procédure : il s’inclina devant la lettre impériale au nom du roi, obligeant le roi de Chiêm à faire de même. Cette innovation préserva la dignité nationale tout en respectant les usages diplomatiques. Il installa également un panneau interdisant le commerce dans le port de Ty Ni, tout en autorisant son retrait après le départ de la mission, démontrant sa prudence stratégique. À son retour, le roi le loua et lui confia des responsabilités plus importantes.
Campagne militaire
Lors de l’invasion de Chiêm Thành en 1311 (année Tan Hoi), Doan Nhu Hai joua un rôle crucial en tant qu’envoyé impérial avant l’armée, favorisant la reddition de Chế Chí et contribuant à une victoire rapide avec des pertes minimales pour Đại Việt.
Mort au combat
En 1335 (année At Hoi), sous le règne de Tran Hien Tong, la frontière ouest de Đại Việt fut menacée par Ai Lao. Doan Nhu Hai, gouverneur militaire de Nghe An, fut nommé commandant en chef malgré son expérience limitée du combat. Confiant en la faiblesse supposée de l’ennemi, il sous-estima la force d’Ai Lao. Lors de la bataille, son armée fut surprise par des éléphants et cavaliers embusqués, et Nhu Hai se noya dans la rivière. Le Thượng Hoàng Minh Tong commenta sa mort : « Ainsi on comprend que les désirs humains ne peuvent dépasser certaines limites. » Cette tragédie devint une leçon sur les risques d’une évaluation subjective en stratégie militaire.
Culte et mémoire
Doan Nhu Hai est commémoré pour sa loyauté, sa diplomatie et son sacrifice pour le pays, bien que sa mort ait mis en évidence les dangers liés à l’inexpérience militaire.
Références
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Trung
段如海(Doan Nhu Hai)(1280–1335)
身世与仕途
段如海,字顺神(Thuan Than),海阳(Hai Duong)嘉禄(Gia Loc)县长新(Truong Tan)乡会川(Hoi Xuyen)村人。先后侍奉陈英宗(Tran Anh Tong)、陈明宗(Tran Minh Tong)与陈献宗(Tran Hien Tong)。他才智出众,兼具外交与国内治理能力,历任御史中赞(Ngu Su Trung Tan)、参知政事(Tham Tri Chinh Su)、行遣(Hanh Kien)、天子招诱使(Thien Tu Trieu Du Su)及经略乂安(Kinh Luoc Nghe An)等要职。1335年,在征讨爱老(Ai Lao)战争中牺牲。
仕途
少时,段如海入升龙(Thang Long)求学,住于资福寺(Tu Phuc)。曾参加太学生科试,但未中。
命运转折出现在1299年己亥年五月,当时段如海偶遇陈英宗。一天,太上皇陈仁宗(Tran Nhan Tong)自天长府(Thien Truong)返都察看儿子事务,而英宗正与近臣饮枣骨酒(ruou xuong bo),酩酊入睡未醒。史书记载,太上皇从辰时至巳时遍查宫中仍未见皇帝,怒而命次日群臣到府点名,违者惩处。
至未时,英宗醒来,惊惶无措,独自至二江(Nhi)边镇静,偶入资福寺,见段如海读书。段如海代皇帝起草表章向太上皇谢罪,英宗连夜与其同舟赴天长府。
翌日黎明,英宗命段如海进献表章。太上皇仍未息怒,命其跪于门外。下午骤雨大风,段如海仍坚持跪立不动,太上皇方令接纳表章,赞其文辞得当,责英宗后准入朝谢罪。
归都后,英宗任段如海为御史中赞,专责规谏及监督皇帝。时年未满二十,非宗室出身,却担重任,引人议论,但段如海以才干完成职务,表现卓越。
出使与征讨占城
史书记载,以往越使赴占城,必先拜占城王再启信。段如海出使时彻底改变此俗,他将启信置于前,言:“自天子使臣持天子之书至,久未见天子之威,今开信,犹见天子面。我应先拜信而后读。”遂向启信拜礼,占城王亦随之行礼,既合礼仪,又维护大越国体。
次日,他在占城大港枳泥(Ty Ni)设禁贸牌,叮囑守港官,遣使离后可撤牌。此举显示外交智慧,使越国使节不必再向占城王行礼。
归国后,英宗嘉奖,并授重任。1304年(甲辰十二月)升任知枢密院事(Tri Khu Mat Vien Su),显示皇帝特别信任。1307年,负责安抚并改名原属越南之乌、李二州为顺化(Thuan-Hoa)。
征讨
1311年(辛亥)征讨占城,段如海再次发挥关键作用,使大越胜利且几无损失。史书记载,制治(Che Chi)遣营主告献,英宗密令段如海先约。大军到达时,皇帝分三路:陈国沾(Tran Quoc Chan)由山路,陈庆馀(Tran Khanh Du)由海路,皇帝率主力步行;段如海为天子招诱使先行。
到达枳营(Cau Chiem),段如海劝制治降以免损失,制治遵令率家眷登舟投降。陈庆馀意图抢功,段如海奏请,皇帝大怒,斩庆馀监军一足以警戒。随后,庆馀道歉,皇帝方息怒。
战事期间,皇帝巡军时,占城拟袭御营,陈国沾及时增援,敌军溃散。全战几无箭损,段如海策动分化占城力量功不可没。
战死
1335年(乙亥),陈献宗时期,大越西部边境受爱老骚扰,甚至入侵乂安(Nghe An)南农(Nam Nhung)。段如海任经略乂安,统帅神武、神策军,奉太上皇陈明宗命出征。
史书记载,明宗曾欲亲征而作罢。段如海患目疾,却仍坚持出兵,拒绝延期,并言:“去年拟亲征未行,今年因目疾而迟,天下必视我怯。若北夷入侵,谁可依赖?”
段如海虽才干过人,但出身文臣,缺乏实战经验,高估敌力。误判以为爱老守南农兵力少,必胜,甚至计划俘虏俘虏沿La江示威大越。
实际战场形势完全超出预期。开战日,浓雾弥漫,爱老布置象马伏兵两面,越军陷入合击,很快溃败,段如海被逼入江中溺亡。太上皇明宗闻讯感叹:“方知人欲不可过极也!”
此役失败后,陈朝须重新检讨对爱老策略,段如海战死成为军事判断失误的重要教训。
参考
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.