Giáp Hải (1517 – 1586)

Giáp Hải (1517 – 1586)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Tương truyền, ở thế kỷ XVI, tại làng Công Luận, huyện Văn Giang (Hưng Yên) có người đàn bà bán nước ven đường. Một hôm có hành khách người Tàu dừng chân uống nước. Nghỉ ngơi xong, ông ta vội vã đứng dậy lên đường, khi đi bỏ quên lại túi bạc. Bà chủ quán nhặt được đem cất đi. Hơn nửa tháng sau, người khách này quay lại hỏi. Bà thành thật đem ra trả, khách kiểm tra thấy không thiếu một nén lấy làm cảm động lắm, xin cảm tạ biếu một nửa nhưng bà nhất định từ chối. Trước sau, bà chỉ đáp:

– Nếu tôi là người tham lam thì cả túi bạc sao không lấy, chỉ nhận lấy một nửa làm gì! Tôi chỉ vì không bao giờ sử dụng những đồng tiền không phải do mồ hôi nước mắt mình làm ra, nên mới nghèo như thế này. Dù nghèo nhưng lòng yên tịnh, thanh thản vậy còn mong gì hơn?

Biết bà là người có đức, trọng nghĩa khinh tài nên người khách mới thú thật:

– Tôi vốn là thầy địa lý bên Tàu nhân đi công cán sang đây, không ngờ nước Nam lại có những người tốt bụng như bà. Vậy bà cho biết mộ tiền nhân của bà ở đâu, chỉ cho tôi xem, may ra tôi có giúp được gì không? Chứ nghèo mãi như thế này cũng khổ.

Bà hàng nước nghe vậy chỉ cười:

– Tôi nghèo thật nhưng nào lấy đó làm khổ. Mở hàng nước nào mong kiếm lợi, chỉ mong giúp cho khách bộ hành đường xa lỡ bước mà thôi.

Ông thầy địa lý ngắt lời:

– Tôi vẫn biết thế. Nhưng có chỗ đất tốt há chẳng yên ấm cho người chín suối sao? Vã lại, tôi thấy bà là người cao nghĩa nên muốn trả nghĩa xin bà chớ từ.

Thân thế và cuộc đời

Không rõ có phải do phong thủy đất đai hay không, nhưng con trai của bà hàng nước là Giáp Hải – ngay từ nhỏ đã tỏ ra thông minh, khôi ngô tuấn tú. Một hôm cậu đi chơi ở bến sông, rồi bị lạc. Có người lái buôn quê ở làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn (nay thuộc thôn Dĩnh Trì, huyện Lạng Giang – Bắc Giang) đem xuống thuyền làm con nuôi, quý như vàng, rước thầy về nhà dạy dỗ. Càng lớn, Giáp Hải học càng giỏi và cứ tưởng vợ chồng lái buôn là cha mẹ ruột của mình. Năm 23 tuổi lai kinh ứng thí khoa Mậu Tuất (1538) dưới triều Mạc Đăng Doanh – Giáp Hải đã đậu Tiến sĩ.

Gia đình người lái buôn do không có con nên nghe tin này càng mừng rỡ hơn nữa. Trước khi quan trạng vinh quy về làng, quan sở tại bắt dân cả làng bỏ mọi công việc, phu phen phục dịch chuẩn bị đón rước biết bao điều khó nhọc. Không ngờ, trong đám dân phu, có nguời biết chuyện cũ nên xì xào lén lút với nhau:

– Không biết chú lái kia vớ được con nhà ai đem về nhận bừa làm con mà bây giờ làm khổ dân làng ta thế này?

Giáp Hải thoáng nghe lời ca thán ấy nên đâm ra nghi ngờ, nhưng không biết hư thực ra sao. Sau khi vinh quy xong rồi, ông để tâm dò xét xem có thật mình là con trai của gia đình lái buôn này không? Một hôm, nghe lời mách bảo của dân trong làng, ông tìm đến nhà cụ huấn đạo họ Phan đã ngoài 80 xuân. Cụ Phan xác nhận đúng câu chuyện đã xẩy ra ba mươi năm trước rồi ngậm ngùi bảo:

– Bấm đốt ngón tay, cụ nhà của quan trạng nay cũng gần 70 xuân rồi.

Từ đó, Giáp Hải càng cố công dò hỏi, gặp cụ già hàng nước nào cũng lân la trò chuyện. Một hôm ông có việc đi qua làng Công Luận, thấy bên đường có một quán nước, ông liền cho lính dừng chân. Thấy cụ chủ quán đã già và ông lân la hỏi chuyện thì cụ lau nước mắt kể:

– Tôi nay 68 tuổi trời, lấy chồng là người trong làng, chẳng may mất sớm. Có mỗi một đứa con trai, năm nó lên hai, một hôm tôi đi vắng cháu ra bến chơi rồi lạc mất. Sau nghe có người kể có một người lái buôn bế nó xuống thuyền đi mất. Từ đó đến nay không rõ tông tích nữa.

Nghe nói vậy, Giáp Hải hỏi gặng thêm:

– Thưa cụ, cụ có nhớ đứa bé có vết tích gì trên người không?

– À! Trên lưng nó có vết đỏ như hai đồng tiền. Còn vai trái, vai phải đều có hai nốt ruồi. Tôi chỉ nhớ có thế thôi.

Nghe đến đấy, ông biết chắc đây là mẹ ruột, không giữ được điềm tĩnh nữa, ông òa lên khóc rồi cởi áo cho bà cụ xem, quả đúng như bà cụ nói. Chứng cớ đã rõ, hai mẹ con cảm động ôm nhau khóc mừng mừng tủi tủi. Từ đó, ông rước mẹ đem về nuôi rất chu đáo. Ai cũng khen là người con chí hiếu.

Ra làm quan, Giáp Hải cương trực, thanh liêm và do văn chương mà thi đậu, chứ không phải do mua quan bán tước nên ai cũng tôn trọng. Ông nhiều lần được cử đi sứ sang nhà Minh và biên soạn quyển Bang giao tập. Với tài ứng đáp tinh nhanh, biện luận giỏi nên nhà Minh phải kiêng nể, chỉ gọi Tuyên phủ chứ không gọi tên. Năm 1540, lợi dụng tình hình nước ta đang rối ren, vua nhà Minh sai Mao Bá Ôn sang dò xét để vạch kế hoạch xâm lược. Khi đến ải Nam Quan, y kiêu ngạo viết bài thơ có tựa là Bèo (bản dịch cũ):

Mọc theo ruộng nước nhỏ như kim,
Rễ bám nơi nào cũng chẳng thâm.
Nào có cần miêu nào có lá,
Dám sinh chi tiết, dám sinh tâm.
Tụ rồi đã chắc không khi tán,
Nổi đó nào hay có lúc chìm.
Đến độ trời chiều phong khí lạnh,
Quét về hồ biển hẳn khôn tìm.

Vua Mạc Phúc Hải đưa cho Giáp Hải họa lại. Biết thâm ý của “thiên triều” nên ông hạ bút:

Mau ken vầy gấm khó luồn kim,
Cành rễ liền nhau mọc rất thâm.
Tranh với bóng mây trên thủy diện,
Há dung vầng nhật lọt ba tâm.
Nghìn trùng sóng đánh thường không vỡ,
Muôn trận phong suy cũng chẳng chìm.
Nào cá nào rồng trong đó ẩn,
Cần câu Lã Vọng biết đâu tìm!

Nhận được bài thơ họa, Mao Bá Ôn tuy giận run người nhưng cũng khâm phục tài năng và khí phách người nước Nam. Chỉ tiếc, Mạc Đăng Dung – lúc đó với cương vị Thái thượng hoàng khiếp sợ uy lực nhà Minh nên để Mạc Phúc Hải ở lại giữ ngôi báu, còn mình và bọn Vũ Như Quế cả thẩy hơn 40 người, tự trói mình ra hàng, sang chịu tội ở ải Nam Quan. Chưa hết, Mạc Đăng Dung cúi mặt lạy chúng xin dâng đất 5 động và đất Khâm Châu để cầu hòa!

Dưới đời Mạc Mậu Hợp, Giáp Hải làm Thượng thư bộ Lại kiêm Đông ngự sử, tước Luân quận công. Với một tấm lòng canh cánh lo cho dân, cho nước nên Giáp Hải không thể nhắm mắt trước nhân tình thế thái. Đó là giai đoạn bi đát của lịch sử: “Cuộc xung đột của các phe phái phong kiến đã đưa đến hậu quả vô cùng tai hại: đất nước bị chia làm hai miền. Chính quyền họ Mạc thống trị vùng Bắc Bộ ngày nay, gọi là Bắc triều và họ Trịnh nắm quyền từ Thanh Hóa trở vào, gọi là Nam triều. Một cuộc nội chiến ác liệt kéo dài trên nửa thế kỷ đã diễn ra giữa hai tập đoàn phong kiến thù địch đó. Nạn nhân trực tiếp của cuộc chém giết ấy là nhân dân. Các tập đoàn cát cứ đã không từ một thủ đoạn gì để vơ vét nhân lực, vật lực của dân, phục vụ cho cuộc tranh chấp”. Theo quan niệm của người Á Đông xưa, khi sao chổi xuất hiện thì không phải là điềm lành. Chứng kiến điều này, Giáp Hải đã dâng bài sớ mong nhà Mạc cải cách đường lối, chính sách cai trị để hợp lòng dân. Sau khi phê phán việc dâng lễ phụng thờ xã tắc, tổ tiên cẩu thả không kính cẩn. Ông viết tiếp:

– “Mạnh Tử có nói: “Vua có nhân thì không ai là không có nhân”. Nay những người bên cạnh bệ hạ quen thói nịnh hót, dỗ dành chơi bời để cầu hợp ý bệ hạ. Cung cấm là chỗ rất nghiêm mà nay ra vào không cấm; tuyên bố mệnh lệnh và thu nạp lời can là việc rất cẩn thận mà nay không ai đoái hoài đến. Ấy là hai điều đáng sợ.

Mạnh Tử có nói: “Trên dưới tranh lợi lẫn nhau thì nước phải nguy”. Nay quan trên quan dưới, người không dâng lợi mười phần chỉ được hai ba, còn ngoài ra đều đắm đuối về lợi, nào nhũng lạm quan tước, nào chiếm đoạt ruộng đất, các quan phiên trấn sách nhiễu và mua rẻ của dân, không việc bậy nào là không làm. Ấy là ba điều đáng sợ.

Tả truyện có nói: “Nước hỏng bởi quan lại gian tà”. Nay xem quan lại trong ngoài, kể là chính đáng thì mười người chỉ được độ hai, ba, còn đều là gian tà cả; khi có sắc chỉ truyền việc gì thì quan lại dựa vào đó để sách nhiễu dân; khi dân có kiện cáo to nhỏ thì đòi tiền đút lót, không biết đi đến đâu là cùng. Ấy là bốn điều đáng sợ.

Dương sử có chép: “Nước nương tựa vào dân”. Nay công việc tư đều bị sách nhiễu khổ sở, dân khó lòng sống được, vậy thì nước nương tựa vào ai? Ấy là năm điều đáng sợ”. Qua bản điều trần này, chúng ta thấy điều đáng quý ở Giáp Hải là dù hưởng bổng lộc nhà Mạc, nhưng tấm lòng ông luôn hướng về dân, mong triều đình cải tổ trước hết vẫn là vì dân. Ngoài ra, ông còn viết lời cảnh báo dũng cảm: “Xin bệ hạ tự răn; thay đổi chính sự thối nát. Khi lòng dân đã hòa thì ý trời cũng thuận. Nếu bệ hạ chỉ say đắm hưởng thụ, không chịu răn chừa, sửa chửa sửa đổi thì sẽ có ngày đến nguy vong, không sao giữ được”. Thế nhưng, Mạc Mậu Hợp không nghe theo. Do đó, dù có thăng cho ông lên chức Thiếu bảo nhưng ông vẫn cố từ chối. Năm sau, lại sai ông giữ việc sáu bộ kiêm chức Đại học sĩ Đông các và gia phong tước Sách quận công. Biết vua Mạc mê muội không nghe lời khuyên răn, nhưng ông vẫn bền lòng. Khi gặp chuyện nhiễu nhương trong chính sự, ông lại dâng sớ lần hai:

– “Trời tạo ra thiên tai không phải là vô cớ, chính ở người mà ra. Nay giặc cướp chưa yên, binh dịch liên miên, lính tráng nay tha mai bắt, quanh năm không ngày nào ngớt; sưu thuế thêm từng đầu, thu từng thúng, mảy lông cũng vét sạch hết trơn.

Từ năm 1571 đến nay, trong khoảng 9 năm đi đánh dẹp cũng truy dân ấy; hầu trong cung điện cũng truy dân ấy; đội Thần vũ hiệu lực cũng truy dân ấy; đội Uy nổ thần ty cũng truy dân ấy; các vệ, sở, châu, huyện trưng thu cái gì cũng đến dân ấy. Ngoài ra còn lấy gấp mấy lần số trưng thu, làm cho khánh kiệt của cải, dân tình nheo nhóc cơ hồ không sống được”.

Kinh thi có câu: “Trời sáng suốt là bởi dân ta sáng suốt; trời tỏ ra đáng sợ là bởi dân ta đáng sợ”. Lòng dân ở chỗ nào còn thì ý trời ở chỗ ấy cũng còn. Nay việc người như thế, dân khốn khổ thì như thế, tai biến về gió bão là trời hiện điềm để răn bảo. Kinh dịch có câu: “Thấy sự chấn động biết sợ hãi, sẽ được nói cười tự nhiên”. Lời Tiểu tượng rằng: “Biết sợ hãi thì được phúc”. Nay bệ hạ muốn tai biến tiêu tan, mà không sợ hãi tu tỉnh thì làm thế nào cho được phúc?”. Những lời nghị luận xác đáng của ông nào khác gì bản cáo trạng dành cho tập đoàn phong kiến nhà Mạc! Ông kiến nghị: “Hãy tuyệt đường nịnh hót mong được yên; hãy đóng cửa tham lợi, dạy bảo các quan, chấn chỉnh những công việc còn dang dở, xuống sắc cho các triều thần bàn bạc thi hành mọi điều khoan dung cho dân; ban ra ân dụ để tha những dân vô tội bị bức hiếp, đặc biệt sai quan sở tại thăm nom giúp đỡ luôn. Có thế, ơn của trên ban xuống mới thấm đến kẻ dưới”. Có thể nói, qua bản điều trần của Giáp Hải, ta mới thấy hết được tấm lòng của ông đối với dân. Đó không phải là điều mà ông quan nào ngất ngưởng trên danh vọng cũng có được. Sau khi kiến nghị thay đổi trong chính sách cai trị, ông viết tiếp: “Lại xin bệ hạ tôn trọng gốc nước cố kết lòng dân, hậu đãi mà đừng làm khốn dân; giúp đỡ mà đừng hại dân; dè dặt chứ không dùng hết sức của dân, nhẹ bớt cho dân những việc phục dịch tức là chính sách của vương đạo đó”. Lần này, không rõ vua Mạc có nghe theo lời khuyên của Giáp Hải không. Trong tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Ích chỉ cho biết: “Mậu Hợp an ủi, vời ông vào kinh làm việc tại triều, gia thăng chức Thái bảo, tham dự việc triều chính”.

Chán nản với sức ì của bộ máy quan lại triều đình nhà Mạc, ông mấy lần xin về hưu, nhưng không được chấp thuận. Trong sớ dâng lên ông viết: “Biết là đủ thì không nhục”. Người xưa đã răn thế, tuổi già thì xin về, người hiền đời xưa vẫn làm thế. Thần tuổi đã già, tự nên rút lui, ý đã khăng khăng còn nói gì nữa” và dặn dò vua Mạc: “xin bệ hạ giữ đạo “trung”, mưu việc lớn, lấy việc kính trời làm chỗ dựa, lấy khiêm cung làm đầu, chăm đường chính học, thân bậc chính nhân, thực ý, ngay lòng, ngăn điều trái, bớt lòng dục, không gần tiếng hay sắc đẹp, không ham của cải, không say sưa rượu chè, không đắm đuối chỗ vui, ngăn kẻ nịnh hót, răn việc tà quấy; để cho chính hóa rộng khắp, dân yên nước thịnh, tiến tới trị bình. Thần dẫu yên nghĩ nơi ruộng vườn cũng được dự hưởng phúc thái bình”.

Những lời vàng ngọc ấy, vua Mạc đều bỏ ngoài tai. Do đó, sau khi Giáp Hải được về hưu, thì ông ta phải trả giá đắt bằng chính sinh mạng của mình. Quân nhà Trịnh tấn công, Mạc Mậu Hợp hoảng hốt bỏ chạy trốn, nhưng bị bắt giải về Đông Đô, bị treo sống ba ngày xong đem chém đầu ở bãi cát Bồ Đề!

Cuối đời

Khi chia tay với các bạn đồng triều để về hưu, Giáp Hải bấy giờ đã 71 xuân. Ông có để lại bài thơ, chỉ mong đất nước “Cảnh thái bình, thân cũng thái bình” và trong đó có hai câu mang nặng tâm sự của ông:

Nhân đức đã dày trong tờ sớ,
Từ lưu không hết chữ bái minh.

Ông được vua nhà Mạc ban cho lá cờ thêu và câu đối:

Trạng đầu, tể tướng, đẩu Nam tuấn,
Quốc lão, đế sư, thiên hạ tôn.

Nghĩa là: “Đậu trạng nguyên, làm tể tướng, danh cao như sao bắc đẩu trời Nam; đã quốc lão, lại đế sư, được cả nước tôn trọng”. Và câu:

Tư bút văn tôn danh lưỡng quốc,
Hoa triền thọ diệu huyễn tam thai.

Nghĩa là: “Văn chương tài giỏi tiếng vang hai nước; tuổi như sao thọ chiếu sáng hàng tam công”. Trong phần nhân vật chí của tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí, ở quyển “Người phò tá có công lao tài đức” chương nhà Mạc, nhà bác học Phan Huy Chú chỉ chép một nhân vật duy nhất là trạng nguyên Giáp Hải vì có “công danh rõ rệt”. Thiết nghĩ, công danh ấy có được cũng chính là một phần lớn từ những bài sớ mà ông dâng vua Mạc – xuất phát từ động cơ an dân và vì dân.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Giáp Hải

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)