Thân thế và cuộc đời
Tôi sang Pháp học từ năm 1918. Tuổi trẻ vốn nhiều ước mơ. Những ngày lênh đênh trên đại dương, trên chuyến tàu đi Pháp, trí tưởng tượng của tôi vẽ nên bao hình ảnh đẹp đẽ, cao thượng của nghề mình chọn. Tôi ao ước nắm được những kiến thức khoa học tiên tiến nhất để đem ra “cứu nhân độ thế”, đẩy lùi thần chết. Còn gì sung sướng và tự hào bằng một buổi sớm mai thấy lại sự sống trong đôi mắt đêm qua đã mở lại? Tôi đặt chân lên nước Pháp vào đúng lúc cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất vừa kết thúc, nước Pháp “thắng trận” đã kiệt quệ và ra sức vơ vét thuộc địa để bồi đắp những thất thiệt của mình. Ở Pháp lúc bấy giờ có không ít Việt Kiều: nhiều người bị Pháp bắt làm bia đỡ đạn và thợ không chuyên môn (O.N.S) trong chiến tranh vừa qua, sinh viên, học sinh, kiều dân đi kiếm ăn… mỗi người một cảnh, nhưng mỗi Việt Kiều đều chịu nỗi hận của người dân mất nước, sự khinh bỉ của bọn thực dân.
Những dòng hồi ký của bác sĩ Hồ Đắc Di đã kể lại rất sinh động về năm tháng tuổi trẻ. Ông thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc: bà nội là con gái Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, một nhà thơ nổi tiếng đất Thần kinh; cha là Lễ bộ thượng thư Hồ Đắc Trung; hai người anh ruột là thượng thư, cử nhân nho học Hồ Đắc Khải và tổng đốc, tiến sĩ luật khoa Hồ Đắc Điểm; hai người em trai là kỹ sư khoáng học Hồ Đắc Liên và tiến sĩ dược khoa Hồ Đắc Ân… Ít ai biết rằng, chính cha của bác sĩ Hồ Đắc Di, ông Hồ Đắc Trung là chánh án trong vụ xử bậc ái quốc Trần Cao Vân – Thái Phiên, sau vụ khỏi nghĩa thất bại năm 1916 cùng với vua Duy Tân. Thay vì phải tuyên án theo sự chỉ đạo, sắp đặt của thực dân Pháp thì ông đã dũng cảm làm ngược lại. Ông tuyên bố tha bổng vua Duy Tân với lập luận nhà vua vì tuổi còn trẻ nên bị quân “phiến loạn” lợi dụng: “Com nếp Hà Trung, cháo gà núi Ngự, nhà vua phải gió bụi dãi dầu đến thế đều tại bọn kia gây chuyện cả”; hơn nữa các anh hùng Thái Phiên, Trần Cao Vân cũng viết thư mật cho ông và nhận hết tội về mình… Nghĩa cử của ông đã được sĩ phu trong nước thán phục. Trong cuộc đòi làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm chính trực vì thế chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng có làm thơ tặng. Lúc ở tuổi 80 xuân xanh, ông có làm thơ tự vịnh gia đình mình:
Chồng vợ nay đã đặng tám mươi,
Mười con: bốn gái, sáu con trai.
Trai đầu khoa bảng quan nhì phẩm,
Gái thứ Cung Phi Đệ Nhất Giai.
Ba gái gả nơi sang quý cả,
Năm trai đều đậu đại khoa rồi.
Một nhà hiếu đạo đều đầy đủ,
Trung phần đây biết đố nhà ai?
Nhắc lại những chi tiết để thấy trường hợp đi theo cách mạng và kháng chiến của bác sĩ Hồ Đắc Di cũng là trường hợp khá tiêu biểu của trí thức Việt Nam khi đi theo. Chính từ sự lựa chọn này, bác sĩ Hồ Đắc Di đã có điều kiện để cống hiến nhiều nhất cho dân tộc, cho Tổ quốc. Ông sinh ngày 8.4 năm Canh Tý (tức tháng 5/1900) ở Huế, là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bác sĩ phẫu thuật và cũng là người Việt Nam duy nhất được công nhận học hàm Giáo sư Đại học thời thuộc Pháp. Sau năm 1945, ông được giao làm hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội cho đến ngày nghỉ hưu (1978).
Hiện nay, tại trường Y Hà Nội có giảng đường mang tên Hồ Đắc Di – nhằm ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc phụng sự y học cho Tổ quốc và tên tuổi đó còn có giá trị nhắc nhở các thế hệ sinh viên y khoa mai sau noi gương theo tinh thần của Hồ Đắc Di. Bác sĩ Hồ Đắc Di mất năm 1984 – nhưng trong tâm trí mọi người vẫn còn đó hình ảnh của một thầy thuốc có học vấn sâu rộng, có tâm hồn nhân hậu và cao đẹp. Một cuộc đời cống hiến tận tụy cho nền khoa học nước nhà của bác sĩ Hồ Đắc Di. Ông mất ngày 25/6/1984 tại Hà Nội. Ghi nhận công lao của ông, Nhà nước đã tặng ông Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học – Kỹ thuật.
Học tập tại Pháp và gặp gỡ Nguyễn Ái Quốc
… Trong những ngày ấy, một sự kiện đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tiềm thức của tôi. Hồi ấy tôi thường đến trụ sở của Hội Sinh viên Việt Nam ở số 15, phố Sommerard, khu Latinh (Paris). Một buổi sáng chủ nhật tôi đi chơi với một người bạn, anh Dương Văn Giáo, người Nam Bộ, lúc đó là luật sư tập sự. Chúng tôi cùng nhau đến Hội Sinh viên để giúp đỡ bạn bè. Trụ sở Hội có hai phòng: phòng ngoài để các loại sách, báo cho anh em đến xem, phòng trong có bàn ghế tiếp khách. Tôi nhìn vào phòng trong thấy có ba người đang ngồi nói chuyện: một người nhiều tuổi, có râu, một người béo lùn và một người trẻ tuổi người cao dong dỏng. Anh Dương Văn Giáo hỏi tôi: Có biết ba người kia là ai không ? Có, biết một. Người có râu là cụ Phan Châu Trinh.
Anh Giáo bảo tôi:
Người béo lùn là luật sư Phan Văn Trường, còn người gầy trẻ là ông Nguyễn Ái Quốc.
Nghe ba chữ Nguyễn Ái Quốc, tôi rất xúc động. Thì ra người mà mình vẫn hằng nghe tiếng, vẫn được bạn bè nói đến, người đã cất tiếng nói đanh thép đòi quyền lợi chính đáng của đất nước Việt Nam làm cho bất cứ người Việt Nam nào cũng cảm thấy tự hào ấy, đang ngồi trước mặt tôi kia. Thời ấy, một số anh em sinh viên chúng tôi tham gia bán báo Người cùng khổ và Việt Nam hồn cho thợ thuyền khu Latinh. Bấy giờ lính thợ Việt Nam ở Paris cũng nhiều, anh em rất quen biết hai tờ báo trên và tên ông Nguyễn ái Quốc.
Sau lần ấy, tôi còn được thấy ông Nguyễn Ái Quốc ở trụ sở Hội sinh viên một lần nữa. Ông thường đến đây gặp gỡ, trao đổi ý kiến với sinh viên ta và được mọi người quý mến. Lúc đó tôi chưa hiểu biết về cuộc cách mạng của ta, nhưng được thấy ông Nguyễn Ái Quốc và được biết những hoạt động của ông, tôi rất khâm phục. Học xong, tôi đỗ bác sĩ nội trú và làm việc một thời gian ở bệnh viện Tenon ở Paris. Sau hơn mười năm ở nước ngoài trở về nước, trong lòng chan chứa hy vọng đem tài năng ra giúp ích cho xã hội.
Những trăn trở của người thầy thuốc dưới chế độ thuộc địa
Nhưng về đến nước thì bao nhiêu hoài bão của tôi đã bị thực tế vùi dập. Trước đây, khi bước chân ra đi tôi cứ ngỡ những luật lệ hành nghề của ngành y và lời thề Hippocrate là những gì hết sức thiêng liêng, có sức mạnh chinh phục mọi tâm hồn trong mọi xã hội, và tạo điều kiện cho người thầy thuốc thực hiện những ước mơ nhân loại cao cả – thì nay trở về nước, tôi mới thấy rằng sự thực trái hẳn lại. Một cái gì đó bắt đầu dày vò lương tâm tôi, cuộc sống bên ngoài tưởng như bình thản, nhưng cuộc sống nội tâm thật là đau đớn.
Về nước tôi làm việc ở bệnh viện Huế, ở đây những ước mơ “cứu nhân độ thể”, “giúp ích xã hội” đã hoàn toàn tan vỡ. Cái xã hội đầy rẫy sự bất công. Những con bệnh chia làm nhiều loại. Người bệnh “hạ đẳng” bị coi khinh không bằng súc vật, nằm vạ vật, ngổn ngang không người coi sóc. Các thầy thuốc Pháp chẳng những khinh bỉ người Việt Nam mà còn coi chúng tôi, những thầy thuốc Việt Nam chẳng ra gì, chỉ là tay sai của họ. Riêng tôi là nhà phẫu thuật chuyên môn, nhưng người Pháp chỉ cho tôi làm bác sĩ tập sự; trong khi đó, những kẻ bất tài như Lemoine lại là bác sĩ trưởng, Normet là giám đốc y tế Trung Bộ. Tôi cảm thấy uất ức và tủi nhục. Có lần thấy tên Lemoine đã dốt mà còn hống hách, tôi vác ghế định đánh hắn. Vì việc xảy ra giữa tôi và Lemoine, tôi bị đổi vào Quy Nhơn. Lúc này tôi muốn trở lại Pháp để làm việc, nhưng thầy mẹ tôi không cho đi. Bệnh viện Tenon ở Pháp gọi, nhưng tôi xin kéo dài hạn nghỉ và không sang nữa. Ở Quy Nhơn, bác sĩ Leroy des Barres hỏi tôi, có muốn làm việc ở trường Y khoa Hà Nội thì hắn sẽ giúp, vì hắn là giám đốc trường ấy. Tôi đồng ý. Vừa ra đến Hà Nội, tôi gặp các ông Vũ Đình Tụng và Vũ Văn Lai, hai ông bảo tôi:
Anh ra đây làm gì? Tuy anh là nhà phẫu thuật chuyên môn, nhưng ra đây anh chẳng làm được gì đâu. Người ta chẳng cho anh làm phẫu thuật, mà chỉ cho anh gây mê là cùng.
Tôi lại thêm một lần nữa thất vọng. Học ngành Y, tôi vốn say mê phẫu thuật, tôi đã được đào tạo lâu năm về phẫu thuật nên khá vững nghề nghiệp, và mong được đem nó ra sử dụng. Có thể nói phẫu thuật đối với tôi lúc đó là lẽ sống, là niềm tự hào. Thế nhưng bọn Pháp ở đây có đếm xỉa gì đến cái điều tôi thiết tha đó. Lúc đó, một nỗi cay đắng đã làm tôi thấy rõ thêm một điều mà trước đây tôi mới chỉ mường tượng thấy chung quy chỉ tại mình là một người dân mất nước. Sau đó gặp Leroy des Barres, tôi bảo hắn: “Không cho tôi làm phẫu thuật thì tôi sẽ không làm việc”. Nó phải chiều theo ý tôi. Tôi vừa giảng dạy ở trường Y khoa, vừa làm bác sĩ phẫu thuật thường trực ở bệnh viện Phủ Doãn. Bắt tay vào việc, tôi càng thấy rõ bọn Pháp không coi người Việt Nam ra gì. Thậm chí ngay cả người Việt Nam cũng không tin là chúng có thể cho tôi làm phẫu thuật. Lần đầu được phụ trách một ca mổ, tôi nói với người y tá chuẩn bị dụng cụ mổ, anh ta hết sức ngạc nhiên và do dự vì không tin rằng người Việt Nam lại được phép mổ. Ở bệnh viện Phủ Doãn như ở cả Đông Dương, chỉ có hai người được mổ, đó là hai người Pháp: Leroy des và Cartoux.
Những ước mơ ban đầu của tôi như một lứa hoa gặp mưa bão thui chột dần đi. Nguyện vọng được đem tài năng giúp ích xã hội, cứu giúp người bệnh, làm thế nào có thể thực hiện được trong một xã hội như thế? Tư tưởng của tôi không có lối thoát, tôi cảm thấy mình bất lực. Là một thầy thuốc, tôi đã trở thành người bệnh: người bệnh về tâm hồn.
Những ước mơ được hồi sinh sau Cách mạng tháng Tám
Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, tôi ngỡ ngàng chưa biết rõ thời cuộc ra sao. Nhưng sau giờ phút ngỡ ngàng ban đầu ấy, tôi cảm thấy có điều gì nao nức trong lòng. Trên đất nước Việt Nam này, chưa bao giờ tôi thấy một nhịp sống sôi nổi như vậy. Cả Hà Nội và cả nước rực lên một màu sắc mới: màu cờ đỏ sao vàng. Và trên mặt mỗi người cũng rung lên một ánh sáng mới. Tôi cảm thấy có một cái gì lớn lao đang xảy ra trên đất nước. Cái điều lớn lao ấy, tôi đã hiểu rõ hơn khi nghe bản Tuyên ngôn Độc lập, và khi được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính là cụ Nguyễn Ái Quốc. Hình ảnh ông Nguyễn Ái Quốc ở Paris, 20 năm trước đây lại sống lại trong đầu tôi. Tôi nhận thức rằng từ đây, những ngày mình đang sống là những ngày rất có ý nghĩa…
Niềm vui lớn và khí thế cách mạng cả dân tộc đã dần dần thấm vào tôi. Chưa bao giờ tôi thấy nhịp sống, nhịp làm việc của mình khẩn trương như những ngày ấy. Tôi được Hồ Chủ tịch và Chính phủ giao cho rất nhiều việc. Tôi vừa làm giám đốc trường Đại học Y, vừa làm Tổng thanh tra Y tế và Giám đốc bệnh viện Đồn Thủy. Tôi bận việc suốt ngày và thấy mình sung sức hơn hẳn trước. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy mình được làm chủ: làm chủ con người mình và làm chủ đất nước mình, mặc dù tôi chưa thể hình dung được rõ tương lai của đất nước và bản thân mình sẽ ra sao.
Xây dựng nền giáo dục y khoa bằng tiếng Việt
Tôi hào hứng bắt tay vào việc tổ chức lại trường Đại học Y. Tôi mời các bác sĩ Tôn Thất Tùng, Đặng Vũ Hỷ, Nguyễn Xuân Nguyên… bàn việc giảng dạy. Thế là trường Đại học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã mở cửa. Ngay từ đầu, Chính phủ ta đã đề ra chủ trương giảng dạy bằng tiếng Việt. Đây là chủ trương có ý nghĩa quan trọng, nó chứng tỏ tính chất cách mạng, tinh thần độc lập của ta trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục. Nhưng đây cũng là công việc hết sức khó khăn đối với chúng tôi: vốn quen dùng tiếng Pháp để giảng dạy, nay đột nhiên phải chuyển từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Vốn thuật ngữ của ta lúc đó chưa có mấy, lại không thống nhất: cùng một khái niệm mà có người dùng từ này, người lại dùng từ khác. Dạy một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác, mà sử dụng cái vốn thuật ngữ như vậy quả là không đơn giản. Tài liệu giảng dạy phải dịch ra, phải biên soạn lại. Nhưng tôi và các bạn đều hăng hái lao vào công việc. Chúng tôi nhận thức rõ đây là công việc rất có ý nghĩa, cho nên dù có khó khăn, nhất định phải nghiên cứu để dần dần đi đến hoàn chỉnh.
Sau đó mười năm, năm 1955 khi hoà bình được lập lại, có một phái đoàn nước ngoài đến thăm nước ta, nghe nói chúng ta giảng dạy bằng tiếng Việt ở bậc Đại học, họ hết sức ngạc nhiên và tỏ vẻ không tin. Chúng tôi đã mời họ tới dự một buổi giảng dạy tại trường Đại học. Xem các giáo su ta giảng dạy bằng tiếng Việt, họ rất phục. Ý kiến của người bạn nước ngoài đó càng làm cho tôi thấy rõ việc giảng dạy bằng tiếng Việt là một thắng lợi rất lớn của dân tộc ta, nhất là tiếng Việt của dân tộc ta lại là một ngôn ngữ thống nhất từ Nam ra Bắc…
Ngay từ những ngày đầu khi nước nhà giành được độc lập, ông là một trong những trí thức hàng đầu như Võ Nguyên Giáp, Tạ Quang Bửu, Đỗ Xuân Hợp… chủ trương sử dụng tiếng Việt để giảng dạy. Ông cho biết: “Khi một dân tộc đã vùng dậy hô vang “Việt Nam Độc lập muôn năm” thì có sung sướng nào hơn cho người giáo sư đứng ở bục Đại học dùng tiếng mẹ đẻ để giảng bài. Nhưng lúc ấy giảng dạy bằng tiếng Việt ở các trường đại học và chuyên nghiệp, không phải dễ dàng, danh từ không thống nhất, cách diễn đạt chưa quen. Song với ý chí đấu tranh hoàn thành nền độc lập của Tổ quốc, dùng mọi biện pháp, ai cũng cố gắng giảng cho được tiếng Việt. Các trường Đại học Văn khoa, Đại học Khoa học, Đại học Nông lâm và Đại học Y dược nói chung đã dùng tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám”. Với một con người yêu tiếng Việt với tất cả lòng tự hào “Ngày nay nó trở thành một công cụ sắc bén để phổ biến khoa học kỹ thuật trong nhân dân, để nhanh chóng đào tạo hàng vạn nhân tài cho đất nước” thì việc ông dấn thân vào cuộc chiến đấu ái quốc của dân tộc cũng là lẽ tất nhiên.
Công việc khẩn trương làm cho tôi say mê hoạt động, và cái nỗi buồn ngày trước, cái bệnh tâm hồn của tôi đã mất đi lúc nào không biết. Tôi rất vui được truyền thụ những hiểu biết khoa học của mình, những vốn nghề nghiệp của mình cho lớp trẻ của đất nước…
Tinh thần độc lập của người trí thức
Khi quân Tưởng vào đất nước ta với danh nghĩa quân Đồng minh tước khí giới quân Nhật, chúng cho một bộ phận đóng ở bệnh viện Đồn Thuỷ. Cùng đi với bọn Tưởng, có hai cố vấn Mỹ… Hồi ấy, Chính phủ giao cho tôi tiếp hai tên Mỹ. Một hôm tôi và anh Tôn Thất Tùng mời chúng ăn cơm. Trong lúc nói chuyện Patton hỏi tôi:
Anh theo một chính phủ màtrong túi chỉ có một triệu bạc thì anh nghĩ sao ?
Tôi trả lời hắn:
Nhưng đó là chính phủ của tôi.
Tôi trả lời hắn với tất cả niềm tự hào của người dân một nước độc lập. Đối với kẻ có dụng ý xấu như Patton, tôi mới cảm thấy hết cái lớn lao ấy.
Ra đi theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Những ngày cuối năm 1946, không khí ở Hà Nội nặng nề, ngột ngạt như một cơn giông tố. Đây đó có những tiếng súng nổ. Tình hình hết sức căng thẳng. Tối tối, tôi được các anh Trần Duy Hưng, Khuất Duy Tiến ở Uỷ ban hành chính thành phố cho ô tô đến đón và đưa về một căn gác dưới Khâm Thiên để bảo đảm an toàn, tránh xa những khu vực hay bị bọn Pháp khiêu khích.
Chiều ngày 17/12/1946, tôi mổ xong một ca, vừa rửa tay và thay áo thì nhận được tin của trên cho biết tình hình rất nghiêm trọng, và tôi phải rời Hà Nội đi ngay vào Vân Đình. Tuy được biết trước tình hình rất nghiêm trọng, ngày một ngày hai có thể nổ ra chiến tranh, nhưng khi nhận được lệnh đó, tôi không khỏi bàng hoàng, băn khoăn. Trong đầu tôi nảy ra bao suy nghĩ về vận mệnh nước nhà, về công việc, về gia đình mình. Giặc thì mạnh, có đủ súng ống, xe tăng, máy bay; còn chính quyền ta vừa phôi thai, còn bao khó khăn, liệu có chống nổi không? Công việc rồi sẽ ra sao? Tôi đưa mắt nhìn quanh phòng mổ, lòng ngổn ngang như mối tơ vò. Cái gì mang đi, cái gì để lại? Về miền thôn dã lấy đâu ra điện nước, làm sao tạo được phòng mổ khử trùng? Còn trường Đại học Y khoa sẽ ra sao? Liệu còn tiếp tục giảng dạy được nữa không, và nếu tiếp tục thì lấy đâu ra sách vở, phòng thí nghiệm, xét nghiệm, điện quang?
Trở về nhà, lòng tôi càng bề bộn. Bấy lâu quen sống ở thành thị có đầy đủ tiện nghi, ở nông thôn thiếu thốn trăm bề, liệu gia đình tôi có chịu nổi không? Hơn nữa nhà tôi lại đang có cháu nhỏ. Nhưng tôi vẫn quyết ra đi. Lúc đó tôi có ngờ đâu mình sẽ phải trải qua con đường dài hằng trăm, hàng nghìn cây số, lâu trên 3.000 ngày đêm để rồi 9 năm sau mới trở về. Nhưng chính là con đường tôi đã chọn, chọn theo lương tâm, hoà cùng với lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chủ tịch: “Chúng ta thể hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Trường Đại học Y khoa trong kháng chiến
Hăm hở đi theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo sư Hồ Đắc Di cùng với những đồng nghiệp của mình đã có nhiều đóng góp tích cực. Ngay từ tháng 1/1947 Đoàn phẫu thuật lưu động của bác sĩ Tôn Thất Tùng đóng ở Cự Đà, đoàn của bác sĩ Nguyễn Hữu đóng ở Kim Lũ, còn đoàn của bác sĩ Hồ Đắc Di đóng tại Vân Đình. Chính tại nơi đây, ông đã đọc diễn văn tuyên bố trường Đại học Y khoa vẫn tiếp tục giảng dạy. Chiến sự ngày càng lan rộng, đoàn phẫu thuật của ông chuyển về Đốc Tín; đoàn phẫu thuật của bác sĩ Tôn Thất Tùng chuyển về Bùng Xá (thuộc huyện Ứng Hòa – Hà Đông). Vào tháng 4/1947 họ nhận được lệnh của Hồ Chủ tịch di chuyển lên Tuyên Quang, tiếp tục làm công việc phẫu thuật và giảng dạy. Bệnh viện thực hành của trường là bệnh viện Tuyên Quang. Rồi tháng 5/1947, trường lại được lệnh chuyển lên làng Ải (Chiêm Hóa) – cách thị xã chừng 70km. Tại đây, ông cùng với GS Tôn Thất Tùng xây dựng trường Đại học y khoa kháng chiến.
Ngày 6/10/1947, trường đã làm lễ khai giảng năm học mới, có Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến dự. Trong không khí trang nghiêm giữa rừng núi, từ xa có tiếng súng của giặc Pháp vọng lại, bác sĩ Hồ Đắc Di đã đọc diễn văn nói lên tinh thần học y trong kháng chiến:
Trường Đại học Việt Nam luôn trung thành với chính mình, nghĩa là trung thành với truyền thống trí thức, vị tha và khoan dung. Rung động cùng một nhịp với rung động của Tổ quốc, trong giờ phút đau thương cũng như trong những ngày hoan hỉ, tất cả tâm trí hướng về nền độc lập, với lòng tin mãnh liệt vào thắng lợi, với lòng căm thù ách nô lệ và tình yêu tha thiết tự do, trường Đại học coi việc phụng sự Tổ quốc là trách nhiệm đương nhiên….
Với tinh thần này, ngoài việc đào tạo sinh viên y khoa trường còn mở những tuyến mổ xẻ để kịp thời phục vụ thương bệnh binh từ tuyến lửa chuyển về. Không bao lâu, giặc Pháp tấn công vào làng Ải, trường phải dời vào làng Bình – cách đó 2 cây số. Sau khi đốt phá mọi cơ sở của ta, chúng gọi loa khuyên bác sĩ Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng và nhiều trí thức khác ra hàng và hứa hẹn sẽ đưa về Hà Nội an toàn! Không tin vào những lời phỉnh lừa này, trường chuyển về Trung Giáp và tiếp tục công việc của mình. Ít lâu sau, khi Pháp rút lui thì trường lại chuyển về làng Ải.
Do nhu cầu của công cuộc kháng chiến, bác sĩ Hồ Đắc Di cùng đồng nghiệp của mình quyết định chủ trương: sinh viên không học ở trường quá một năm, họ gấp rút được học cấp cứu, xử lý chấn thương rồi đi làm việc ở các mặt trận. Thời gian định cư ở đây cũng không lâu, giặc Pháp lại mở những đợt tấn công điên cuồng, trường được lệnh chuyển lên Việt Bắc – tức A.T.K (An toàn khu). Tại đây, ngoài công việc nghiên cứu khoa học, bác sĩ Hồ Đắc Di đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, đào tạo cán bộ y tế cho đất nước.
Quan niệm về giáo dục đại học
Ông quan niệm:
Chính trong lao động tập thể sẽ phát triển tình cảm thân thiết giữa thầy và trò, gắn bó họ với nhau bởi quan hệ quý mến và hữu nghị không hề có chỗ cho sự quy lụy. Trong mối quan hệ đó, ý thức phê bình, bông hoa đẹp nhất của trí tuệ cần được nở rộ hoàn toàn tự do. Học tốt và hiểu nhau hơn sẽ làm họ cùng có chung niềm vui và tin yêu mọi người. Nhưng trường Đại học không phải là sự pha trộn các trường phái, không phải là một trung tâm phân phát kiến thức và kỹ thuật, nó còn phải là một trung tâm nghiên cứu vì dạy và nghiên cứu là anh em sinh đôi, giảng đường chỉ là tiền sảnh của phòng thí nghiệm.
Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, trường Y khoa Việt Bắc được lệnh của Chính phủ về tiếp quản trường Y khoa Hà Nội, Bệnh viện Phủ Doãn. Từ đây, với cương vị Hiệu trưởng, bác sĩ Hồ Đắc Di tiếp tục đóng góp cho nền y học nước nhà – từ nghiên cứu khoa học đến đào tạo sinh viên.
Những đóng góp cho nền y học Việt Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho biết:
Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa làm tại Paris, Giáo sư Hồ Đắc Di là người đầu tiên sáng tạo một phương pháp mổ dạ dày (nối thông dạ dày-tá tràng) để điều trị chứng hẹp môn vị do bệnh loét dạ dày- tá tràng gây ra, thay thế cho phương pháp cắt bỏ dạ dày vẫn dùng trước đó. Đây là cách điều trị bảo tồn, được mang tên ông, được nhiều sách giáo khoa, nhiều công trình nhắc đến và thừa nhận giá trị trong suốt 30-40 năm.
Các công trình khoa học sau này của GS. Hồ Đắc Di (1937-1945) thường đứng tên chung với đồng nghiệp (như GS. Huard, GS. Meyer-May…), với cộng sự và học trò (Vũ Đình Tụng, Tôn Thất Tùng…) với nội dung giải quyết các bệnh rất đặc trưng của một nước nhiệt đới nghèo nàn và lạc hậu. Viêm tụy có phù cấp tính do ông phát hiện từ 1937 đã mở đường cho các kết quả nghiên cứu rực rỡ sau này của Tôn Thất Tùng vào những năm sau.
Cách điều trị bằng phẫu thuật các biến chứng viêm phúc mạc do thương hàn cũng có đóng góp lớn trong mở đường nghiên cứu thủng túi mật, hoặc nêu một phương pháp mổ mới, trong phẫu thuật sản khoa. Các phân tích thống kê phẫu thuật, cùng với Huard, được đăng ở báo Y học Viễn Đông ấn hành ở Paris, rất được các nước nhiệt đới coi trọng và tham khảo rộng rãi.
Giáo sư là người đầu tiên ở nước ta nghiên cứu tình trạng sốc do chấn thương, được báo trên đăng tải (1944) cùng nhiều công trình có giá trị khác, như Phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc ở Bắc Kỳ (1944), Phẫu thuật chữa loét dạ dày – tá tràng ở Bắc Kỳ (1944). Tạp chí Viện Hàn lâm phẫu thuật đăng Thủng túi mật hiếm gặp (1937); Viêm phúc mạc do thủng ruột trong thương hàn, (1939)…; báo Y học Hải ngoại của Pháp đăng Một kỹ thuật mới mổ lấy thai nhi.
Với 21 công trình hiện tìm được trong 37 công trình đã công bố, ông là nhà phẫu thuật đầu tiên, xứng đáng là bậc thầy đầu tiên với các công trình mở đường cho những hướng nghiên cứu sau này, xứng đáng được hội đồng giáo sư (toàn người Pháp) đánh giá cao và được bầu chọn là giáo sư người Việt đầu tiên.
Điều đáng quý ở ông là dù để lại nhiều công trình nghiên cứu, nhưng ông chỉ khiêm tốn phát biểu:
Nói chung, khoa học là một công trình tập thể. Mỗi phát minh đều là sự tiếp tục của công trình thuộc nhiều thế hệ. Từ lâu, người ta thường nói tác phẩm của nhà khoa học là vô ngã và gần như vô danh: nếu người ta được phép gắn tên mình vào một học thuyết hoặc một phát minh thì cái đó cũng khác hẳn việc ghi tên mình dưới đầu để một tập thơ hoặc khắc nó lên bệ một bức tượng. Tư tưởng của một nhà khoa học cũng mang đầy đủ những bản tính của nhà khoa học đó, nhưng khi đi vào thực tiễn thì nó không còn phụ thuộc vào sở thích của cá nhân nữa và kết quả của công trình lập tức trở thành của chung.
Thái độ khiêm tốn của ông thật đáng để chúng ta học tập. Trong hồi ký, ông viết:
Nếu như có một cuộc đời mà mỗi phút giây trôi qua đều có ý nghĩa nhân lên nghìn lần, mỗi chúng ta đều yêu thương tới đắm say và thèm sống đến mấy lần cuộc sống ấy vẫn chưa đủ… Phải, nếu quả có được một cuộc đời như thế dù điều đó chỉ dành cho đời con cháu chúng ta mai sau, ta cũng sẵn sàng hiến dâng cả đời mình.
Chỉ riêng điều này cũng khiến chúng ta khâm phục khi suy nghĩ về nhân cách sống cao đẹp của bác sĩ Hồ Đắc Di. Hiện nay, tại trường Y Hà Nội có giảng đường mang tên Hồ Đắc Di – nhằm ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc phụng sự y học cho Tổ quốc và tên tuổi đó còn có giá trị nhắc nhở các thế hệ sinh viên y khoa mai sau noi gương theo tinh thần của Hồ Đắc Di:
Đối với người thầy thuốc, Bác Hồ dạy: “Lương y như từ mẫu”. Chúng ta thường nói: “Khoa học mà không có lương tâm chỉ hủy hoại tâm hồn, lương tâm mà không có khoa học chỉ hủy hoại cơ thể. Khoa học và lương tâm kết hợp nhuần nhuyễn với nhau thì trở thành thẩm mỹ của trí tuệ”. Ở người thầy thuốc điều đó càng thể hiện rõ hơn, vì đối tượng phục vụ của thầy thuốc là con người, mà con người là một sinh vật vừa có thể xác, vừa có tình cảm. Khi phục vụ con người, người thầy thuốc vừa làm chức năng của một kỹ sư, vừa làm chức năng của một kỹ sư tâm hồn.
Đóng góp trong kháng chiến và xây dựng nền y học cách mạng
Hăm hở đi theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo sư Hồ Đắc Di cùng với những đồng nghiệp của mình đã có nhiều đóng góp tích cực. Ngay từ tháng 1/1947 Đoàn phẫu thuật lưu động của bác sĩ Tôn Thất Tùng đóng ở Cự Đà, đoàn của bác sĩ Nguyễn Hữu đóng ở Kim Lũ, còn đoàn của bác sĩ Hồ Đắc Di đóng tại Vân Đình. Chính tại nơi đây, ông đã đọc diễn văn tuyên bố trường Đại học Y khoa vẫn tiếp tục giảng dạy. Chiến sự ngày càng lan rộng, đoàn phẫu thuật của ông chuyển về Đốc Tín; đoàn phẫu thuật của bác sĩ Tôn Thất Tùng chuyển về Bùng Xá (thuộc huyện Ứng Hòa – Hà Đông). Vào tháng 4/1947 họ nhận được lệnh của Hồ Chủ tịch di chuyển lên Tuyên Quang, tiếp tục làm công việc phẫu thuật và giảng dạy. Bệnh viện thực hành của trường là bệnh viện Tuyên Quang. Rồi tháng 5/1947, trường lại được lệnh chuyển lên làng Ải (Chiêm Hóa) – cách thị xã chừng 70km. Tại đây, ông cùng với GS Tôn Thất Tùng xây dựng trường Đại học y khoa kháng chiến. Ngày 6/10/1947, trường đã làm lễ khai giảng năm học mới, có Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến dự. Trong không khí trang nghiêm giữa rừng núi, từ xa có tiếng súng của giặc Pháp vọng lại, bác sĩ Hồ Đắc Di đã đọc diễn văn nói lên tinh thần học y trong kháng chiến:
Trường Đại học Việt Nam luôn trung thành với chính mình, nghĩa là trung thành với truyền thống trí thức, vị tha và khoan dung. Rung động cùng một nhịp với rung động của Tổ quốc, trong giờ phút đau thương cũng như trong những ngày hoan hỉ, tất cả tâm trí hướng về nền độc lập, với lòng tin mãnh liệt vào thắng lợi, với lòng căm thù ách nô lệ và tình yêu tha thiết tự do, trường Đại học coi việc phụng sự Tổ quốc là trách nhiệm đương nhiên…
Với tinh thần này, ngoài việc đào tạo sinh viên y khoa trường còn mở những tuyến mổ xẻ để kịp thời phục vụ thương bệnh binh từ tuyến lửa chuyển về. Không bao lâu, giặc Pháp tấn công vào làng Ải, trường phải dời vào làng Bình – cách đó 2 cây số. Sau khi đốt phá mọi cơ sở của ta, chúng gọi loa khuyên bác sĩ Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng và nhiều trí thức khác ra hàng và hứa hẹn sẽ đưa về Hà Nội an toàn! Không tin vào những lời phỉnh lừa này, trường chuyển về Trung Giáp và tiếp tục công việc của mình. Ít lâu sau, khi Pháp rút lui thì trường lại chuyển về làng Ải. Do nhu cầu của công cuộc kháng chiến, bác sĩ Hồ Đắc Di cùng đồng nghiệp của mình quyết định chủ trương: sinh viên không học ở trường quá một năm, họ gấp rút được học cấp cứu, xử lý chấn thương rồi đi làm việc ở các mặt trận. Thời gian định cư ở đây cũng không lâu, giặc Pháp lại mở những đợt tấn công điên cuồng, trường được lệnh chuyển lên Việt Bắc – tức A.T.K (An toàn khu). Tại đây, ngoài công việc nghiên cứu khoa học, bác sĩ Hồ Đắc Di đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, đào tạo cán bộ y tế cho đất nước. Ông quan niệm:
Chính trong lao động tập thể sẽ phát triển tình cảm thân thiết giữa thầy và trò, gắn bó họ với nhau bởi quan hệ quý mến và hữu nghị không hề có chỗ cho sự quy lụy. Trong mối quan hệ đó, ý thức phê bình, bông hoa đẹp nhất của trí tuệ cần được nở rộ hoàn toàn tự do. Học tốt và hiểu nhau hơn sẽ làm họ cùng có chung niềm vui và tin yêu mọi người. Nhưng trường Đại học không phải là sự pha trộn các trường phái, không phải là một trung tâm phân phát kiến thức và kỹ thuật, nó còn phải là một trung tâm nghiên cứu vì dạy và nghiên cứu là anh em sinh đôi, giảng đường chỉ là tiền sảnh của phòng thí nghiệm.
Tiếp quản Trường Y khoa Hà Nội và sự nghiệp đào tạo
Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, trường Y khoa Việt Bắc được lệnh của Chính phủ về tiếp quản trường Y khoa Hà Nội, Bệnh viện Phủ Doãn. Từ đây, với cương vị Hiệu trưởng, bác sĩ Hồ Đắc Di tiếp tục đóng góp cho nền y học nước nhà – từ nghiên cứu khoa học đến đào tạo sinh viên.
Hiện nay, tại trường Y Hà Nội có giảng đường mang tên Hồ Đắc Di – nhằm ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc phụng sự y học cho Tổ quốc và tên tuổi đó còn có giá trị nhắc nhở các thế hệ sinh viên y khoa mai sau noi gương theo tinh thần của Hồ Đắc Di:
Đối với người thầy thuốc, Bác Hồ dạy: “Lương y như từ mẫu”. Chúng ta thường nói: “Khoa học mà không có lương tâm chỉ hủy hoại tâm hồn, lương tâm mà không có khoa học chỉ hủy hoại cơ thể. Khoa học và lương tâm kết hợp nhuần nhuyễn với nhau thì trở thành thẩm mỹ của trí tuệ”. Ở người thầy thuốc điều đó càng thể hiện rõ hơn, vì đối tượng phục vụ của thầy thuốc là con người, mà con người là một sinh vật vừa có thể xác, vừa có tình cảm. Khi phục vụ con người, người thầy thuốc vừa làm chức năng của một kỹ sư, vừa làm chức năng của một kỹ sư tâm hồn.
Ông mất ngày 25/6/1984 tại Hà Nội. Ghi nhận công lao của ông, Nhà nước đã tặng ông Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học – Kỹ thuật.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ.