Khái quát
Hồ Xuân Hương là một chân dung thơ độc đáo vào bậc nhất trong thi ca Việt Nam. Người đời đã xưng tụng bà bằng nhiều ngôn từ mỹ miều và tráng lệ, nhưng có lẽ chỉ bốn chữ bình dị “Bà chúa thơ Nôm” của Xuân Diệu đã khái quát được vóc dáng sừng sững của nữ sĩ tài hoa Hồ Xuân Hương. Dưới ngòi bút của bà, tiếng Việt được thăng hoa một lần nữa, từng con chữ tươi rói ấy tưởng chừng như đang cựa quậy trên trang giấy với tất cả sức sống bền vững. Thơ của bà đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Mới đây nhất, hai dịch giả Phần Lan là Rauni Turkia và Kai Neiminen đã tuyển dịch thơ bà qua tập Những lời hỏi trăng (NXB Nostromo – 1992), họ viết: “Theo tôi, Hồ Xuân Hương là một tác giả có một không hai trong văn học thế giới. Ngôn ngữ trong thơ bà là tiếng Việt giàu nhạc điệu, với lối chơi chữ, sử dụng từ ngữ rất tài tình, thơ của bà luôn mang nhiều nghĩa, chính vì vậy thơ bà rất khó dịch… nhất là khi dịch sang ngôn ngữ phương Tây”. Thật vậy, làm sao có thể dịch được cả hồn lẫn xác của một bài thơ khá tiêu biểu của Hồ Xuân Hương như Hang Cắc Cớ:
Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hở hênh ra lắm kẻ dòm!
Sử dụng tiếng Việt điêu luyện đến cỡ đó thì quả ít có người sánh kịp. Thế nhưng, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết đích xác chân dung bằng xương bằng thịt của bà. Tiểu sử của bà, cho đến nay vẫn còn nhiều ẩn số. Nói như nhà thơ Hoàng Trung Thông thì:
Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có
Nàng ở làng Quỳnh
Nàng lại ở phường Khán Xuân Mờ mờ tỏ tỏ
Khi thì nói cô là con Hồ Phi Diễn
Khi thì lại bảo cô là em Hồ Sĩ Đống
Khi thì nói nàng viết chữ Nôm
Khi thì nói nàng giỏi giang chữ Hán
Trước đây, qua thơ của bà, giới nghiên cứu đã hình dung ra tiểu sử của bà với những đường nét hư cấu, tưởng tượng hơn là có căn cứ xác thực. Chẳng hạn ngay từ thuở nhỏ, bà đã tỏ ra là một người thông minh, đĩnh ngộ và có tài ứng khẩu thành thơ. Một ngày kia, đi chợ về, đường trơn, chẳng may bà trượt chân ngã. Các đấng mày râu thấy vậy, bật lên tiếng cười trêu chọc. Không một chút ngại ngùng, bà đứng dậy “chữa thẹn” bằng hai câu thơ:
Giơ tay với thử trời cao, thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn, dài
Hai câu này khiến ai nấy đều kính phục. Ấy là khẩu khí của bậc vương, bậc tướng chứ nào phải tầm thường! Từ nhà của bà, mỗi lần đi đến giếng thơi phải ngang qua nhà thầy đồ. Ngày nọ lũ học trò tinh nghịch chận đường không cho bà đi, chúng bảo phải ứng khẩu bài thơ vịnh cái giếng! Cái trò trẻ con này khiến bà nhoẻn miệng cười và đọc ngay:
Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một dòng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te tách giữa dòng.
Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết,
Đố ai dám thả nạ dòng dòng?
Nghe xong, lũ học trò rúc rích cười dù không ngờ bà lại giễu mình tinh tế, hóm hỉnh đến thế. Bà nói:
– Nào, các anh thử họa lại xem!
Lũ học trò không biết họa làm sao, bèn ù té chạy! Thuở ấy, mới mười bảy, đôi mươi, có nhan sắc lại chưa chồng nên bà thường bị đám văn nhân, lũ học trò trêu chọc. Ngày nọ, bà đi vãn cảnh chùa trong tiết xuân. Khí trời ấm áp. Tiếng chuông siêu thoát. Lòng người yên tỉnh lạ thường. Đằng xa kia, có dăm ba văn nhân tài tử, trong phút cao hứng đã phóng bút đề thơ của mình trên tường. Thấy bà đi ngang qua, một người nói:
– Cô em ơi! Trai hai mươi tuổi đương xoan, gái hai mươi tuổi đã toan… về già! Hí! Hí! Có chịu làm vợ anh không? Hí hí!
Nghe tiếng cười nham nhở ấy, bà không thèm nhìn mà bước đi một mạch! Thấy vậy, đám văn nhân vội đi theo buông lời chọc ghẹo:
– Làm vợ của anh nhé! Không khéo cái già sồng sộc nó thì theo sau đấy! Gìn vàng giữ ngọc mãi, đắn đo lựa chọn mãi thì cũng… già khú thôi!
Bà quay lại ôn tồn nói:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ,
Lại đây cho chị dạy làm thơ.
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cõn buồn sừng húc giậu thưa!
Đám văn nhân giật thót người. Không ngờ lại gặp người hay chữ đến thế. Nhưng quyết không để mất mặt đấng tu mi nam tử, họ bảo:
– Lộng ngôn vừa vừa phải phải thôi chứ! Cô đã đọc những bài thơ mà anh em chúng tôi ghi ở đền chùa kia chưa mà dám nói thế! Cô có dám họa lại không?
Bà đáp:
– Thơ họa vận thì không khó mà làm hay thì cũng dễ. Chỉ khi gặp hạn vận(1) thì khó mà họa cho trôi!
Nghe bà nói khiêu khích như thế, họ nóng mặt đáp:
– Hạn vận nào là khó? Xin mời cô cứ nói. Chúng tôi sẽ họa ngay thôi!
Bà tủm tỉm cười:
– Vâng, các bác đã dạy thế thì em xin vâng. Này nhé “Lượng cả xin ông chớ hẹp hòi”. Mời các bác họa lại, nhưng cấm dùng hai chữ “hẹp hòi” đấy nhé. Còn “hòi” gì thì cũng được.
Đám văn nhân ngồi ngẩn tò te, nghĩ mãi, không biết đáp lại vần gì cho hợp với chữ “hòi”. Một người trong đám họ nhanh trí bảo:
– Nếu ra bài vịnh vật thì chúng tôi làm ngay. Chứ hạn vận kiểu này thì chỉ dành cho lũ học trò mới biết võ vẽ dăm ba chữ thánh hiền mà thôi, không xứng với tài năng của bọn tôi.
Nghe lời vụng chèo khéo chống ấy, bà bảo:
– Thôi được, vậy xin mời các bác thử vịnh cái chuông trong chùa. Nhưng bắt buộc câu thứ hai phải hạ vần “uông” thì mới là người hay chữ!
Chà! Gặp phải người “ra điều ràng buộc là tay cũng già” chứ nào phải chơi! Cả đám nhăn mặt ngồi bóp trán mà suy nghĩ mãi. Bà giục hai ba lần nhưng họ vẫn câm như hến. Cuối cùng họ đành phải thú nhận là… thua! Bà nói:
– Nếu tôi vịnh được thì các bác chịu mất cái gì nào?
Làm sao mà vịnh được cái chuông có vần uông nhỉ? Chắc chỉ nói phét đấy thôi! Nghĩ vậy, một người trong đám họ mạnh dạn bảo:
– Cô làm được thì anh em chúng tôi xin biếu cô giấy hoa tiên lẫn bút mực!
Được lời cam kết như thế, bà mới húng hắng cất giọng:
– Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông
Nó bảo nhau rằng: “Ấy ái uông”!
Ai nấy đều thè lưỡi lắc đầu, khen nức nở hai câu thơ của bà. Giữ đúng lời hứa, họ đưa hết giấy hoa tiên và bút mực cho bà. Thẹn lắm! Ngượng lắm! Họ quay lưng bỏ đi ngay! Nhưng chưa kịp đi thì bà bảo:
– Tôi đùa thôi. Chứ ai nào nỡ lấy những thứ này của các bác. Chỉ xin tặng các bác mấy câu thơ nhân dịp gặp gỡ đầu xuân.
Nói xong bà đọc luôn:
Dắt díu đưa nhau đến cửa thiền,
Cũng đòi học nói, nói không nên.
Ai về nhắn bảo phường lòi tói,
Muốn sống đem vôi quét trả đền!
Đám văn nhân đỏ mặt tía tai ù té chạy. Qua ngày sau, không ai còn thấy những bài thơ “lòi tói” mà đám văn nhân đã khệnh khạng viết trên tường nhà chùa nữa. Tăm tiếng của bà ngày càng nổi như cồn. Sau đó, vâng lời mẹ, bà lập gia đình. Nhưng để thử tài người mà mình sẽ nhận làm chồng, bà ra câu đối dán trước cửa và thách đối:
– Tối ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới;
Trong làng chỉ có một người đối lại được là Tổng Cóc. Sáng mồng một Tết, ông đã sang nhà bà đưa ra vế đối:
– Sáng mồng một mở then tạo hóa để cho thiếu nữ rước xuân vào.
Bà khen là đối chỉnh và chịu làm vợ Tổng Cóc. Ăn ở với nhau một thời gian, Tổng Cóc mất. Bà có bài thơ khóc chồng, nhưng thật ra là khóc cho số phận hẩm hiu của mình. Do đó, trong bài thơ toàn là… chàng chẫu, nhái bén, nòng nọc, cóc:
Hỡi chàng ôi! Hỡi chàng ôi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Nghìn vàng khôn chuộc dẫu bôi vôi.
Phỏng đoán về thân thế Hồ Xuân Hương
Từ đó bà sống một mình, thường đi ngao du sơn thủy và lấy chuyện thơ phú làm vui. Trước đây, các nhà nghiên cứu cho rằng, Hồ Xuân Hương sống và sáng tác vào nửa cuối thế kỷ XVIII, nhưng rồi lại cho rằng, bà sống chủ yếu vào nửa đầu thế kỷ XIX. “Song công phu của các nhà nghiên cứu không uổng. Cho đến nay, bằng những tư liệu đáng tin cậy, chúng ta đã có thể viết những trang tiểu sử của nhà thơ qua những nguồn thư tịch chắc chắn.
Hồ Xuân Hương là con Hồ Sĩ Danh (1706 – 1783), em cùng cha với Hồ Sĩ Đống, nguyên quán làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hồ Sĩ Danh đậu Hương cống (Cử nhân) năm 1732. Tuy không ra làm quan, nhưng vì có con làm quan to nên ông đã được phong tặng chức Hàn lâm thừa chỉ và hàm Thái bảo. Kết hợp từ các nguồn giai thoại và thư tịch, chúng ta có thể ước đoán mà không sợ lầm lẫn rằng: bà mẹ sinh ra Hồ Xuân Hương người họ Hà, vốn là một cô gái xứ Bắc, chỉ là hầu thiếp của Hồ Sĩ Danh. Khi ông này mất đi, Hồ Xuân Hương còn quá nhỏ. Hai năm sau, Hồ Sĩ Đống cũng mất. Không còn nơi nương cậy, Hồ Xuân Hương được mẹ đưa ra đất Thăng Long. Từ đấy hai mẹ con cư ngụ tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận gần Hồ Tây – Hà Nội bây giờ. Tại đây, Hồ Xuân Hương được mẹ cho học hành. Sau đó, lại rời nhà về thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, nay là phố Lý Quốc Sư, Hà Nội. Hồ Xuân Hương có một ngôi nhà riêng bên Hồ Tây đặt tên là Cổ Nguyệt đường (chữ Cổ ghép với chữ Nguyệt thành chữ Hồ). Cổ Nguyệt đường có lẽ là phòng văn hay nơi ngồi dạy học của bà. Song chắc chắn đó là nơi đã diễn ra những cuộc bình thơ, thù tiếp bạn bè”. (xem Thơ Hồ Xuân Hương – Từ cội nguồn vào thế tục – Đào Thái Tôn, NXB Giáo dục 1993). Trong Từ điển văn học (tập 1, NXB Khoa học xã hội, 1983), GS Nguyễn Lộc cũng viết tương tự như thế, nhưng ông lại ghi thân sinh của bà là Hồ Phi Diễn – một thầy đồ nghèo, còn trong đời riêng thì bà hai lần lấy chồng và cả hai lần đều làm lẽ và ông thận trọng ghi thêm những điều trên là “người ta vẫn lưu truyền” vì “không có tài liệu gốc nào để lại cả” (tr.318).
Trước đây, người ta chỉ mới biết đến một Hồ Xuân Hương là tác giả của những bài thơ chữ Nôm được truyền tụng, nhưng năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại lần đầu tiên công bố những tài liệu khẳng định bà còn là tác giả của những bài thơ chữ Hán! Nhưng về phong cách, về thi pháp thì chừng mực, hiền lành chứ không táo tợn như các lời thơ Nôm từng được biết đến. Đó là tập Lưu hương ký, bao gồm 26 bài thơ chữ Nôm và 24 bài thơ chữ Hán. Trong đó có bài thơ liên quan đến thi hào Nguyễn Du: “Nhớ người cũ, viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” ghi rõ Nguyễn Hầu là người Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (tức Nguyễn Du). Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn cho rằng mối tình đầu của Hồ Xuân Hương chính là đại thi hào Nguyễn Du. Theo lời bình của ông thì năm 1813, Nguyễn Du được nhà Nguyễn thăng Cần chánh điện học sĩ rồi chọn làm chánh sứ sang nhà Thanh. Có lẽ tin đồn này ra tới đất Thăng Long nhắc cho bà nhớ lại người xưa từng dan díu với mình “ba năm vẹn” mà làm bài thơ thầm mong khi đến Thăng Long, người cũ sẽ ghé thăm mình đang “năm canh chiếc bóng chong”:
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết đâu còn chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
Nhưng rồi với cương vị của mình lúc đó, Nguyễn Du đã không ghé lại thăm bà. GS Hoàng Xuân Hãn cho rằng câu thơ trong truyện Kiều:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
Chính là được viết lúc chạnh nhớ đến tình cảm dành cho bà! Với sự phát hiện này, nhà thơ Xuân Diệu hồ hởi viết: “Sự kiện mới này về Hồ Xuân Hương ở trong phạm vi nhỏ hẹp, nhưng cũng biết bao cảm động. Tự nhiên Hồ Xuân Hương gần lại với chúng ta hơn nữa, và trở thành cụ thể hơn, đỡ trừu tượng, trước đây Hồ Xuân Hương phảng phất trong thời gian đầu cuối thời vua Lê chúa Trịnh, bây giờ là đương thời với Nguyễn Du… Và ngược lại, Nguyễn Du là đương thời với Hồ Xuân Hương, yếu tố này làm cho các khái niệm Nguyễn Du ở trong tâm trí ta được ấm áp thêm”. Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu khác vẫn tỏ ra dè dặt khi khẳng định Lưu hương ký là tác phẩm của Hồ Xuân Hương.
Bấy giờ đất nước chưa thống nhất, ở phía Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung phân tích: “Nếu căn cứ vào những đòi hỏi xác thực của một nghiên cứu khoa học, phải nhìn nhận rằng bao lâu chưa có sử liệu nào chứng minh có một Hồ Xuân Hương thực sự là tác giả những bài thơ Nôm nổi tiếng thì thiên tài của Hồ Xuân Hương, thần tượng Hồ Xuân Hương chỉ là một nghi vấn, một truyền thuyết; và chúng ta, những người thán phục thiên tài Hồ Xuân Hương bị vỡ mộng, thất vọng nếu Hồ Xuân Hương quả không có thật hoặc có thật nhưng chỉ là tác giả tập Lưu hương ký kém xa những bài thơ Nôm nổi tiếng, nghĩa là Hồ Xuân Hương chỉ là một thi sĩ tầm thường” (xem Lược khảo văn học tập 3 – NXB Nam Sơn, Sài Gòn 1966). Là một người nhiều năm nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp Hồ Xuân Hương, cho đến nay GS Nguyễn Lộc vẫn thận trọng về tập Lưu hương ký khi biên soạn về thơ Hồ Xuân Hương, ông chỉ xếp vào phần phụ lục để “bạn đọc tham khảo” với quan điểm: “điều đó không có nghĩa là phủ nhận Lưu hương ký mà chỉ có nghĩa là trong khi chờ đợi một sự minh xác chắc chắn, cách làm như thế là thận trọng hơn cả”. Mới đây nhất, khi biên soạn Từ điển văn học Việt Nam (NXB Giáo dục 1997) nhóm nghiên cứu Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường cũng cho rằng trong tập Lưu hương ký “các bài thơ Nôm dù già dặn nhưng không thể sánh được” với những bài được truyền tụng. Và “nếu sáng tác của Hồ Xuân Hương chỉ gồm những bài trong Lưu hương ký thì vị trí của tác giả này trong văn học sử sẽ ở mức khiêm nhường hơn” (tr.199). Thiết tưởng các nhà nghiên cứu dè dặt như vậy là đúng. Tuy Lưu hương ký có giúp cho chúng ta hiểu thêm tiểu sử của Hồ Xuân Hương, nhưng trong đó không có những bài thơ Nôm được truyền tụng thì hóa ra thi tài của bà chỉ khiêm nhường đến thế thôi sao? Vậy Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương này với Hồ Xuân Hương của những bài thơ Nôm tuyệt bút là một hay hai người? Không dừng lại đó, năm 1974, các nhà nghiên cứu lại đưa ra tài liệu Xuân đường đàm thoại, chép trong cuốn Danh thi tạp lục. Qua đó, “Như một tiếng nói có nhiều nhân chứng, bài văn này đã lật lại toàn bộ cách hiểu về Hồ Xuân Hương, làm cho người ta không thể nào tin theo nó mà lại còn “luyến tiếc” những cách hiểu trước đây” (Đào Thái Tôn, sđd, tr.53).
Ở đây, hiện ra một Hồ Xuân Hương là… kỹ nữ (?) mất năm 1869 an táng cạnh núi Nguyệt Hằng, phủ Từ Sơn, huyện Đức Giang (thuộc Bắc Ninh cũ). Tài liệu này khó tin hoặc ít ra cũng là sự trùng hợp giữa Hồ Xuân Hương này với Hồ Xuân Hương – bà chúa thơ Nôm – mà ta từng biết? Như vậy, dù chưa biết đích xác về chân dung bằng xương thịt của bà, nhưng chỉ với 60 bài thơ (có trên 100 dị bản) được truyền tụng – được in sớm nhất là bản do Antony Landes thuê chép tại Hà Nội năm 1893 – Hồ Xuân Hương vẫn đứng sừng sững trên thi đàn Việt Nam. Và trong tâm trí thế hệ hôm nay và mãi mãi về sau vần còn nhớ đến một Hồ Xuân Hương của những bài thơ như Mời trầu, Tự tình, Lấy chồng chung, Đề tranh tố nữ, Bánh trôi nước, Đèo Ba Dội.…
Hậu sinh chúng ta nhìn thấy bà vĩ đại ở chỗ sử dụng tiếng Việt một cách tài hoa, tinh tế, đã phát huy cao độ khả năng biểu cảm của ngôn ngữ dân tộc mà trước đó và sau này ít có người sánh kịp. Tư tưởng trong thơ bà đã lên án những bất công mà người phụ nữ dưới thời phong kiến phải gánh chịu, qua đó bà bày tỏ sự cảm thông đến số phận của họ. Bên cạnh đó, bà lột mặt nạ của những thành phần mang bộ mặt đạo đức giả với tất cả bi hài đáng ghét của nó. Là một phụ nữ bà tỏ ra yêu thiên nhiên nhưng lại mô tả cảnh vật bằng góc độ nhìn riêng của mình, không lẫn lộn với ai khác. Quái lạ, cũng ngôn ngữ ấy, nhưng dưới bàn tay tài hoa của bà thì sự việc hiện lên sắc cạnh hơn, linh động hơn và mang nhiều tầng ngữ nghĩa hơn. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà người ta nói nhiều về thơ bà “Ai thẹn thì cúi đầu. Ai thích thì nghĩ lâu” (Hoàng Trung Thông). Các họa sĩ như Bùi Xuân Phái, Lê Lâm, Chóe… từng mượn những câu thơ của bà để sáng tạo nên những bức tranh – như một cách trình bày cảm thụ về thơ của bà.
Tôn vinh
Người phụ nữ tài hoa như thế hiếm có thay! Nếu có dịp về đến Nghệ An, hẳn chúng ta sẽ không bỏ lỡ cơ hội để đến xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu mà viếng thăm nhà bia tưởng niệm bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Vào dịp cuối năm 1998, theo nguyện vọng của gia tộc họ Hồ, được sự giúp đỡ của Quỹ phát triển văn hóa Việt Nam – Thụy Điển, xã Quỳnh Đôi đã hoàn thành nhà bia tưởng niệm này. Trên bia có khắc bốn thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Trung đề cập đến sự nghiệp của bà. Công trình này trị giá 12,5 triệu đồng, được xây dựng ở vị trí có địa thế đẹp đầu làng Quỳnh – cách quốc lộ 1A khoảng hai cây số. Đứng ở đó ngâm lại bài thơ của bà hẳn lòng ta sẽ sảng khoái lạ thường và tự hào trong nữ lưu nước Việt có một nữ sĩ mang tên Hồ Xuân Hương.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.