Khái quát
Trăng đã dậy rồi khơi bếp hồng lên nhé! Lá nếp rau rừng thêm ấm tình anh nuôi. Nổi lửa lên em, đánh Mỹ đêm ngày. Vũ trụ theo ta vào trong chiến trận, có chị Hằng soi sáng canh thâu… Đôi quang gánh nặng tình yêu đất nước, đây bếp Hoàng Cầm ta sưởi ấm nơi nơi. Ơi! Mỗi bát canh chua đỡ cung đường vất vã. Một cánh rau rừng còn ủ kín yêu thương. Nhớ nắm gạo rang đường xa chiến trận. Ôi tất cả tâm tình đi nhớ mãi. Nổi lửa lên em! Nổi lửa lên em!…
Ca khúc Nổi lửa lên em của nhạc sĩ Huy Du phổ thơ Giang Lam có lẽ không một nguời chiến sĩ nào không biết đến. Thông thường khi nói đến bếp lửa, các văn nghệ sĩ thường miêu tả sự bay bổng quen thuộc của làn khói, nhưng trong ca khúc này không một lần ta nghe nhắc đến làn khói bếp phiêu bồng và đáng yêu ấy. Chỉ đơn giản một điều, bếp Hoàng Cầm không hề… tỏa khói như mọi loại bếp thông thường khác! Như thế thì quả là lạ thật.
Người tiên phong sáng chế ra loại bếp này là người lính cụ Hồ có tên Hoàng Cầm.
Những người cùng mang tên Hoàng Cầm
Trong hai cuộc chiến tranh thần thánh chống xâm lược Pháp, có một sự trùng hợp ngẫu nhiên là có cả ba người chiến sĩ cùng mang tên Hoàng Cẩm. Người thứ nhất, nhà thơ Hoàng Cầm, tên thật Bùi Tằng Việt, sinh năm 1922 tại Hà Bắc, tác giả kịch thơ Kiều Loan, Lên đường… và cũng là người viết nên những vần thơ tuyệt vời như Bên kia sông Đuống, Lá Diêu bông…, từng là trưởng Đoàn văn công Tổng cục Chính trị. Do nhà thơ có ông bố làm thầy lang nên khi Bùi Tằng Việt lấy bút danh này nhiều người liên tưởng đến tên một vị thuốc bắc, rất đắng- nhưng thật ra theo ông thì “Hoàng Cầm có nghĩa là con chim vàng, cây đàn vàng, cây đàn của hoàng tử”. Người thứ hai, thượng tướng Hoàng Cầm tên thật là Đỗ Văn Cầm, sinh năm 1920 tại Hà Tây, Tư lệnh Quân đoàn 4, đã từng lập được nhiều chiến công xuất sắc tại chiến trường Nam bộ. Và người thứ ba, tên thật Hoàng Cầm, trong cuộc kháng chiến chống Pháp chỉ đứng ở vị trí khiêm tốn là “anh nuôi”.
Sự ra đời của bếp Hoàng Cầm
Do làm tốt nhiệm vụ “nuôi quân” nên trong Từ điển bách khoa Việt Nam hoặc trong Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam do Trung tâm từ điển bách khoa quân sự Bộ Quốc phòng biên soạn tại vẫn B đã có hẳn một mục “bếp Hoàng Cầm” nhằm giải thích cụm từ này: “Bếp dã chiến đào dưới đất, đun bằng củi không bị lộ lửa, tránh địch phát hiện, do tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm thuộc đội điều trị Sư đoàn 308 sáng tạo ra. Bếp gồm: hố đặt nổi (chảo), hố ngồi nấu, hệ thống đường dẫn khói và tản khói; rãnh thoát nước và mái che. Bếp Hoàng Cầm được sử dụng từ trong chiến dịch Hòa Bình (1951 – 1952) và nhanh chóng phổ biến trong toàn quân. Được cải tiến, hoàn thiện và sử dụng rộng rãi trong kháng chiến chống Mỹ” (tr. 41).
Thiết nghĩ, những sự ghi nhận này là một vinh dự dành cho người chiến sĩ.
Bối cảnh lịch sử
Năm 1950, Trung ương đã quyết định mở chiến dịch Biên giới với mục đích: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; mở đường giao thông với Trung Quốc; qua đó, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Từ sau thắng lợi này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951 tại Tuyên Quang. Về mặt quân sự, Đảng đã chủ trương nhanh chóng chấn chỉnh bộ đội, tranh thủ mở chiến dịch tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, phá kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng của địch, giữ vững quyền chủ động chiến lược của ta trên chiến trường Bắc bộ. Sau các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt – cuối năm 1951, Tổng quân ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, dùng ba Đại đoàn 308, 312, 304 vây hãm và tiêu diệt quân cơ động của địch ở mặt trận Hòa Bình; hai Đại đoàn 320, 316 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phá bình định, phát triển chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch tại đồng bằng Bắc bộ.
Để hoàn thành được nhiệm vụ thì một trong những yếu tố đầu tiên là phải tuyệt đối bí mật. Chính trong thời gian này bếp Hoàng Cầm ra đời.
Hoàng Cầm và quá trình sáng chế bếp nuôi quân
Trong tác phẩm ký sự Đại đoàn Quân Tiên phong (NXB Quân đội Nhân dân- 1978) cho biết:
Hoàng Cầm nguyên là một nông dân nghèo khổ, quê ở Hà Nam, bỏ nhà ra Hà Nội làm đầu bếp cho của hiệu ăn Văn Phú (Hàng Lọng) nổi tiếng về các món lươn, ếch, ba ba… Anh đầu bếp tài hoa ấy hy vọng rằng: làm mươi năm, kiếm chút vốn liếng, ra mở một cửa hiệu riêng nho nhỏ, sống vui thú với vợ con. Nhưng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đã bóp nát ước mơ nhỏ bé đó. Trải qua những tháng ngày tản cư vất vả, bị địch tiến công, oanh tạc, Hoàng Cầm đã hiểu rõ chân lý: nước mất, nhà sao yên được. Anh từ biệt gia đình, xung phong vào bộ đội. Được Đảng và tập thể quân đội giáo dục, người đầu bếp phục vụ cho một dúm người lắm của, sành ăn ấy đã tiến bộ, trở thành một đồng chí chiến sĩ thi đua nấu ăn tận tụy, tháo vát, hết lòng phục vụ hàng trăm thương, bệnh binh qua bốn năm chiến dịch. Do tình thương yêu đồng đội, anh đã mày mò nấy ra sáng kiến làm một kiểu bếp có thể nấu nướng ngay cả ban ngày mà không sợ máy bay địch phát hiện.
Sau này, chính ông cũng cho biết:
Năm 1952, đơn vị tôi tham gia chiến dịch Hòa Bình. Để giữ kỷ luật tránh lộ khói lửa, hầu hết các đơn vị bộ đội, dân công phải thổi nấu từ đêm đến sáng sớm. Nấu xong, bếp phải dội lửa cho tắt ngấm… để đến tối mới nấu bữa chiều. Nấu ăn ban đêm cũng vất vả lắm. Nhiều lúc nồi cơm đang sôi, chợt có báo động máy bay là phải lập tức đổ nước vào bếp cho tắt. Nấu được một bữa cơm chín, mệt hơn đánh vật. Vì thế, ban ngày bộ đội đều phải ăn cơm nguội. Anh em khỏe mà ăn cơm nguội đã khó ăn, huống chi anh em yếu mệt, bị thương. Thấy anh em thương, bệnh binh phải ăn nguội, tôi vô cùng thương xót, áy náy. Suốt ngày đêm tôi chỉ nghĩ cách làm thế nào để anh em được ăn cơm nóng. Một đêm đang nằm nghĩ miên man, tôi chợt nhớ đến cách nấu cám lợn ở quê nhà. Bếp nấu cám lợn ở vùng Nam Hà hồi đó thường là bếp đắp bằng đất, xung quanh để hai lỗ hở nên khi nấu, lửa rất tập trung. Mừng quá, nếu áp dụng kiểu bếp như vậy thì đỡ một phần ánh lửa. Nhưng làm thế nào nấu ban ngày không có khói? Lại suy nghĩ. Tôi chợt nhớ chuyện hun chuột đồng. Muốn hun khói vào nhiều cho chuột sặc, phải khoét cửa lỗ chuột ra vào to thêm để nhét rơm rạ, rồi lấp kín các lỗ phụ để khói lửa vào mạnh hơn. Xuất phát từ suy nghĩ đơn giản đó, tôi mừng quá, vội bỏ hẳn một buổi trưa trốn ra một nơi kín, hì hục đào thử: Kiểu bếp này có đường dẫn khói (như hang chuột). Tôi đốt thử, khói ra mạnh quá. Tôi liền đào thêm hố chứa khói thì thấy khói không ra mạnh nữa. Tôi lại đào đường dẫn khói dài thêm ra. Nhờ vậy, khói chỉ lan trên mặt đất mà không bốc cao. Thấy vậy, tôi vội về cùng bàn với các đồng chí trong tổ nuôi quân. Mỗi người góp thêm một ý, ngay chiều hôm đó, kiểu bếp mới ra đời. Anh em trong tổ ai cũng phấn khởi. Nhưng khi nấu, ngọn lửa vẫn lùa ra chỗ ngồi. Khói xanh vẫn tỏa đặc trên đường dẫn khói. Có ý kiến đề nghị sửa lại đường dẫn khói: đào hơi dốc lên thì ngọn lửa sẽ hút mạnh về phía trước, lấy thân cây chuối rừng lát đường dẫn khói và phủ một lớp đất mỏng lên thì khói sẽ tỏa bò lan trên mặt đất. Khói giảm hẳn nhưng vẫn còn lộ khá rõ. Nghĩ mãi, nghĩ mãi, tôi nhớ hồi còn ở nhà khi nấu cơm gặp trời mưa, khói chui qua mái gianh ướt, bốc lên nhè nhẹ như sương mù. Thế là từ đó chúng tôi nghĩ ra cách chống khói bằng cách cứ vẩy nước lên những lớp đất mỏng phủ đường dẫn khói. Để chống ánh lửa, lúc đầu chúng tôi lấy chăn bông quây quanh bếp, sau đó cải tiến bằng cách đào bếp sâu xuống đất, lấy lá gianh lợp kín chỗ ngồi nên khi nấu ánh lửa không lộ… Từ đó, bếp của chúng tôi có thể đun được cả ngày lẫn đêm. Anh em thương, bệnh binh bữa nào cũng có cơm nước nóng nên ai cũng phấn khởi. Nhiều đồng chí bộ đội hoặc dân công qua lại, mỗi người góp thêm một ý kiến làm cho bếp dần hoàn chỉnh, bảo đảm không lộ lửa khói dù ban ngày hay ban đêm.
Ý nghĩa của bếp Hoàng Cầm trong kháng chiến
Như thế, trong cuộc chiến tranh ái quốc của nhân dân ta, đế quốc Pháp không chỉ phải đương đầu với vũ khí hiện đại, lòng quả cảm vô song của mỗi dân quân ta mà còn phải đối phó với bếp lửa nuôi quân. Vì khi bộ đội được ăn no, ăn ngon thì sức chiến đấu tăng thêm bội phần. Đúng như nhận định của Ban nghiên cứu lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị:
“Đời sống tinh thần, vật chất của cán bộ, chiến sĩ được cải thiện, “bếp Hoàng Cầm” đã giúp bộ đội ta được ăn nóng, uống nóng, tắm nóng mỗi ngày tại mặt trận” (Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam – NXB Quân đội Nhân dân – 1977, tr. 452).
Hình ảnh anh nuôi trong thơ ca
Chính từ những bữa ăn ngon như thế này tại chiến trường, nhà thơ Lưu Trùng Dương đã có bài thơ ca ngợi công việc thầm lặng của các “đồng nghiệp” Hoàng Cầm:
Thương nhất anh nuôi
Những ngày lễ lớn
Bạn bè nô nức vui chơi
Anh nuôi vất vả gấp đôi ngày thường
Những khi giữa chợ tần ngần
Cẩm dăm đồng bạc tính gần tính xa:
Mua bí hay là mua cà?
Bí ăn chê ngứa, còn cà khó tiêu!
Gừng cay muối mặn lắm điều
Chín người mười ý anh chiều khó thay!
Nhưng rồi dù khó khăn đến đâu thì anh nuôi cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Rồi trong cuộc trường chinh đánh Mỹ, bếp nuôi quân Hoàng Cầm lại cùng người chiến sĩ vượt Trường Sơn cứu nước. Chiến sĩ Quyết Thắng đã viết nên vẫn lục bát mộc mạc nhưng chan chứa nghĩa tình:
Dừng chân giữa chặng đường xa
Anh nuôi đó lửa… lính ta lại cười
Rau rừng thêm bát canh tươi
Hơi cơm lá nếp đượm mùi quê hương
Bếp Hoàng Cầm ấm đêm trường
Thắm tình đồng chí yêu thương mặn nồng
Giá trị và sự ghi nhận
Sự ra đời của bếp Hoàng Cầm đã nói lên tài trí của người lính cụ Hồ, dù ở cương vị nào, được phân công nhiệm vụ gì nhưng vì lòng yêu nước, yêu đồng đội mà họ đã có những sáng kiến cải thiện công việc của mình một cách tích cực nhất.
Mới đây, tháng 4/2002, nhân vật Martin Yan người khỏi xướng chương trình ẩm thực Yan Can Cook rất nổi tiếng trên thế giới, từng được trường Đại học Johnson & Wales phong tặng bằng Tiến sĩ danh dự về nghệ thuật ẩm thực, Viện Nghệ thuật Colarodo phong tặng Tiến sĩ danh dự về nhân văn- khi đến biểu diễn nấu ăn ở thành phố Hồ Chí Minh thì một trong những ước mơ của ông là được đi thăm địa đạo Củ Chi để được tận mắt chứng kiến bếp Hoàng Cầm!
Có thể nói, dù ở vị trí nào trong lực lượng vũ trang nhân dân, các chiến sĩ đều nhớ lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân. Đó là vinh dự cao nhất, nếu có thành tích gì thì chủ tịch và người nấu cơm phải chia nhau cái vinh dự ấy.
Anh nuôi Hoàng Cầm đã được Chính phủ tặng một Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, hai Huân chương chiến công hạng Ba và năm 1952 với việc cải tiến bếp nuôi quân, ông đã được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.