Khái quát
Đêm thấp thoáng ánh trăng. Trăng vàng như lụa mỏng dát trên mặt sông. Đâu đó có tiếng gà vọng lại. Dù mới hứa hôn với người yêu, nhưng chàng thanh niên 23 xuân xanh giữ lấy vẫn quyết định của mình. Chao ôi! Giây phút ấy bịn rịn và yêu thương biết dường nào. Tưởng chừng như hương tóc của nàng vẫn còn thấp thoáng trên môi. Trên đường đi ròng rã suốt sáu tháng trời ra Việt Bắc, gặp lúc trăng sáng chàng lại nhớ nàng không nguôi và càng bền chí đeo đuổi chí hướng của đời mình. Từ Quảng Nam, chàng trèo non lội suối ra chiến khu Việt Bắc, vì hay tin giáo sư toán học Lê Văn Thiêm từ châu Âu về mở Trường Đại học Khoa học Cơ bản. Tin vui này thôi thúc trong lòng chàng một niềm say mê vô bờ dành cho toán học, và chàng càng nung nấu quyết tâm “tầm sư học đạo”. Chàng thanh niên đó là Hoàng Tụy, mồ côi cha lúc mới lên 4, về sau cũng sẽ là một nhà toán học lừng danh.
Ông là tác giả của trên 100 công trình đăng trên các tạp chí có uy tín quốc tế về nhiều lĩnh vực khác nhau của toán học như quy hoạch toán, tối ưu toàn cục, lý thuyết điểm bất động và định lý minimax, lý thuyết các bài toán cực trị, đặc biệt công trình quy hoạch lõm đã mở ra một hướng mới trong quy hoạch phi tuyến và đang tiếp tục phát triển. Tác giả của 7 cuốn giáo trình và sách chuyên khảo, đặc biệt là cuốn “Tối ưu toàn cục” bằng tiếng Anh viết chung với R. Host do Nhà xuất bản Springer, Cộng hòa Liên bang Đức in năm 1991, cuốn “Tối ưu toàn cục trên các cấu trúc hạng thấp”, viết chung với H. Konno và P.T.Thạch và cuốn “Giải tích lồi và tối ưu hóa”, do Nhà xuất bản Kluwer in năm 1996, 1998 (Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 2, tr.338).
“Tôi cho rằng Hoàng Tụy là một người hiền, với một quá khứ và kinh nghiệm sống khác thường. Dường như không một khó khăn hay thách đố nào – trong toán học, giáo dục, quản lý hay nói chung trong cuộc sống mà ông không biến nó thành một nỗ lực để thành công” (Seven Erlander – Chủ tịch Đại học Linkoping – Thụy Điển).
Xuất thân và thời niên thiếu
Giáo sư Hoàng Tụy sinh ngày 7/12/1927, tại làng Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng Nam. Ông nội của ông là em ruột Tổng đốc Hoàng Diệu. Địa danh làng Xuân Đài là một trong những vùng đất văn hiến của vùng đất “ngũ phụng tề phí” có truyền thống hiếu học nổi tiếng. Ta có thể kể đến những tên tuổi lừng danh như chí sĩ Lê Đình Dương, bác sĩ Lê Đình Thám, nhà cách mạng Phan Thành Tài, học giả Phan Khôi, nhà chính trị Phan Thanh, nhà giáo Lê TríViễn, nhà thơ Khương Hữu Dụng v.v… Những tấm gương hiếu học, yêu nước ấy chắc chắn có ảnh hưởng đến tâm trí của Hoàng Tụy.
Thuở nhỏ ông học trường làng Bảo An. Trả lời phỏng vấn của Giáo su Neal Koblitz – Đại học Washington ở Seattle (Hoa Kỳ), ông cho biết:
Khi còn là đứa trẻ đi học trường làng tôi đã học giỏi hai môn văn và toán. Sau đó tôi ra Huế, nơi anh tôi đang dạy trung học tư thục và vào học trường lít-xê ở đó – một trong ba trường tốt nhất Đông Dương lúc ấy. Nhưng không may giáo viên văn của tôi dạy dở, còn giáo viên toán thì rất giỏi.
Koblitz hỏi tiếp:
Đó là những năm tháng chiến tranh thế giới thứ hai. Việc học của ông có bị gián đoạn không?
– Có, việc học của tôi không tốt lắm do tôi bị ốm. Năm 15 tuổi, tôi phải bỏ học một năm vì bị bệnh phổi và liệt bán thân. Tôi bị liệt mất 3 tháng và có nguy cơ mang bệnh suốt đời. Thế nhưng rất may là sau đó tôi được chữa khỏi nhờ một ông thầy châm cứu lành nghề. Đó là năm 1942. Pháp và Nhật đang chiếm đóng Đông Dương. Máy bay Mỹ ném bom thường xuyên, ngay cả ở làng tôi vì nằm giữa hai con sông gần hai chiếc cầu trên tuyến đường sắt xuyên Đông Dương nên gần như ngày nào chúng tôi cũng phải xuống hầm trú ẩn tránh máy bay. Sau khi bỏ học một năm vì ốm, khi đi học lại thì tôi bỏ trường lít-xê chuyển sang trường tư thục, ở đó tôi có thể nhảy cóc 2 lớp và nhờ đó tốt nghiệp trung học sớm một năm, vào năm 1946. Thế nhưng lại có chuyện vì cách mạng diễn ra năm 1945.
Học tập và tham gia cách mạng
Koblitz:
“Cách mạng ảnh hưởng thế nào tới kế hoạch của ông?”
– Đấy là thời kỳ cách mạng. Sau khi đỗ tú tài phần I tôi trở về làng tham gia cách mạng. Lúc đó tôi 18 tuổi và nhận ra rằng sẽ rất khó có cơ hội được học tiếp để thi tú tài phần II (toàn phần). Bằng tú tài toàn phần lúc đó gồm hai bằng: bằng tú tài phần 1 (bán phần), thi đỗ phải học một năm nữa mới thi lấy bằng tú tài phần II (toàn phần), ban toán hoặc ban triết, mỗi bằng trải qua một kỳ thi khó, được tổ chức hai lần một năm vào tháng năm và tháng chín. Sau khi trở lại Huế vào tháng 2 năm 1946, tôi chỉ có ba tháng để chuẩn bị cho kỳ thi tháng 5 và chỉ mong qua được phần thi viết, còn phần vấn đáp thì để lại đến kỳ tháng 9 sẽ thi nốt. Nhưng kết quả thi viết của tôi cao nên tôi quyết định thi luôn ngay phần vấn đáp, tuy chưa kịp chuẩn bị gì cho phần này. Không ngờ, tôi đỗ đầu trong cả kỳ thi. Thế là tôi có thời gian nghỉ ngơi đôi chút và đi làm kiếm tiền để ra Hà Nội học đại học.
Koblitz:
“Ông có vào thẳng trường đại học không?”
– Ba tháng hè năm 1946 tôi dạy tư, kiếm tiền để đi Hà Nội. Cuối tháng 9 tôi đi tàu từ Huế ra Hà Nội để vào trường đại học. Lúc đó tôi đã nghe tiếng ông Lê Văn Thiêm, sau này trở thành người sáng lập ra các cơ sở toán học ở Việt Nam, và rất muốn được học với ông Thiêm. Có tin đồn ông ấy sẽ từ châu Âu trở về nước năm đó để làm giám đốc trường Cao đẳng Khoa học Hà Nội. Trường này theo hệ thống đại học Pháp, tôi ghi tên theo học chương trình năm đầu của bằng cử nhân toán. Nhưng chỉ hai tháng sau đó, vào tháng 12 năm 1946, chiến tranh nổ ra, Pháp chiếm Hà Nội, trường đại học đóng cửa.
Koblitz:
“Thế ông làm gì?”
– Tôi dùng hết số tiền còn lại mua các sách toán đại học của Pháp đem về để tự học. Sau đó tôi quay về quê, ở phía nam Quảng Nam. Đầu năm 1947, tình hình Việt Nam trở nên phức tạp. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, theo thỏa thuận của phe Đồng Minh, quân đội Tưởng Giới Thạch chiếm đóng miền Bắc (kéo dài đến phía nam Đà Nẵng), còn quân Anh thì chiếm miền Nam. Mục đích của họ là giải giáp quân Nhật, nhưng Pháp đã thỏa thuận để thay thế quân Tưởng và quân Anh. Do đó, quân Pháp đã có mặt ở nhiều thành phố kể cả Đà Nẵng, trong khi chính quyền cách mạng mới xây dựng. Tình hình quân sự rất không thuận lợi cho chúng tôi. Chúng tôi kháng cự quân Pháp được hai, ba tháng rồi quân đội Việt Nam phải rút lui ra khỏi các thành phố. Tôi phải nói rằng chúng tôi rút lui khá lộn xộn vì bị bất ngờ trước quy mô tấn công của quân Pháp. Khi quân đội rút khỏi thành phố thì nhiều người dân cũng bỏ thành phố ra đi, bỏ lại đồng bằng để đi lên vùng núi. Thật kinh khủng. Chúng tôi đốt sạch nhà cửa, ruộng vườn để địch không còn có gì dùng được khi chúng tới.
Koblitz:
“Ông đi đâu? Ông có sống cùng gia đình không?”
– Tôi sống với mẹ và anh em ở miền núi phía tây tỉnh nhà khoảng mấy tuần. Sau đó cả gia đình chúng tôi chuyển đến Quảng Ngãi, một vùng chưa bị địch chiếm, cách quê tôi khoảng 100km về phía nam. Đến Quảng Ngãi tôi được cử đi dạy ở một trường trung học. Thời đó trường trung học này là tốt nhất ở vùng tự do của chúng tôi (gọi là Liên Khu 5). Tôi dạy toán ở đó từ năm 1947 đến năm 1951.
Koblitz:
“Công tác giáo dục có bình thường trong thời kỳ này hay không?”
– Cũng bình thường ở một mức độ nhất định. Vùng tự do khá ổn định, có trình độ tổ chức kinh tế và chính trị với đời sống văn hóa khá cao so với điều kiện chiến tranh lúc bấy giờ.
Koblitz:
“Chính trong thời kỳ này ông viết sách giáo khoa?”
– Vâng, cuốn sách được một nhà xuất bản kháng chiến in năm 1949. Đó chỉ là một cuốn sách hình học dành cho học sinh trung học, nhưng là cuốn sách toán học đầu tiên của vùng kháng chiến Liên khu 5″.
Qua cuộc trò chuyện thú vị này, chúng ta thấy được đôi nét về sức học của Hoàng Tụy thuở xuân xanh. Sau 6 tháng lặn lội ra đến Việt Bắc thì lúc ấy trường chưa mở, ông được cử đi dạy ở Khu học xá Trung ương đóng tại Nam Ninh (Trung Quốc). Ở đây các hiệu sách phần lớn đều bán sách tiếng Nga, tiếng Anh thế là ông tự học tiếng Nga qua tiếng Anh. Thật kỳ lạ, chỉ với quyển sách mỏng Russian in three months (Tiếng Nga trong ba tháng), ông đã tương đối đủ vốn từ để đọc quyển Lý thuyết hàm biến số thực của I.P. Natanson và một số sách khác để có thể nâng cao trình độ.
Đóng góp cho vận trù học và sự ra đời của lý thuyết Tối ưu Toàn cục
Thế nhưng, Hoàng Tụy lại chuyển qua một hướng nghiên cứu khác. Trả lời phỏng vấn của Koblitz, ông cho biết: “Tôi nhận ra rằng lĩnh vực đó không thật hữu dụng cho đất nước mình. Tất nhiên đó là một lý thuyết đẹp nhưng hơi lý thuyết quá và theo nhận thức của tôi lúc đó, hơi xa thực tế (ít nhất điều đó đúng ở thời điểm đó nhưng nay dường như đang thay đổi). Năm 1961 tôi bắt đầu nghiên cứu vận trù học và lý thuyết tối ưu”. Đây là lần đầu tiên vận trù học được đưa vào Việt Nam. Ông kể tiếp: “Năm 1961, tôi đọc báo biết tin các nhà toán học Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu lĩnh vực này. Ngay cả nhà lý thuyết số, đại số và lý thuyết hàm nổi tiếng Hua Lo Keng cũng tích cực quảng bá ngành này, Thế nên khi ông Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học khi đó và cũng là một nhà toán học, đi thăm Trung Quốc, tôi đề nghị ông tìm hộ thông tin về vận trù học. Khi trở về, ông ấy đã trao cho tôi một số tài liệu, và từ đó tôi bắt tay làm việc thực sự theo hướng này”. Với một nghị lực và sức học phi thường, giáo sư Hoàng Tụy đã công bố những công trình nghiên cứu thật sự gây tiếng vang quốc tế. Đây cũng là năm tháng tươi đẹp nhưng cũng đầy cam go trong cuộc đời ông. “Công trình được công bố năm 1964 ấy không phải là một luận văn tiến sĩ dài bốn năm trăm trang, mà chỉ là một bài báo ngắn, vỏn vẹn có 4 trang khổ nhỏ, trên báo cáo của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Kết quả đáng tin cậy nhất của bài báo là đưa ra một Lát cắt độc đáo. Lát cắt thật giản dị, nhưng lại có khả năng ứng dụng rất đa dạng, không chỉ để giải những bài toán tối ưu toàn cục (những bài toán “khó về bản chất”; trước đó chưa có ai giải được) mà còn để giải những bài toán quy hoạch tổ hợp. Phương pháp do Hoàng Tụy đề xuất về sau được giới toán học quốc tế gọi là “Lát cắt Tụy” (Tuy’s cut) và được coi là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự ra đời của một chuyên ngành toán học mới: Lý thuyết tối ưu toàn cục” (Xem báo Quảng Nam Chủ nhật số ra ngày 14/12/1977).
Sự tôn vinh của giới toán học quốc tế
Chính với đóng góp quan trọng này mà nhân kỷ niệm 70 năm ngày sinh của ông (1927-1997), từ ngày 22 đến 24/8/1997, Học viện công nghệ Linkoping (Thụy Điển) đã tổ chức một hội thảo quốc tế chủ đề “Từ tối ưu địa phương đến tối ưu toàn cục” để tôn vinh ông “người đã có công tiên phong trong lĩnh vực tối ưu toàn cục và quy hoạch toán học tổng quát” với sự tham dự của nhiều giáo sư quốc tế hàng đầu. Các báo cáo trong hội thảo này được tập hợp trong cuốn chuyên khảo “From Local to Global Optimization” đề tặng ông, do Kluwer xuất bản. Đồng thời tạp chí quốc tế “Journal of Global Optimization” và tạp chí “Acta Mathematica Vietnamica” đều có những số đặc biệt để tặng ông. Bốn tháng sau, từ ngày 26 đến 29/12/1997 tại Hà Nội, Viện Toán học cũng tổ chức một hội nghị quốc tế về “Giải tích ứng dụng và tối ưu” nhân dịp này.
Quan điểm của Hoàng Tụy về Tối ưu Toàn cục và vận trù học
Để hiểu hơn về cống hiến của nhà toán học Hoàng Tụy, chúng tôi xin mời các bạn tham khảo phát biểu của chính ông (Báo TV Đài Truyền hình Việt Nam số ra ngày 20/3/2003): “Lý thuyết tối ưu là một công cụ cơ bản của Vận trù học được áp dụng rộng rãi ở các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật hiện đại. Tối ưu toàn cục mà trong đó tôi có đóng góp nhiều là một ngành của lý thuyết tối ưu. Lần đầu tiên vào năm 1974, tại một Hội nghị quốc tế về vận trù học ở Hunggary, có một số nhà khoa học làm việc trong hãng NEC (Nhật Bản) gặp tôi và khoe rằng trong việc nghiên cứu, họ đã gặp một bài toán quy hoạch lõm và đã dùng phương pháp của tôi để giải. Sau này ở nước ngoài, Tối ưu toàn cục đã được áp dụng có kết quả trong nhiều lĩnh vực khoa học, kinh tế, kỹ thuật. Chẳng hạn, hiện nay người ta đang ứng dụng nó trong việc tổng hợp protein.
Việt Nam là một trong những nước áp dụng Vận trù học sớm trên thế giới, ngay từ đầu những năm 60, Vận trù học là khoa học giúp người ta tìm ra giải pháp tốt nhất cho từng tình huống cụ thể, làm sao hao phí ít nhất hoặc đạt được hiệu quả cao nhất. Ban đầu chúng ta áp dụng Vận trù học vào giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp nhẹ… Ngay trong chiến tranh các hoạt động của Vận trù học vẫn tiếp tục. Lúc đó tiếc rằng sau chiến tranh và nhất là thời bao cấp, việc áp dụng Vận trù học rất khó khăn vì các cơ quan Nhà nước, các xí nghiệp, các ngành không hoặc ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Các cán bộ toán đã xuống một số nhà máy, xí nghiệp để áp dụng Vận trù học. Kết quả nói chung khả quan, nhưng hồi ấy không có máy vi tính cho nên có khó khăn là khi chúng tôi rút thì xí nghiệp không tự làm được. Sau thời kỳ đổi mới, và nhờ máy vi tính ngày càng phổ cập, việc áp dụng Vận trù học có điều kiện thuận lợi để phát triển. Nhất là để nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế thì việc làm ăn có tính toán khoa học rất cần thiết. Cho nên Vận trù học, Tối ưu hóa được áp dụng rộng rãi ở các nước. Tiếc rằng chúng ta chưa quan tâm đến vấn đề này, mặc dù về khoa học trên lĩnh vực tối ưu chúng ta đã có một đội ngũ khá mạnh. Đó là việc lãng phí lớn, chúng tôi đã nhiều lần đề nghị với cấp trên, nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết quả gì.
Đó là điều thực đáng tiếc. Còn nhớ, trước khi đi xa, Bác Hồ có gọi tôi lên hỏi về vận trù học. Sau khi nghe tôi trình bày, Bác căn dặn: “Chú cố gắng áp dụng ở nước mình”. Tôi cũng thiết tha mong muốn tiếp tục công việc đó. Nhưng thiếu sự ủng hộ và khuyến khích cho nên phong trào áp dụng Vận trù học tàn lụn dần. Cán bộ ngành này thì ngày càng già, mà không có người nối tiếp. Chúng ta lại không quan tâm đào tạo đội ngũ kế cận.
Hoạt động khoa học và những cương vị quan trọng
Năm 1970, ông cùng với giáo sư Lê Văn Thiêm thành lập Viện Toán học Việt Nam. Năm 1976, là giáo sư thỉnh giảng của Trường Đại học Orsay Paris-Sud (Pháp). Tiếng tăm của ông ngày càng được thế giới biết đến. Tại Hội nghị quốc tế lớn về Lập trình Toán học tại Budapest ông là người Việt Nam rất vinh dự được mời đọc “Tham luận toàn thể”. Sau đó, ông được mời đi giảng bài tại nhiều trường đại học hàng đầu trên thế giới… Năm 1980 ông là giám đốc Viện Toán và Tổng thư ký Hội Toán học Việt Nam; Năm 1983, ông là giám đốc Trung tâm Giải tích hệ thống ứng dụng, Viện Quản lý Quốc Gia, Hà Nội. Ít ai biết, năm 1988, Hội nghị Quốc tế Tokyo lần thứ 13, tạp chí Global Optimization (Tối ưu toàn cục) được thành lập và mời ông làm Tổng biên tập. Nhưng do quan hệ quốc tế Việt Nam còn khó khăn nên ông từ chối.
Những đánh giá và sự tôn vinh cuối đời
Nếu năm 1997, Học viện công nghệ Linkoping (Thụy Điển) đã tổ chức một hội thảo quốc tế chủ đề “Từ tối ưu địa phương đến tối ưu toàn cục” để tôn vinh ông, thì tháng 12/2007, Hội nghị quốc tế về Lập trình không lồi cũng tổ chức tại Rouen (Pháp) để mừng thọ giáo sư Hoàng Tụy 80 xuân. Theo Giáo sư – Tiến sĩ Hoàng Xuân Phú (Viện Toán học): “Vào khoảng năm 1970, khi tôi đang học toán tại Trường Đại học Tổng hợp Leipzig, thì Giáo sư Lê Văn Thiêm đến thăm Cộng hòa Dân chủ Đức. Có nghiên cứu sinh đặt câu hỏi: “Hiện nay ai là nhà toán học Việt Nam có uy tín nhất trên thế giới?”. Giáo sư trả lời rằng: “Anh Hoàng Tụy”. Nhận định ấy của người được coi là cha đẻ của nền toán học hiện đại Việt Nam và lúc đó đang là Viện trưởng Viện Toán học”.
Giáo sư Nhật Bản Takahito Kuno tôn vinh Giáo sư Hoàng Tụy là “Ông Già Tuyết đến từ một đất nước phương Nam” đã gọi cho chúng ta nhớ đến hình ảnh của ông già Noel trong huyền thoại tốt tươi của nhân loại.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ.