Bối cảnh lịch sử sau Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève
Lúc 5 giờ chiều ngày 7/5/1954, lá cờ Quyết chiến quyết thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam tung bay hiên ngang trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castrie. Cuộc trường kỳ kháng chiến ròng rã chín năm của một dân tộc anh hùng hoàn toàn thắng lợi, đã tạo được tiếng vang “chấn động địa cầu”. Ngay ngày hôm sau, ngày 8/5/1954 Hội nghị Genève (Thụy Sĩ) về Đông Dương bắt đầu họp và kết thúc vào đêm 20 rạng ngày 21/7/1954. Hội nghị đã công bố bản Hiệp định có 6 chương, 47 điều và 1 phụ bản, với nội dung chủ yếu như: Việt Nam chia làm hai vùng trung lập; ranh giới tạm thời là vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải); một khu phi quân sự rộng không quá 5km dài theo hai bên bờ, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 14/8/1954; lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở phía bắc giới tuyến, lực lượng Liên hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến. “Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ” và quy định thời hạn dứt khoát về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam vào tháng 7/1956. Tôn trọng Hiệp định Gienève, vào lúc 0 giờ ngày 22/7/1954, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam ra lệnh ngưng bắn trên toàn chiến trường Việt Nam. Từ ngày 19/8/1954, bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Campuchia và Nam vĩ tuyến 17 lần lượt chuyển quân ra Bắc tập kết. Trong tâm thức của nhiều người thì chỉ trong vòng hai năm tổng tuyển cử, đất nước thống nhất thì Nam – Bắc lại đoàn tụ một nhà. Nhà thơ Xuân Miễn có viết bài thơ Gói đất miền Nam, nói lên tình cảm của bà mẹ tiễn con đi tập kết thật cảm động:
Tiễn ra tận bến tàu
Đưa con một gói đất nâu
Vịn vai mẹ dặn:
“Con về Thủ đô
Đem dâng cụ Hồ
Gói đất miền Nam
Thưa dù núi cách, sông ngăn
Đồng bào Nam bộ vẫn gần bên Cha
Tình yêu thắm thiết đậm đà
Nam là của Bắc, Bắc là của Nam…”
Êm êm tiếng mẹ thều thào
Rạt rào sóng nước, dạt dào tình con
Thế nhưng, tình hình chính trị đã không diễn ra theo đúng quy định của Hiệp định Genève. Từ tháng 6/1954, tại thành phố Can (Pháp) dưới áp lực của Mỹ, Pháp và Bảo Đại đành phải chấp nhận con bài Ngô Đình Diệm. Diệm được Mỹ đưa về Việt Nam lập nội các mới, gồm 17 thành viên mà Diệm là Thủ tướng thay Bửu Lộc, đặt dưới sự bảo trợ của Mỹ. Sau đó, để lừa mị quần chúng, Mỹ – Diệm hất chân Bảo Đại khỏi sân khấu chính trị bằng chiêu “bài phong” và gạt Pháp bằng chiêu “đả thực”. Không dừng lại đó, ngày 23/10/1955, chúng còn tổ chức cái gọi là “trưng cầu dân ý” để “danh chính ngôn thuận” đưa Diệm lên làm Tổng thống của nước “Việt Nam Cộng hòa”.
Trong thời điểm này, một cán bộ cao cấp của Đảng Lao Động Việt Nam đang hoạt động tại miền Nam đã nhận thức được tính chất phức tạp của mọi diễn biến chính trị đang xẩy ra, ông cho rằng: “Dùng chính trị, quân sự đánh với đế quốc Pháp sống chết như vậy mà chỉ giành được nửa nước; bây giờ chính trị không thôi thì chẳng bao giờ đế quốc lại giao nửa nước còn lại cho ta. Nhất thiết ta phải dùng quân sự, chính trị để chiếm lại miền Nam thôi, không còn con đường nào khác”. Do đó, ông chủ trương chỉ tập kết một phần cán bộ và bộ đội, còn thì chuyển cán bộ từ nơi này sang nơi khác, lập ra các chi bộ, cấp ủy mới, cất giấu vũ khí để sẵn sàng chiến đấu. Và bản thân ông cải trang làm nông dân, ngư dân, sống lẫn trong đồng bào lao động để nắm bắt tình hình. Từ thực tế, ông rút ra kết luận, nhân dân miền Nam phải tiến hành cách mạng bạo lực để tự giải phóng mình, chứ ngoài ra không còn con đường nào khác. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của ông đối với lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam là đã dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam gửi ra Bác Hồ và Trung ương Đảng.
Có thể khẳng định, bản Đề cương này đã có những đóng góp lớn cho sự ra đời của Nghị quyết 15 về đường lối cách mạng miền Nam được của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) thông qua vào tháng 1/1959. Nghị quyết này khẳng định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.
Nhận thức này đã mở ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam phát triển từ thế giữ gìn lực lượng lên thế tiến công, đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng, tạo bước nhảy vọt, mà đỉnh cao là phong trào Đồng khỏi năm 1960 và tiếp tục dẫn đến thắng lợi vĩ đại 30/4/1975 thống nhất đất nước.
Tiểu sử
Người cộng sản có tầm nhìn chiến lược đã viết Đề cương cách mạng miền Nam là Lê Duẩn. Ông tên thật Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907 tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong (Quảng Trị) trong một gia đình nhà nho nghèo, làm ruộng, con trai ông Lê Văn Hiệp và bà Võ Thị Đạo.
Sinh ra trên một vùng đất mà nhiều người tự hào là “lò sinh quan, nôi sinh sử tử” và có truyền thống yêu nước, Lê Duẩn được cha mẹ cho ăn học chu đáo. Niên khóa năm 1919 – 1920, ông thi đậu yếu lược và được lên học trường tỉnh. Nhưng ít lâu sau, do gia đình túng thiếu nên ông phải nghỉ học, trở về làng mở lớp dạy học kiếm sống. Trong thời gian này, được nghe cha và các bạn của cha bàn về chuyện “quốc sự” nên ông dần dần có ý thức về đời sống chính trị đang diễn ra, và nhất là trong những năm 1925, 1926 với phong trào đấu tranh đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh đang lan rộng từ Nam chí Bắc. Thế hệ tuổi trẻ lúc ấy đã chịu ảnh hưởng rõ rệt từ những sự kiện này và hăm hở thoát ly đi làm cách mạng. Lê Duẩn cũng vậy, năm 1927, ông vào Đà Nẵng làm kế toán công nhân tại Sở Hỏa xa và bí mật tìm đọc những tác phẩm có tư tưởng tiến bộ. Nhưng phải đến lúc được đọc tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc trên mảnh đất Ngũ Hành Sơn, thì Lê Duẩn mới thật sự có chí hướng đi vào hoạt động cách mạng. Ông gia nhập đảng Tân Việt, đây một đảng cách mạng gồm nhóm chính trị phạm ở Trung kỳ, từng bị thực dân đày ra Côn Đảo sau phong trào chống sưu thuế năm 1908 và các trí thức có tư tưởng tự do, dân chủ.
Năm 1928, khi đoạn đường sắt Vinh – Đông Hà khánh thành, nối liền Đà Nẵng với Hà Nội thì Lê Duẩn được điều ra làm việc ở ga Hà Nội. Tại đây, ông bắt liên lạc với Việt Nam Cách mạng Thanh niên (trước đây gọi là Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội) -một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 2/1930, ông được kết nạp vào Đảng và tổ chức phân công làm bí thư chi bộ ga Hà Nội, sau đó được điều về công tác tại Thành ủy Hà Nội. Ngày 20/4/1931, ông bị thực dân vây bắt tại ngôi nhà số 8 ngõ Quảng Lạc (Hải Phòng).
Chúng đã kết án ông 20 năm tù cấm cố tại nhà giam Hỏa Lò.
Hoạt động cách mạng
Chúng đã kết án ông 20 năm tù cấm cố tại nhà giam Hỏa Lò. Đây là một trong những nhà tù kiên cố và “nổi tiếng” nhất tại Việt Nam, hoàn thành vào năm 1899, do hai nhà thầu Fournier Tre’lluyer và Levache xây dựng với kinh phí 121.243,4 đồng. Nó được xây dựng trên mảnh đất hình thang thuộc thôn Phụ Khánh, tổng Vĩnh Xương, huyện Thọ Xương cũ – nơi này thuở xưa chuyên nặn hỏa lò bằng đất, nung chín nên “chết tên” như ta đã biết. Đối diện với nhà tù là tòa án; phía tây nam giáp với phố Thợ Nhuộm, phía tây giáp với phố Quán Sứ, phía bắc giáp phố Hai Bà Trưng. Theo hồ sơ số 3921 tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia 1 thì ta được biết:
Điều 17 trong các điều kiện đấu thầu ghi rõ: “Tất cả kim loại được dùng phải nhập từ Pháp, và có chất lượng hàng đầu. Các ổ khóa, bản lề, ke của, đinh móc và các góc của phải là những loại có chất lượng hàng đầu và được kiến trúc sư chấp nhận. Tất cả các khóa và đồ kim loại phải được đặt cẩn thận và phải khóp trong các khe và rãnh soi để sẵn”. Điều 18 quy định “Việc sơon: Khi sơn phải sơn 3 lớp. Màu sơn sẽ được chỉ định trong quá trình thực hiện công việc”. Điều 19 quy định: “Kính tấm được sử dụng phải là kính được chuyển từ Pháp sang… Kính phải rất rõ và không có bọt”. Điều 30 quy định “Kiểm tra thổ nhưỡng móng: Ngay khi đào đất xong, người thầu khoán phải cho gọi kiến trúc sư đến để kiểm nghiệm đất móng và nếu được, kiến trúc sư sẽ cấp giấy phép bắt đầu xây dựng”. Điều 8 quy định: “Vật liệu xây dựng: Gạch phải được thấm nước trước khi xây để dễ bám vữa…
Tất cả những chi tiết này cho thấy, thực dân Pháp quyết xây dựng nhà tù thật kiên cố để không một tù nhân nào có thể trốn thoát, nhưng trong thực tế đã có không ít trường hợp tù chính trị vượt ngục trót lọt. Đối với người yêu nước Việt Nam nói chung, nhà tù không phải là nơi đầu hàng bạo lực mà họ đã biến nơi ấy thành trường học để tiếp tục học tập lý luận, tranh luận về các chủ nghĩa để nuôi dưỡng tinh thần cách mạng, thậm chí họ còn bí mật lập các chi bộ để tiếp tục phát triển đảng. Một bài thơ của ông Tú Nguyễn Thúc Khiêm ít nhiều cho thấy khí phách của chính trị phạm thời đó:
Đã trót vào qua chốn Hỏa Lò,
Nước thùng cơm gạo phải xơi no.
Đã mềm lưỡi nuốt trôi đầu cá,
Lại cứng răng nhai phứa thịt bò.
Máy chém lêu nguêu đồ ngáo ộp,
Xà lim toen hoẻn món xôm trò.
Hễ còn nô lệ còn tranh đấu,
Cho đến bao giờ được tự do.
Bị giam tại Hỏa Lò đến tháng 2/1933, thì Lê Duẩn lại bị chuyển lên nhà tù Sơn La – nơi rừng thiêng nước độc đã giết chết biết bao người yêu nước. Chắc chắn thuở đó, Lê Duẩn đã sống trong tình cảnh mà sau này tù chính trị Trần Huy Liệu từng tự trào:
Một xích hai thằng khắp đó đây,
Ngủ, ăn, ỉa, đái chẳng rời tay.
Anh em ta thắt dây đoàn kết,
Trong lúc năm châu khói lửa đầy.
Nhưng Lê Duẩn không ở đây lâu, tháng 11/1931, ông lại bị đưa về Hỏa Lò rồi đày ra Côn Đảo, giam ở Đề lao II, số tù 31114. Bấy giờ, tình hình chính trị ở bên ngoài đã có nhiều thay đổi. Cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của người Việt Nam yêu nước không đơn độc, sự hy sinh của họ đã đánh thức được lương tri của chính người Pháp. Từ tháng 6/1934, Đảng Cộng sản Pháp đã quyết định gấp rút việc tổ chức thành lập Mặt trận công nhân thống nhất và trên cơ sở đó thành lập Mặt trận nhân dân. Đây là sự kiện chính trị quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chính trị ở Đông Dương. Và cũng theo sáng kiến của Đảng Cộng sản Pháp, Ủy ban vận động toàn xá tù chính trị Đông Dương đã được thành lập. Sau đó, phái đoàn công nhân điều tra do Gabriel Péri – một nghị sĩ cộng sản tại Quốc hội Pháp dẫn đầu đã sang Đông Dương. Phái đoàn này có nhiệm vụ xác minh tại chỗ những người yêu nước bị chính phủ thuộc địa đàn áp và điều tra tình cảnh của giai cấp công nhân sau cuộc khủng hoảng kinh tế. Từ cuối tháng 4/1934, trên cơ sở các bản báo cáo của phái đoàn này, Hội Cứu tế đỏ đã tổ chức 98 cuộc mít – tinh, vận động quần chúng khắp nước Pháp đòi ân xá cho tù chính trị ở Đông Dương. Nhờ vậy, một số tù chính trị đã được thả tự do trước thời hạn, Lê Duẩn được trở về đất liền trong hoàn cảnh này.
Trở về Quảng Trị, ông đã nén nước mắt khi hay tin mẹ mình vừa mất. Sau đó, ông tiếp tục bắt liên lạc với những người cộng sản như Nguyễn Chí Diễu, Phan Đăng Lưu, Hoàng Thị Ái… để tiếp tục hoạt động. Tháng 3/1938, Xứ ủy Trung Kỳ thành lập, được cử làm Bí thư Xứ ủy, ông đã thuê căn nhà 95C đường Gia Long (nay là số 141 đường Phan Đăng Lưu, phường Phú Hòa, Thành phố Huế), che mắt địch dưới danh nghĩa “Thư quán Thuận Hóa”, nhưng thực chất là nơi liên lạc và tổ chức các lớp tập huấn của Đảng, đào tạo những cán bộ ưu tú cho các tỉnh miền Trung trực tiếp là Thừa Thiên Huế. Tại đây các ông Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu đã làm việc với các đồng chí lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế, phổ biến Nghị quyết của Xứ ủy về phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, đấu tranh ở Viện dân biểu Trung kỳ…
Theo yêu cầu công tác, tháng 9/1939, ông từ Quảng Trị vào Sài Gòn và được Trung ương phân công cùng với các ông Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần chuẩn bị văn bản Hội nghị Trung ương lần thứ 6. Từ ngày 6 đến ngày 8/11/1939, ông Nguyễn Văn Cừ – Tổng bí thư Đảng chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 6 để giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới. Do xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là đánh đổ đế quốc và tay sai, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ. Như thế ta thấy, Đảng chủ trương chuyển từ đấu tranh dân chủ, dân sinh sang trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, không hợp pháp và khỏi nghĩa vũ trang.
Đang hăm hở vận dụng Nghị quyết vào trong thực tiễn để biến thành cao trào cách mạng thì Lê Duẩn lại sa vào tay thực dân. Ngày 18/1/1940, ông bị bắt, giam ở Khám lớn Sài Gòn, rồi đày ra Côn Đảo. Về những năm tháng ở tù, sau này, ngày 27/8/1976 khi đến thăm Côn Đảo, ông có kể lại: “Hồi ở nhà tù Sơn La, tôi bị giam cùng với anh Trường Chinh và nhiều đồng chí khác. Chúng tôi đã chứng kiến cảnh gần hai trăm anh em ở đây, do bị giam cầm, hành hạ mà chín tháng sau đã chết mất năm mươi người, còn bao nhiêu thì ốm đau, vàng vỏ cả. Trong cảnh tù đày chết chóc như vậy, không có tình cảm nào thiêng liêng cao cả bằng tình đồng chí. Ở Côn Đảo, tôi đã sống chung với Bác Tôn, với anh Phạm Văn Đồng và nhiều đồng chí khác. Chúng tôi cũng nghiệm thấy tình đồng chí, tình thương yêu đoàn kết giữa những người cộng sản thật là cao đẹp vô cùng. Nhờ vậy mà trong lúc những người tù thuộc các đảng phái khác nhau phải ngã gục, thì những người cộng sản luôn đứng vững. Thương yêu nhau đến mức một cọng rau, một viên thuốc cũng chia cho nhau, thậm chí có đồng chí trước khi chết không hề nghĩ đến mình mà chỉ lo cho anh em còn sống. Sáng nay, đến thăm lại trại giam cũ, tôi bùi ngùi nhớ tới những đồng chí, những bạn chiến đấu đã chết trong nhà lao mấy chục năm trước. Đồng chí nào lúc ấy cũng chết một cách hết sức thanh thản, anh hùng sau khi làm xong nghĩa vụ. Trong số những đồng chí đã hy sinh, hình ảnh đồng chí Lê Chí Hiếu làm cho tôi xúc động hơn cả. Đồng chí ấy bị bắt cùng một lúc với anh Nguyễn Văn Cừ và tôi.
Vào tù, đồng chí bảo với anh Cù và tôi: “Tao đã nhận tài liệu địch lấy được là của tao, địch có đánh tao thì tao chịu, tao không khai cho chúng mày đâu. Chúng mày cứ chối hết đi. Tao chịu đòn, chịu chết thay cho chúng mày để chúng mày sống hoạt động cho Đảng”. Ở Côn Đảo, đồng chí Hiếu bị đánh đập hành hạ nhiều quá. Biết mình kiệt sức không thể sống được, một hôm nhân lúc bên ngoài gởi cho một cái áo, đồng chí Hiếu không mặc mà đưa cho tôi và nói: “Tao sắp chết rồi, tao nghĩ mãi không biết làm cái gì để phục vụ Đảng đến phút cuối cùng, tao có chết trần truồng cũng không sao, áo đây mày mặc lấy để sống mà làm việc cho Đảng”. Tôi từ chối nhưng đồng chí Hiếu vẫn khăng khăng không chịu. Đồng chí bảo: “Tao nghĩ kỹ rằng, chỉ còn có việc này là tao còn cống hiến được cho Đảng, sao mày không nhận?” Tình thương yêu đồng chí như vậy thật là cao cả”.
Theo nhiều tài liệu, sau chiến thắng 1975 từ Hà Nội vào Sài Gòn, lúc bước xuống sân bay Tân Sơn Nhất, Lê Duẩn đã khẳng định:
Thắng lợi này là thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam, chứ không của riêng ai
Lời phát biểu của ông lúc đó hợp với đạo lý, khi cả dân tộc cùng nhìn lại thành quả chiến thắng. Ngày 15/5/1975, trong diễn văn đọc tại Quảng trường Ba Đình chào mừng:
Tổ quốc vinh quang của chúng ta từ nay vĩnh viễn thoát khỏi khỏi ách nô dịch của nước ngoài, vĩnh viễn thoát khỏi họa chia cắt, chào mừng non sông gấm vóc Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, từ nay hoàn toàn độc lập, tự do và vĩnh viễn độc lập, tự do,
ông đã tuần tự nêu rõ “Vinh quang này thuộc về…”: Chủ tịch Hồ Chí Minh; những anh hùng, liệt sĩ, những đồng bào, đồng chí; nhân dân Việt Nam anh hùng; các lực lượng vũ trang nhân dân; Đảng Lao Động Việt Nam.
Tuy nhiên, trong cuộc đời một con người không thể tránh được có những lúc khiếm khuyết và sai lầm. Trong tập hồi ký Lê Duẩn – một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam (nhiều tác giả – NXB Chính trị Quốc gia – 2002), Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài viết “Đồng chí Lê Duẩn – người cộng sản trung kiên, nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam” đã cho biết:
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã thể hiện ở trình độ cao phương châm tích cực chủ động và cơ động linh hoạt của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Bộ thống soái tối cao, đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn, đã quyết định đúng đắn kế hoạch cơ bản và kế hoạch thời cơ, nhanh chóng chuyển sang kế hoạch thời cơ, từ dự kiến lúc đầu là 2-3 năm với tinh thần “thần tốc, táo bạo, quyết thắng.
Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành được thắng lợi trọn vẹn; trong vòng hai tháng cuộc tiến công vũ bão của ta làm cho địch không kịp trở tay, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Tiếp đó là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đánh dấu kỷ nguyên mới trên đất nước Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ ngày toàn thắng, trải qua 10 năm, Đảng ta tiếp tục khắc phục hậu quả chiến tranh, tìm tòi con đường xây dựng xã hội mới, đã đạt được những thành tựu nhất định, trong đó có những kỳ tích như xây dựng công trình thuỷ điện lớn, đặt nền móng cho ngành công nghiệp dầu khí…
Trong suốt thời gian Anh là Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư, sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng ta nói chung là đúng đắn sáng suốt nên đã giành được thắng lợi vĩ đại, tuy nhiên không phải là không có những khuyết điểm và sai lầm. Ví như trong Tết Mậu Thân, cuộc Tổng tiến công vào một thời điểm bất ngờ là một chủ trương sáng tạo, nhưng đề ra Tổng khởi nghĩa là không phù hợp, và thực tế Tổng khởi nghĩa đã không diễn ra; kéo dài tiến công vào đô thị khi không còn yếu tố bất ngờ, chậm chuyển hướng về củng cố mở rộng, giữ vững các vùng giải phóng và làm chủ ở nông thôn do đó đã gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất rất nặng nề. Lại như vào đầu năm 1973, sau khi Mỹ rút quân, một số ít đồng chí trong cơ quan lãnh đạo đã có xu hướng hòa hoãn, chủ trương ngừng tiến công một thời gian, xoá bỏ hình thái da báo, để ổn định mặt trận. Tuy nhiên, sau các cuộc thảo luận trong Bộ Chính trị và có ý kiến các chiến trường, xu hướng ấy đã không được chấp nhận. Trong Hội nghị Trung ương lần thứ 21, Đảng ta đã đi đến nhất trí tập trung toàn lực hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Sau khi kháng chiến thắng lợi đã không kịp thời chỉnh đốn Đảng, thực hiện dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết, bồi dưỡng đạo đức cách mạng như Di chúc mà Bác Hồ căn dặn. Trong hơn 10 năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước, đã phạm sai lầm nghiêm trọng: muốn nhanh chóng thực hiện kinh tế xã hội chủ nghĩa với hai thành phần quốc doanh và tập thể ở trình độ cao; vận dụng triệt để cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bài xích mọi quan hệ thị trường. Để nhanh chóng thực hiện nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đã vội vã nhập tỉnh, nhập huyện, nhập xã, nhập hợp tác xã. Những chủ trương không phù hợp quy luật đó đã làm cho nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Mãi cho đến năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, nghiêm khắc phê phán tư tưởng giáo điều, chủ quan duy ý chí, đề ra đường lối đổi mới, trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, thì nước ta mới từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng, từng bước phát triển tiến lên.
Những khuyết điểm, sai lầm nói trên là trách nhiệm chung của Bộ Chính trị và Trung ương, trong đó Anh Ba là người chủ trì có trách nhiệm lớn.
Anh Ba là một nhà lý luận có cái nhìn sâu sắc, toàn diện, lại sớm phát hiện những vấn đề mới nảy sinh. Anh tự biết bản thânđã trưởng thành chủ yếu là trong hoạt động chính trị, do đó khi cách mạng chuyển sang hình thức đấu tranh vũ trang thì hết sức coi trọng tự bồi dưỡng về kiến thức quân sự, đã từng để hàng ngày nghe các tư lệnh và chính ủy từ chiến trường về báo cáo; đồng thời hết sức coi trọng việc tham khảo ý kiến của cán bộ tham mưu tác chiến, quân báo ở cơ quan Bộ Tổng tư lệnh, có khi tổ chức nghe và trao đổi ý kiến 3-4 ngày liền.
Anh Ba là một con người giàu tình cảm cách mạng, có khi sôi nổi. Do đó, một mặt thì dễ gần gũi với cán bộ, quần chúng, mặt khác lại có những phản ứng quá mức đối với những ý kiến khác mình. Điều đó đã hạn chế không khí dân chủ trong nội bộ, nhất là về những năm cuối đời (tr.39 – 40).
Thế nhưng, những “khiếm khuyết và sai lầm” ấy vẫn không làm mờ đi hình ảnh của một nhà chính trị lỗi lạc. Có thể khẳng định;
Cuộc đời của Lê Duẩn gắn liền với quá trình cách mạng Việt Nam từ những năm 20 đến những năm 80 của thế kỷ XX trên khắp các miền đất nước, trải qua nhiều thử thách, và đã có những đóng góp quan trọng vào sự lãnh đạo của Đảng, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên những bước vĩ đại
(Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 2)
Năm 2002, nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh của ông, Đảng và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khởi công xây dựng Nhà lưu niệm Lê Duẩn tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong (Quảng Trị). Nhà Lưu niệm này nằm trong một khuôn viên có diện tích 2.000m², nguyên trước đây là nhà vườn, làm bằng gỗ khang trang của cụ Lê Văn Hiệp – thân sinh ông Lê Duẩn.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 10 – Danh nhân chính trị, Nxb Trẻ.