Bản chính của Bộ Lễ quốc triều.
Thượng đẳng phúc thần.
Xưa, trời Nam mở vận, thánh tổ gánh vác cơ đồ trong hơn 20 năm1, vua Hùng dựng nước, gọi là Bách Việt. Bậc hậu nho là tiên sinh họ Trần có thơ rằng:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương.
Nhất phải sơn hà thập bát vương,
Để đức chiêu nhiên đồng nhật nguyệt,
Nhị thiên dư tải ức niên hương.
Nghĩa là:
(Xưa nước Nam được mở từ thời Kinh Dương Vương,
Một dải núi sông, trải 18 đời vua,
Đức vua sáng như vầng mặt trăng, mặt trời,
Hơn hai ngàn năm, thơm mãi đến ức năm).
Lại nói, trải đến đời thứ 18, truyền đến vua Duệ Vương lên ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc đất Việt Trì, lấy quốc hiệu là Văn Lang quốc (nước Văn Lang), kinh đô hiệu là Phong Châu thành (thành Phong Châu). Vua Duệ Vương đức rộng tài cao, là người khoan dung độ lượng, mọi người đều khen là bậc vua hiền.
Lại nói bấy giờ, người nước ta truyền rằng, có người ở châu Quảng Tây họ Ngô tên là Tín, gia đình dòng dõi khoa bảng, đời đời theo nghiệp nhà binh, đến đời ông Tín, giầu có hơn người, cha ông là người cai quản trong huyện. Lúc đó, đất châu ấy bị nhà Tần gây rối. Cha ông bị lính nhà Tần giết, ông bèn tránh về đất Ái châu ta làm nghề y, được một năm sống ở đất ấy, sau đó ông trở lại ở trang Thanh Quả, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Nam.
Bấy giờ ông về sống ở đất hành nghề làm thuốc chữa bệnh cứu người. Mới sống được vài năm nhưng người dân đất ấy ai ai cũng được ông chữa cho khỏi bệnh. Mọi người đều xưng thuốc của ông như thần, tiếng tăm vang khắp. Bấy giờ ở trang Thanh Quả có gia đình ông họ Vũ, bị bệnh đau bụng kinh niên, ông liền lấy thuốc chữa trị cho ông ta. Ông họ Vũ cảm động vì công đức ấy, nhân có cô con gái tên là Ngoạn Nương tuổi vừa 21 (ba bảy), tính nết hiền hòa, dung nhan tuyệt thế, nữ công gia chánh chẳng gì không hay, tam tòng tứ đức đều chẳng thẹn. Bấy giờ ông họ Vũ bèn gả cho Tín công để báo đáp lại ơn nghĩa ấy. Ông vui vẻ bằng lòng lấy cô gái đó. Từ đó nên vợ nên chồng.
Được nửa năm người dân ấp đó ai cũng yêu mến hai vợ chồng, tôn họ là “Y viện nhất dân” (Nhà thuốc vì dân). Lúc đó trong làng có một ngôi chùa (tức chùa Thanh Quả). Tín công nghĩ, ngày tháng cũng nhàn nhã chẳng có việc gì bên xin với người dân cho vào giữ chùa. Người dân ai cũng bằng lòng. Ông bà bèn làm lễ vào chùa. Từ đó [2a] sớm tối chăm chỉ đèn nhang, thắp hương niệm Phật, ngoài ra còn làm thuốc chữa bệnh cho dân. Hai vợ chồng Tín công đều là người lương thiện, thật thà chất phác, khắc cốt ghi tâm làm việc phúc, dốc sức làm điều nhân, lại bỏ của cải sức lực tạo tượng đúc chuông, sùng tu Phật đạo.
Từ ngày hai vợ chồng kết tóc xe tơ, đàn sắt hợp duyên đã được hơn 10 năm mà điểm ngõa chương (điềm lành có con-ND) chưa thấy. Lúc đó ông đã 42 tuổi, thái bà Ngoạn Nương tuổi cũng đã 32. Một hôm ông nằm chơi ở ngoài Phật đường, vườn trúc hây hẩy gió mát, khí hậu ôn hòa, chập chờn ông nằm mơ thấy ở Phật đường mây khói cuồn cuộn, năm sắc mẫu lấp lánh, chợt có đài hoa sen 9 bậc, ngọc bích long lanh ngàn tầng, trên đó thân vàng xán lạn. Ông trông xuống thấy có ba tòa, bên cạnh mỗi tòa áo mũ tề chỉnh sắp hàng la liệt. Bấy giờ thấy có vị đại thần tướng. đứng trước án, mũ sao rực rỡ, áo bào rồng, giáp mũ phượng lấp lánh. Lại nghe thấy tiếng thần tướng thưa rằng:
– Nay cơ đồ nhà Hùng đã hết, thế nước lâm nguy, cho phép long thần giáng [26] thể để giúp nước nhà, cho đầu thai vào làm con nhà họ Ngô trông giữ chùa này. Họ Ngô phúc hậu hơn người, vợ chồng đều chăm chỉ thành tín, đức thật đáng khen.
Đang nói, chợt ẩm một tiếng sấm, ông bỗng giật mình tỉnh giấc, nghĩ đến những điều kỳ lạ trong giấc mộng bèn trai giới thành kính, thắp hương lễ Phật. Được một tháng sau, thái bà quả nhiên có thai, được 13 tháng, đến ngày 12 tháng 4 năm Giáp Ngọ, trời đất sáng bừng, gió ủ ủ thổi quanh khắp nhà, ầm ầm như tiếng sấm dậy. Hương thơm ngào ngạt khắp phòng, điềm lành rực rỡ trong buồng sản phụ. Đến lúc đó thái bà sinh được một cậu con trai, mặt vuông tai lớn tựa sao trời, mắt phượng mặt rồng, mày ngài cầm yến, da phơn phớt hồng như vàng đỏ, hơn hẳn người bình thường.
Sinh được 100 ngày, Tín công cứ theo điềm báo trong mộng bèn đặt tên con là Long công. Từ đó xuân tới hè qua, thời gian thấm thoắt thoi đưa, Long công đã 8 tuổi. Cha mẹ cho ông theo học ở tiên sinh họ Lỗ [3a]. Ông theo học được 1 năm, vốn bẩm thông minh, thiên tư trídũng, văn tài bảy bước thành thơ, thuộc lòng cả bách gia chư từ, võ nghệ lục thao đều giỏi, bùa phép của Thái công thật tỉnh thông. Các bạn cùng lứa theo học không ai không kính phục, đều khen rằng:
– Long công chẳng phải thần xuất thế cũng ất là thánh sinh ra ở đời.
Văn võ thần thông kỳ lạ, mọi người đều kính phục. Trong lúc trò chuyện với bạn bè ông có thể làm thơ, thơ rằng:
Thiên địa sinh ngó tác thể nhân,
Nam nhi nhĩ mục khởi ưu bẩn,
Nhất triêu tung đắc long vân hội,
Thảo mộc quần sinh thị ngã thần.(Trời đất sinh ra ta làm người thế nhân,
Đấng nam nhi há phải lo nghèo khó,
Một sớm gặp được hội rồng mây,
Đám cỏ cây kia sẽ là bề tôi thân thuộc).
Lại nói, bấy giờ khi ông lên 10 tuổi thì thày dạy học qua đời, ông bèn bỏ nghiệp học. Đến năm 12 tuổi, lúc đó là ngày 13 tháng 7, cha mẹ ông đều nối nhau mà mất. Ông bèn làm lễ mai táng cha mẹ. Từ đó ông ăn nhờ ở đậu nhà ông cậu họ Vũ.
Được 1 năm, lúc đó nhà ông cậu giầu có, ông sống nhờ ở nhà cậu nên thường làm các việc như cày ruộng, chăn trâu, hái củi. Bấy giờ ông thường lấy của cải của nhà cậu đi chơi với lũ trẻ chăn trâu [3b], hứa lấy của cải khao thưởng đám mục đồng. Thịt lợn, thịt gà, rượu, gạo đều lấy trộm từ nhà của ông cậu đem cho lũ trẻ. Bọn trẻ chăn trâu đều nghe theo lệnh của ông. Ông hướng dẫn bọn chúng lấy củi, chăn trâu, mọi việc phân ra cho chúng làm còn mình thì ngồi chơi.
Lúc đó vợ chồng ông cậu sinh lòng đánh đuổi chửi mắng. Ông lấy làm giận lắm bèn lánh đi, không ở nhờ nhà cậu nữa. Ông đi đến điểm Hàm Long phường Phục Cổ, khu Hữu Nghiêm, phủ Phụng Thiên, ở ngoài bên giáp. Khi ông đến đấy, mặt trời đã ngả, trời sắp tối, ông thấy mọi người ở nơi đó qua lại thì xin làm người giúp rập2. Người ở làng ấy ai nhìn thấy ông mặt mũi khôi ngô khác người thì lấy làm sợ hãi, chẳng ai dám nhận nuôi dưỡng.
Đến đêm, ông đã đến bước đường cùng, không ai cho vào nhà bèn ra ngoài chỗ giáp giới địa phận ấp, trước ở đó có một ngôi quán, ông bèn vào nằm nghỉ ở quán ấy. Đêm hôm đó, ông lấy viên than viết lên tưởng bài thơ rằng:
Kim nhật u nhi lai nhật minh,
Nhân tiền thủy hữu thức long linh,
Nhất triêu tự khởi phong vân hội,
Thảo mộc quần sinh tự đắc vinh.(Nay u ám nhưng ngày mai trời sẽ sáng,
Trước mắt ai có thể biết sự linh thiêng của rồng,
Một sớm tự bay lên gặp hội rồng mây,
Đám có cây kia cũng lây phần vinh hiển).
Ông làm thơ xong liền lăn ra ngủ ở trong quán. Đến khoảng nửa đêm, nhân dân trong ấp (tức 4 giáp phường Phục Cổ-NC) các họ đều nằm mộng thấy (Lúc đó ở Hàm Long phường Phục Cổ có các họ như họ Lê, Nguyễn, Trần, Phạm, Đinh, Trương, Đặng, Đào, Dương, Hoàng, Đỗ, Cao, Ngô, Mạc…-NC) có 4 người mũ mão chỉnh tề, cưỡi ngựa tứ mã đi thẳng vào làng dân ở, truyền bảo dân rằng:
Bọn ta vốn là thần linh ở đất 4 giáp phường Phục Cổ. Bọn ta trở về để báo cho người dân 4 giáp được biết. Nay chúa tể long thần trở lại làm phúc thần cho dân chúng, nay đang ở quán Long đầu, dân chúng mau theo ta ra đó để làm lễ, xin cùng được làm thần tử. Nếu làm như thế mọi người tất được yên ổn, không phải lo lắng về hoạn nạn nữa. Vì thế thần linh bọn ta gấp về triệu mọi người tới.
Mọi người nghe thấy thế đều bàng hoàng đi ra, đi theo sau bốn vị thần cùng đi đến ngôi quán đó. Họ nhìn thấy một viên quan ngồi ở mỏm đầu rồng, chung quanh binh sĩ đứng hầu. Bốn người bèn dẫn dân chúng (tức 4 giáp phường Phục Cổ-NC) vào yết kiến trước mặt [46] cùng làm lễ. Trong lúc người dân cúi đầu làm lễ chợt thấy đầu rồng động đậy ngẩng lên, hét lên một tiếng. Người dân sợ hãi tỉnh giấc.
Lúc đó trời còn tối, bỗng nghe thấy tiếng gió rít mưa gảo xung quanh ngôi quán. Mọi người đều ra trông về phía quán, thấy mây mù che tối trời ở nơi quán đó. Người dân cho là việc kỳ lạ bèn kề với nhau về giấc mộng, hợp lại thấy đều giống nhau. Đến khi mặt trời nhô lên, mây mù tan hết, gió mưa cũng tạnh, người dân bèn kéo nhau ra quán xem thấy ông đang nằm trong quán, vẫn còn đang ngủ. Người dân thấy bài thơ viết bằng than trên tường, nghĩ đến lời thơ quả thấy người thường không sánh được. Ngắm nhìn diện mạo quả thấy đúng khuôn mặt của vị quan trong mộng.
Đến khi nghe thấy tiếng người dân xôn xao hỏi nhau, ông liền tỉnh giấc. Thấy mọi người đứng đầy xung quanh bèn ngồi dậy hỏi:
– Dân ta có việc gì mà tới đây.
Người dân nghe thấy bèn trả lời:
– Dân chúng tôi ra nghênh đón quý nhân, hả còn có việc gì nữa chăng.
Nghe dân nói vậy ông lại hỏi:
– Tôi vốn là người nghèo hèn tìm đường xin ăn, có tài đức gì mà người dân lại nói vậy.
Dân chúng nói:
– Việc do trời định, thần đã báo cho ngu dân chúng tôi, sao dám không biết.
Ngày hôm đó (tức là ngày mồng 10 tháng 23-NC) người dân làm lễ, xin được làm bề tôi, rồi mời ông về nhà mình nuôi dưỡng. Mới đưa về nhà được hơn 10 ngày, các gia đình đón ông về nuôi đều nói với ông rằng:
– Từ ngày đưa ông về nhà, chúng tôi đều nằm mơ thấy có binh sĩ đến nhà, làm người dân ai cũng không thấy yên ổn. Thần dân chúng tôi không biết nên làm như thế nào, xin ông cho biết.
Ông bèn bảo:
– Dân chúng muốn làm riêng cho ta một chỗ ở phải không.
Người dân thưa rằng:
– Dân ngu chúng tôi khó có thể tìm được nơi ở cho ông. Nếu ông muốn ở nơi nào, người dân sẽ nghe theo làm nhà ở đó.
Ông nói:
– Ta đi đến đất của người dân ta nơi đây là vào nghỉ lại ở quán này. Dân chúng thấy mộng báo [5b] cũng về ngôi quán này. Chẳng phải trời đã định lấy quán làm nơi ở sao. Dân chúng hãy cho tu sửa cho vững chắc để có thể ở được.
Người dân phụng mệnh lập tức cho tu sửa rồi nghênh đón ông ra nơi ở đó. (Đất ấy ở phường Phục Cổ, từ La thành làm đất tổ, chia nhánh men theo phường Phục Cổ đều là đất rồng quấn, miệng ngậm hạt châu, bốn phía mây nổi, sông Nhị Hà chia nhánh, nhánh sông nhỏ uốn quanh như rồng chín khúc, núi sao đối nhau, Ngũ nhạc vươn xa phía trước, Tam thai đứng ở phía sau, Minh đường thanh tú, quán ở ngôi đất quý Hàm Long. Hai chiếc giếng mở như đôi mắt, thật khí rồng thiêng. Ở phía sau, nuôi mạch long nhan, giếng tựa chiếc nồi, mành trái mảnh phải cùng chầu lại. Quán tọa ở hướng Quý Đinh, là ngôi đất quý-NC).
Lại nói, người dân (tức quán giáp Hàm Long phường Phục Cổ, là đất địa giới-NC) thân hành đón ông ra ở đất quán mỏm đầu rồng để phụng dưỡng. Từ đó người dân ai cũng được yên ổn, thịnh vượng. Người dân phụng dưỡng ông được vài năm, lúc đó ông mới 14 tuổi, nhưng đã có dáng vẻ người anh hùng dũng cảm, văn võ tỉnh thông, thân thể cao lớn, mặt mũi khôi ngô, kỳ vĩ, có sức hơn người, nổi tiếng anh tài, mọi người ai cũng kinh sợ.
Lại nói bấy giờ Duệ Vương mở trường tuyển kẻ sĩ, truyền hịch đi khắp nơi trong thiên hạ thần dân, ai là người anh hùng tài trí, văn võ song toàn [6a], hiền tài đứng đắn, bác học sâu rộng thì lên kinh thành thi tuyển. Long công trong lòng phấn chấn bèn lên kinh thành ứng thí. Đương trong lúc thi, vua bỗng nằm mộng thấy tiên hoàng Lạc Long Quân báo rằng:
– Nay nước nhà đang có long thần xuất thế, vốn tên là Long họ Ngô, chính là người này, có thể dùng vào việc nước, là rường cột của nước nhà, hoàng thiên dã định, vua nên dùng nên dùng.
Nói xong, vua bỗng tỉnh giấc, biết là mộng báo. Đến khi ông vào thi, văn võ tài trí như thần, một lần ứng thì đã đỗ đăng khoa. Đến khi vào làm lễ trước sân rồng, vua thấy diện mạo thật lạ khác với người thường, bên thử hỏi tài, thấy ông văn võ kiêm toàn, xuất thần kỳ dị, ăn nói lưu loát mà nhan sắc không hề thay đổi. Vua hỏi họ tên, rồi lại bảo:
– Trẫm đã biết tên người là Long.
Vua bèn ra sắc chỉ, ngày hôm đó lập tức đưa vào bái yết cho ông giữ chức Tham tán binh sự. Từ đó vua tôi hiệp đức, thiên hạ thanh binh.
Ông ở triều tham gia triều chỉnh được một năm, vua lại [66] thăng ông lên giữ chức Đô đài giám sát kiêm chưởng quốc ấn sự. Từ đó ông tham gia chính sự trong triều, sớm tối không xa rời nhà vua.
Được vài năm, ông lại được thăng lên giữ chức Thái bảo quốc chính. Bấy giờ thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự, ông bèn xin với vua cho trở về quán cũ châu xưa thăm viếng tiên đường, tu sửa từ đường doanh sở. Vua bằng lòng. Lại ban cho ông tiền vàng châu báu hơn 3000 cân, gấm vóc lụa là hơn 1000 mảnh, cho binh mã theo sau hầu giá, đưa về quê quán. Nhân dân ra làm lễ chúc mừng. Ông vào nhà làm lễ bái yết tổ tiên, ba ngày mở yến tiệc chúc mừng, thăm nom phần mộ tổ tiên, tu sửa từ đường, lưu binh lính cùng ở lại đó hơn nửa năm, sau đó lại đem quân đi về quê mẹ (tức hai khu ấp trang Thanh Quả-NC), thăm nom bái lễ tiên đường ngoại tổ. Ngày hôm đó nhân dân làm lễ chúc mừng. Ông làm lễ ở tiên đường xong, thăm mộ song thân [7a], mở yến tiệc lớn trong ba ngày, ban thưởng cho nhân dân 6 hốt vàng để tu sửa các cung, doanh sở. Người dân bải nhận (sau hai khu ấp Thanh Quả có bản tấu trình lên).
Bấy giờ ông ở nhà ở phường Phục Cổ. Hôm đó (ngày 15 tháng 8-NC), người dân làm lễ bái hạ. Ông bèn truyền lệnh cho người dân ở giáp Hàm Châu phường Phục Cổ (trước là Hàm Long, sau đổi thành giáp Long Châu-NC) tu sửa doanh sở để làm nơi tổ chức yến tiệc. Người dân (tức giáp Hàm Châu phường Phục Cổ-NC) và thân thuộc đều phụng mệnh tu sửa, sửa xong ông cho quân đóng lại, mở tiệc lớn truyền cho người dân và các bậc phụ lão cùng tới dự yến trong ba ngày. Trong lúc yến tiệc vui vẻ, ông làm bài thơ rằng:
Sinh hồ ư thế bẩm hồ thiên,
Phi thi thánh hề, phi thị hiền,
Chính trực thông minh phù quốc thể,
Cung đình hương hỏa ức thiên niên.(Vốn là người trời sinh ra ở đời,
Chẳng phải thánh cũng chẳng phải tải,
Thông minh chính trực giúp đời giúp nước,
Nơi cung đình hương khỏi đến ức ngàn năm).
Ông lại làm một bài thơ Đường luật rằng:
Tự thiên sinh ngã giáng cư trần,
Thảo mộc sơn hà tại thử thân,
Phục Cổ Hàm Long danh tích tại,
Càn khôn bất lão nhật trùng tân.(Trời sinh ra ta, giáng xuống trần
Núi sông cây cỏ cũng ở tấm thân,
Danh tích còn ở Hàm Long Phục Cổ,
Trời đất mãi còn, ngày lại mới).
Sau khi tiệc thơ xong, ông ban thưởng cho người dân (giáp Long Châu-NC) 6 hốt vàng, nói rằng:
– Ta cho dân để bày tỏ nghĩa sư đệ [76], do trời đã định mà dân nghe theo, chẳng phải điều mà ta đòi hỏi ở mọi người, khiến phải lấy của cải ra để dụ. Vả lại thày trò chỉ tình, vua tôi đại nghĩa, nay tắm gội ơn nước cũng nên ban cho chúng dân cùng được vinh hiển, để lưu lại cho đời sau. Mọi người hãy vì nơi chung mà mua thêm ruộng, ao, tu sửa nhà cửa cung sở, há chẳng muốn cho đầy đặn hơn sao.
Người dân (tức giáp Long Châu-NC) ai cũng vui mừng vâng mệnh bái nhận.
Ông cho binh lính du chơi yến tiệc ở đó được khoảng 10 ngày rồi cho giá về triều, làm lễ bái yết bệ hạ, sau đó dâng biểu tâu lên triều đình, xin cho giáp Long Châu, phường Phục Cổ lấy nơi ông ở làm đất hương hỏa, miễn việc binh, lương. Vua nghe theo. Từ đó ông ở triều tham gia chính sự. Lúc ấy ở giáp Hội Khánh phường Phục Cổ, ai cũng được phú quý hiển vinh, oai vệ là nhờ đức lớn của ông.
Lại nói, bấy giờ, trong nước có giặc Hồ Lô ở Hoan châu, vốn là người Quảng Châu nổi lên làm loạn [8a] ở đất Hoan châu, chúng lần chiếm hết đất châu. Bấy giờ vua lệnh cho Long công giữ chức Thống lãnh Binh bộ nguyên soái đại tướng quân, cấp cho ông 1 vạn hùng binh để đánh giặc Hoan. Ông bèn vâng mệnh, khẩu tạ trước bệ tiền, ngày hôm đó lập tức mang binh tiến đánh giặc Hoan châu.
Lúc đó, ông chia quân làm hai đạo cùng tiến vào nơi giặc đóng đánh một trận. Quân giặc bại trận, bỏ chạy tán loạn. Ông cho quân truy đuổi, chém được 500 ngàn đầu, chém được chính tướng Hồ Lô, các quân khác đều dẹp tan. Xong việc ông dâng biểu tâu lên vua. Vua nghe nói lại xuống chiếu ban cho ông giữ chức Đốc lãnh Hoan châu. Được 3 năm, lại cho lên làm Đề đốc Sơn Nam. Sau đó vài năm, vua lại triệu ông về triều tham gia việc triều chính. Bấy giờ ông vâng mệnh về triều, bái yết trước vua, từ đó tham gia chính sự ở triều. Được một năm vua lại thăng ông lên giữ chức Phụ đạo quốc tế.
Bấy giờ triều Hùng vận hết, thế nước lâm chung, Duệ Vương sinh ra 20 hoàng từ nhưng lần lượt đều quy tiên, 6 cô công chúa, sau chỉ còn hai [86] cô con gái. Cô thứ nhất là công chúa Tiên Dung, cô thứ hai là công chúa Mỵ Nương, đều là người phụ nữ hiền hòa, bậc vua Nghiêu vua Thuẩn trong giới nữ lưu, nhan sắc lại diễm lệ. Cô thứ nhất gả cho ChửĐồng Tử, quê ở trang Đa Hoa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, xử Sơn Nam Thượng. Cô thứ hai vườn xuân còn đóng, nhụy ngọc còn phong. Vua bèn mở hội tìm người tài giỏi làm rể.
Bấy giờ Tản Viên Sơn thánh quê ở động Lăng Sương huyện Thanh Sơn phủ Gia Hưng đạo Hưng Hóa, Sơn Tây, vốn là con trai ông Nguyễn Cao, bẩm sinh là thiên tài giáng thế, lại được gậy thần ở Linh Sơn, lấy sách ước ở Thủy quốc, là bậc anh hùng nhất đời, trí dũng hơn người. Vua bèn gả công chúa thứ hai cho ông.
Duệ Vương từ khi có Tản Viên Sơn thánh làm con rể, thiên hạ thanh bình, vua con bèn rủ nhau du chơi bốn biển. Lúc đó vua bèn nhường ngôi cho Tản Viên Sơn thánh, nhưng Sơn thánh không dám nhận, chỉ xin phụ giúp việc triều chính, được hơn 10 năm.
Bấy giờ Thục An Dương Vương (cũng là bộ chủ của Ai Lao, là con cháu của Hoàng gia), nghe nói ở nước Nam ta, [9a] vua Duệ Vương tuổi đã cao mà chưa có con nối dõi bèn tích trữ, nuôi dưỡng bình lương được hơn 30 vạn, tới đánh vua Duệ Vương để chiếm lấy nước. Quân chia làm hai đường, một đường bộ có 8 ngàn binh mã, danh tướng 1 ngàn tên, hùng binh 15 vạn, từ cửa ải tiến ra, lấy vùng sơn cước làm căn cứ. Trải khắp 86 châu từ Đại Man châu, Hoàng Nham châu, Phụ châu, Mộc châu,
Hiệu châu, Phủ Hoa châu cho đến các xứ như Tuyên Quang, Hưng Hóa, Văn Bàn, Thủy Vĩ đều có quân Thục tiến đánh.
Một theo đường thủy, từ cửa biển Thần Châu đến Hoan châu, Ái châu, Bố Chính châu, và các sông Hán, sông Mã, sông Nhiễm, sông Lục Đầu, sông Bạch Đằng, hai dải bến sông đều có quân Thục. Chúng có 15 vạn tên, tướng giỏi hơn 1 ngàn tên, hơn 3 ngàn chiến thuyền, đầy khắp một dải sông, cờ xí che kín đất, chiêng trống ẩm ẩm. Thư từ biên giới gấp báo. Vua nghe nói, lập tức cho triệu Sơn thánh về triều hỏi kế đánh giặc.
Sơn thánh tâu rằng:
– Thần xin nguyện khó nhọc thay vua tuyển chọn tướng tài.
Vua bằng lòng.
Bấy giờ bèn triệu Long công tới bái yết, cho giữ [96] chức Thống chế thủy bộ nguyên soái đại tướng quân, lại triệu các thần tả hữu (tức hai em Sơn thánh. Bên trái là Cao Sơn Đại vương, bên phải là Hiền Minh), cùng danh tướng thủy bộ cả thảy 1 ngàn người, mang 10 vạn binh làm lễ trước bệ hạ rồi thủy bộ hai đường cùng tiến. Một đạo tấn công quân trên bộ, một đạo tấn công quân dưới nước, hẹn ngày cùng đánh lớn một trận. Quân Thục thua to phải bỏ chạy, quân truy đuổi theo chém được 3 ngàn thủ cấp, thu hết khí giới, giải về kinh đô. Quân giặc đã dẹp tan.
Ông bèn làm tấu tâu lên vua. Vua nghe nói bên xuống chiếu triệu về. Lúc đó Long công tiến theo đường thủy, bèn phụng mệnh đem quân trở về triều. Hôm đó là ngày mồng 1 tháng 11. Long công về đến cung Hội Khánh phường Phục Cổ, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên (trước là giáp Hàm Long sau đổi là Long Châu, lại đổi là Hàm Châu), ngày hôm đó (tức ngày mồng 5 tháng 11), người dân cùng bề tôi thân thuộc làm lễ chúc mừng ông. Ông bèn tiến binh vào cung, cho dùng giá, mở yến tiệc chúc mừng, khao thưởng binh sĩ. Trong bữa tiệc ông làm thơ rằng:
Sinh vi long tướng hóa long thần,
Hương hỏa trường lưu tại xã dân,
Hội Khánh cung đình lưu quốc thể,
Phối đồng nhật nguyệt ức niên xuân.(Sinh làm long tướng, chết làm long thần,
Hương hỏa còn mãi nơi người dân,
Cung Hội Khánh lưu lại mạch nước,
Cùng vầng nhật nguyệt, muôn đời đều là mùa xuân).
Tiệc thơ đang vui vẻ, bỗng nhiên trời đất tối sầm, mưa gió ầm ầm, ban ngày [10a] tối tựa đêm, trong nhà hào quang rọi bốn phía, trời đất sáng bừng, chợt thấy con rồng vàng từ trong người ông vọt ra, bay lên không trung mà đi. Lúc đó ông hóa. Lại nghe trên trời ẩm một tiếng sấm, thân thuộc, binh sĩ cùng người dân ai nấy sợ rạp cả xuống. Được một lúc, mây đen bay hết, trời đất sáng trong, gió thổi sẩm gào cũng tạnh, quan quân, bề tôi thân thuộc cùng người dân đều vào trong cung, thấy ông đã mất. Người dân cùng thân thuộc làm lễ định táng ở chính tẩm trong cung.
Đương lúc làm lễ đã thấy mối xông lên phong kín thành ngôi mộ lớn ở chính cung. Quan quân cùng bề tôi thân thuộc ở đó (như giáp Long Châu) thấy thế vô cùng kinh ngạc. Ngày hôm đó làm tấu tâu lên triều đình. Vua nghe nói vô cùng thương xót kẻ bề tôi có công lao với triều đình đất nước bèn truyền cho đình thần đến nơi ông hóa làm lễ. Lại truyền cho người dân cùng bề tôi thân thuộc ở đó (tránh hiệu thánh nên đổi là Hàm Châu) dựng thần tượng, tu sửa cung miều đề phụng thờ, xuân thu quốc tế. Lại cho 2 ngàn quan, 3 mẫu ruộng thờ.
Lại nói đình thần liền vâng mệnh. Bấy giờ bên truyền thư xuống cho hai giáp trang Thanh Quả cùng thờ phụng, tích của thần còn ở Bộ Lễ nên truyền bảo làm cho xong rồi trở về triều đình dâng tấu lên vua, vua xem liền bao phong mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần, cùng được hưởng ơn nước, mãi trở thành lệ thường. Đức của thần tốt đẹp thịnh vượng thay.
Phong cho thần là Uy linh hiển ứng phu cảm Đại vương, cho phép giáp Hàm Châu phường Phục Cổ làm đất hộ nhi4 để phụng thờ, xuân thu hai mùa cùng phối thờ với nước và được miễn binh, lương.
Lại nói, bấy giờ trải qua các đời Đông Hán, Ngô, Tần, Tống, Tề, Lương, cả thảy 249 năm, cho đến khi nước Nam ta với bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng hồng đồ, thần thường giúp nước che chở cho dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa. Khi nước nhà có giặc, thần mang cờ, đao, khí giới đi chinh phạt, ngầm phù giúp đánh giặc thành công, rất có linh ứng, tỏ rõ đến vô cùng. Cho nên trải các đời đều được các vua bao phong mỹ tự là [113] Thượng đẳng Long thần (Lúc đó triều đình và người dân trong thiên hạ đều cùng gọi là miếu Long Thần ở giáp Hàm Châu-NC).
Lại nói, khi nhà Trần đánh quân Nguyên, vua đến cầu đảo xin thần âm phủ đánh giặc. Thần nhận cờ đi chinh phạt, đánh giặc một trận, dẹp tan quân Nguyên. Triều Trần bao phong là Thượng đẳng Hộ quốc an dân Thần vương. Đến cuối nhà Trần, thế nước lâm nguy, nhà Hồ tranh quyền, nhà Minh tiếm loạn. Lúc đó có người Ái châu, họ Lê húy là Lợi ở sách Sơn Ích, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, khởi nghĩa ở Lam Sơn, ba ngàn quân lớn mạnh vào tận sào huyệt trừ diệt nhà Hồ, dẹp tan nhà Minh.
Bấy giờ nhà Lê mở nước, đều đến mật đảo ở đền của ông (tức đền giáp Hàm Châu-NC). Khi nhà Lê dẹp được nhà Minh, bèn lên ngôi hoàng đế ở Lam Sơn lấy niên hiệu Thuận Thiên (tức Thái Tổ đại hoàng đế- NC). Từ đó trong nước yên bình. Triều đình bao phong cho ông là Phổ tế Hộ quốc Thượng đẳng thần, được thờ cùng với nước.
Trải đến đời vua Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, Kính Tông, Huệ Tông, Ý Tông, Chiêu Thông, các đời để vương đều bao phong là Thượng đẳng [116] quốc tế. Đến khi đại thần họ Mạc (tức Mạc Đăng Dung con cháu bốn đời của Mạc Đĩnh Chi-NC) tiếm tôn vị, từ đó nhà Lê mất vị thế, họ Mạc làm vương, cha truyền con nối được 5 đời vua. Đến khi nhà Lê khôi phục lại cơ đồ, đại thần của vua Trang Tông là Nguyễn Thái úy dấy binh, vào tận sảo huyệt diệt trừ họ Mạc.
Bấy giờ đại thần quan thái úy họ Nguyễn nhớ đến sự linh thiêng của thần bèn truyền cho dùng bình xa giá đóng lại bên miếu. Thái úy vào miếu thấy tượng thần uy nghi, hương nhang không dứt. Thái úy bèn vào miều làm lễ, mật đảo âm phủ đánh giặc nhà Mạc thành công, khôi phục lại phúc tộ nhà Lê, để cùng được hưởng phúc thanh bình. Nếu được như thế sẽ tâu lên vua, sắc phong Thượng đẳng.
Khấn xong, tối hôm đó Thái úy nằm ở trong miều mơ thấy tòa bách bảo rực rỡ, chư Phật ngự trên sen vàng, lại nhìn thấy đứng bên phải là một vị quan, dây đai ngọc lấp lánh, áo giáp phượng, áo bảo rồng xán lạn, tay cầm long đao. Lại nghe thấy chư Phật truyền bảo rằng:
Nay Lê hoàng mở vận, khâm mệnh sai [12a] Long thần chủ tể ngầm giúp nhà Lê diệt Mạc.
Nói xong, bỗng thấy Long quân hét lên một tiếng, cưỡi ngựa hồng, tay cầm long đao phi vọt ra. Thái úy thấy kinh sợ liền tỉnh giấc, biết là thần linh mộng báo. Ông liền làm lễ bái tạ. Bấy giờ trời đã sáng, ông thấy voi ngựa đã sẵn sàng, liền cho tiến quân, đến địa phận Thượng Phấn, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, gặp quân nhà Mạc đánh lớn một trận. Bỗng nhiên trời đất tối sầm, quân nhà Mạc thua to bỏ chạy tán loạn, quân của Thái úy truy đuổi, chém được nhiều giặc, xương cốt chất thành núi. Quân nhà Mạc bèn bỏ chạy sang đất Bắc. Cuối cùng giặc đã dẹp tan, nhà Lê được khôi phục, trăm quan nghênh giá vua Trang Tông (tức Chiêu Tông Thái tử) trở về Thăng Long lên ngôi hoàng đế.
Từ đó nhà Lê làm vua, họ Nguyễn làm vương (và con rể họ Trịnh làm chúa), thiên hạ thái bình, vua liền bao phong mỹ tự cho bách thần. Lúc đó quan Thái úy dâng tâu lên vua, kể về giấc mộng như thế ở miếu Hội Khánh. Vua liền bao phong Thượng đẳng tối linh, xuân thu được phối hưởng cùng với nước. [126] Vua còn ban 5 ngàn quan tiền, truyền y theo giấc mộng xây ngôi miếu đó thành chùa, cùng thờ phụng Phật và đặt tượng thánh phụng thờ ở phía trên bên phải. Làng Hội Khánh phường Phục Cổ được miễn việc binh, lương. Gọi chùa đó là chùa Hàm Long, đổi tên húy thánh là giáp Hàm Châu, hương hỏa phụng thờ.
Từ đó nước đảo dân cầu, không gì không ứng. Trải các đời đều được bao phong là Thượng đẳng quốc tế. Đến đời vua Vĩnh Thịnh (1705-1719) (tức Dụ Tông hoàng đế-NC) kế nối trị vì, lúc đó nhà Mạc vẫn cứ thủ ở Cao Bằng và Lạng Sơn. Vua bèn cho đình thần cầu đảo ở chùa Hàm Châu, nhận lệnh mang một lá cờ (bấy giờ trang Thanh Quả cũng nhận Long đao-NC) đi đánh một trận, dẹp yên được. Đến khi An thái phi (là Trương thị hiệu Diệu Linh-NC) đến cầu vương từ vương tôn ở điện chùa, mong muốn nếu được như ý nguyện sẽ cho tu sửa thánh miếu, thắp nhang cầu khẩn. Đêm đó Thái phi nằm mộng thấy có một trang nam tử, áo mũ chỉnh tề đứng ở trước điện thưa rằng:
Thần vốn là La hán, gần đây Thái phi có đến cầu đáo tại chùa [13a] Hàm Long, nay chư Phật trên trời cùng Long thần chúa tể cho phép giáng xuống đầu thai vào làm con nhà họ Lê.
Thái phi bỗng tỉnh giấc. Từ đó trong lòng cảm động mà có thai, đến kỳ sinh được một hoàng tử (tức Ý Tông con trai thứ của vua Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh ((1705 – 1719)-NC). Triều đình thấy thần phù giúp vận nước, cầu tất linh ứng, mong ước đều thông, hiển ứng vô cùng, thái phi bèn tâu lên vua xin cho phép trùng tu xây dựng mới lại chùa, lại cho tạo tượng đúc chuông, đúc khánh.
Lúc đó là năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Thịnh (1714), Thái phi tự lập công quả, tu tạo chùa chiền, từ năm Quý Tỵ đến năm Giáp Ngọ thì hoàn thành. Lại còn ban tiền cho dân mua nhiều ruộng thờ, bao phong cho thần là Thượng đẳng quốc tế. Từ đó hương nhang không dứt, nước đào dân cầu không gì không linh ứng. Đến khi vua Dụ Tông mất, vua Ý tông lên ngôi hoàng đế (con thứ vua Dụ Tông là vị hoàng tửđược sinh ra khi đến cầu tự ở chùa này), lấy niên hiệu là Vĩnh Hựu thứ nhất (1735). Các vương cung thái phi sinh ra các hiền vương đều do cầu tự ở chùa này nên đã quyên góp được ruộng quan hơn 30 mẫu ở phường Hồ Khẩu [136], công đức vào chùa để phụng thờ. Vua lại bao phong cho thần là Quảng bác hùng tài, thông minh chính trực, bảo quốc tế dân Thượng đẳng thần, xuân thu hai mùa phối thờ với nước, cho phép giáp Hàm Châu phường Phục Cổ, sau đổi thành đất hộ nhi, được miễn bỉnh, lương, hương hỏa phụng thờ, xuân thu hai mùa phối thờ với nước.
Từ đó trải các đời để vương đều được bao phong là Thượng đẳng, muôn đời cùng được hưởng ơn với nước. Đức của thần thịnh thay.
Các ngày sinh hóa của thần cùng các lễ tiết yến tiệc và chữ húy, sắc phục nhất thiết cấm được vâng mệnh ghi chép dưới đây:
Ngày sinh của thần là ngày 12 tháng 4. Trước lễ một ngày, làm lễ mộc dục tượng thánh, làm văn cáo tế, cỗ chay, xôi, hoa quả, trà dâng lễ ở tam bảo chư Phật cùng làm lễ ở chính vị thần, dâng gà, lợn đen, xôi, rượu. Ngày lễ chính cũng chuẩn bị như vậy. Tổ chức ca xướng cùng các tăng ni tụng kinh, thắp hương, mồng 10 làm lễ.
Ngày hóa của thần là ngày mồng 1 tháng 11. Dâng lễ hương hoa, trả oản, cỗ bánh chay bảy loại, bánh dày, thịt lợn đen, rượu, xôi…
Ngày khánh hạ là ngày mồng 10 tháng 2, lễ dùng như trước, lệ như ngày sinh tổ chức ca xưởng, tụng kinh trong một đêm.
Ngày khánh hạ là mồng 5 tháng 3 và ngày 10 tháng 10, dâng lễ cỗ chay tùy theo.
Ngày quốc tế chọn ngày Đinh tháng 3. Dâng lễ oản quả, trà, thịt tam sinh (các loại súc vật dùng trong lễ tế), xôi, rượu, ca xướng trong ba ngày.
Kiêng hủy bộ bên trái bên phải của chữ Long, cấm mặc trang phục màu vàng, tía khi làm lễ.
Ngày giỗ Thánh phụ mẫu, xem kỹ trong thần tích, tùy theo mà làm lễ (ngày 13 tháng 7).
Chữ húy Thánh phụ mẫu xem lại trong thần tích, nhất thiết đều cẩm.
Sắc cho giáp Hàm Châu, thôn Hội Khánh, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội phụng thờ thần Long thần, thần nổi tiếng linh ứng từ trước tới nay đều được dự phong. Nay trẫm nổi theo nghiệp lớn, nhớ đến ơn thần bao phong cho thần là Dực bảo trung hưng linh phù chỉ thần, cho phép phụng thờ như trước. Thần hay che chở giúp đỡ dân ta. Kính thay.
Ngày 18 tháng 11 năm Thành Thái thứ nhất (1889).
Thừa mệnh sao theo bản chính.
Ngày 10 tháng Giêng năm Hồng Phúc thứ nhất (1572).
Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần là Nguyễn Bính phụng soạn.
Ngày lành tháng 2 năm niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) triều Lê, Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lãnh thiếu khanh thần là Nguyễn Hiền phụng sao theo bản cổ triều trước.
Lễ bộ bát phẩm thư lại là Hoàng Văn Ninh phụng chép (dưới có dấu triện nhỏ).
Ngày mồng 1 tháng 11 năm Thành Thái thứ 10 (1898), người trong ấp là Đình Bạt Hiền phụng sao theo bản chính.
Trần Huy Can người Thanh Ninh, Diên Trường phụng sao chép lại.
Chú thích:
- Nguyên văn “nhị thập dư niên” (trong hơn 20 năm), bản chữ Hán tr.254, dòng 2, chữ 11, 12 từ trên xuống. Có lẽ chép nhầm. Theo các nhà nghiên cứu “thời Hùng Vương (2879 TCN – 258 TCN), là gọi các vị vua của nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt. Hùng Vương là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước Công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước Công nguyên thì bị Thục Phán (An Dương Vương) chiếm mất nước”. (Đại Việt sử ký toàn thư, Lời giới thiệu: Giáo sư Viện sĩ: Nguyễn Khánh Toàn; Khảo cứu về tác giả, văn bản, tác phẩm: Giáo sư Phan Huy Lê; Dịch và chú thích: Ngô Đức Thọ; Hiệu đính: Giáo sư Hà Văn Tần. Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội. 1998, tr.333). Xem thêm sách Lĩnh Nam chích quải (bản chữ Hán, ký hiệu A.2914, Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
- Nguyên văn viết là “nổ” (nô tỳ, nô bộc).
- Nguyên văn ghi “nhị thập, sơ thập” (20, mồng 10), chúng tôi căn cứ vào ngày khánh hạ mồng 10 tháng 2 ghi ở phía sau Thần tích để cho rằng “nhị thập” là ghi nhẩm của “nhị nguyệt” (tháng 2).
- Hộ nhỉ: Tức nơi không phải đóng thuế, được miễn bình dịch. Hán ngữ Đại từ điển (Nxb. Đại từ điển Hán ngữ. 2003) không có từ này.
Nguồn: “Nam Việt Hùng triều Duệ Vương, Long Thân xuất thế, Phủ Quốc Uy Linh Đại vương tự điển”, ký hiệu AEa1/1, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.