Khái quát
Lý Tự Trọng sinh năm 1915, tên thật là Lê Hữu Trọng – con trai đầu của ông Lê Hữu Đạt và bà Lê Thị Sóm, quê ở huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) nhưng sinh tại bản May, tỉnh Nakhom, đông bắc Thái Lan. Năm lên chín, mười tuổi, anh được cụ Đặng Thúc Hứa – bạn thân của cụ Phan Bội Châu – đưa sang Trung Quốc để giáo dục, huấn luyện thành cán bộ cốt cán sau này của phong trào cứu nước. Từ năm 1928, anh công tác ở cơ quan Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Ba năm sau, anh được tổ chức phái về Sài Gòn công tác ở cơ quan Trung ương An Nam Cộng sản Đảng.
Hoạt động cách mạng
Sự kiện tại sân bóng Mayer
Ngày 8/2/1931, Lý Tự Trọng đã làm một việc hết sức có ý nghĩa. Đó là ngày mà những người cộng sản tổ chức buổi mitting kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo. Tại sân bóng Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu), ngay sau khi vừa kết thúc trận bóng đá thì cờ đỏ búa liềm đã được giương cao. Lý Tự Trọng có nhiệm vụ bảo vệ cho Phan Bôi – em ruột nhà yêu nước Phan Thanh – diễn thuyết. Cùng lúc, những người khác đi phân phát truyền đơn kêu gọi quần chúng lao khổ đứng lên lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp.
Cuộc mitting đang diễn ra thì tên mật thám Legrand cùng đồng bọn xông vào đuổi bắt người diễn thuyết. Để bảo vệ Phan Bôi, Lý Tự Trọng đã nhanh chóng rút súng ra bắn hai phát vào tên mật thám này.Báo Courrir Saigonnais phát hành ngày 29/2/1931 có bài tường thuật:
Và như một cây sồi, chịu một nhát rìu dứt điểm của người tiều phu, ông cò Legrand với tất cả sức lực của tuổi thanh niên đã ngã xuống chết liền. Sau khi tiếng súng nổ thì cò Borel đứng sau đồng nghiệp của anh ta vài mét, nhào tới cứu nguy, đồng thời đảo mắt nhìn quanh. Ông ta thấy một người đang bỏ chạy. Không nghi ngờ gì nữa, ông Borel đuổi theo. Nguời đó quay lại bắn hai phát vào Borel. Borel cúi xuống, hai viên đạn bay qua đầu trúng cái mũ…
Sau đó, Lý Tự Trọng bị bọn chúng vây bắt. Chúng đưa anh từ bót Catina đến tòa án để kết tội.
Phiên tòa lịch sử
Vì chưa đủ 18 tuổi nên chúng đã cho một luật sư bào chữa. Vị luật sư này đề nghị tòa án nên thực hiện chính sách khoan hồng vì bị cáo chưa đến tuổi thành niên, hành động không suy nghĩ. Không ngờ khi vị này vừa dứt lời thì anh dõng dạc tuyên bố:
Tôi hành động không phải là không có suy nghĩ. Tôi tự ý thức việc tôi làm. Đó là vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể có con đường nào khác. Tôi tin rằng, nếu các ông suy nghĩ kỹ thì các ông cũng thấy cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi.
Kết thúc phiên tòa xét xử, chánh án tuyên án anh bị tử hình. Nét mặt của anh vẫn điềm tĩnh, rắn rỏi lạ thường. Tòa hỏi lời cuối cùng:
Bị cáo có ăn năn gì không?
Anh ném vào mặt chúng câu trả lời đanh thép:
Không!
Những ngày trong Khám Lớn Sài Gòn
Khám Lớn Sài Gòn bắt đầu xây dựng từ năm 1886, đến năm 1890 mới hoàn thành – rồi khoảng năm 1954 phá bỏ, để sau này xây dựng thành thư viện – mà nay có tên là thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Trên một trăm năm đen tối của lịch sử, nơi ấy đã giam cầm, giết hại biết bao người yêu nước. Duy chỉ có một người tử tù trong lúc chờ ngày lên máy chém đã học thuộc Truyện Kiều. Người đó là Lý Tự Trọng. Sau này, cố Chủ tịch Hội đồng Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng có kể lại:
Khi tôi đến xà lim án chém Khám lớn Sài Gòn, xà lim có ba người thường phạm cũng án xử tử. Tôi vào, họ biết tôi là tù chính trị, ngay từ phút đầu đã tỏ ra có cảm tình với tôi. Họ bảo tôi:
” – Ngày trước “Ông Nhỏ” Lý Tự Trọng cũng ở đây. Còn quyển Truyện Kiều của ông nhỏ đó!”.
Nhà thơ lớn của dân tộc theo người cộng sản vào tận xà lim án chém đến tận giờ lên máy chém.
Trong xà lim Khám Lớn Sài Gòn, anh đã sống những ngày oanh liệt nhất của đời mình. Lúc nào, anh cũng tỏ ra tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng Việt Nam. Anh đã dạy cho các bạn tù bài Quốc tế ca mà lúc ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã dạy cho anh:
Trận này là trận cuối cùng
Ấm ẩm đoàn lực, đùng đùng
Đảng cơ Lanhtécnaxiônalo
Ấy là nhân đạo, ấy là tự do
Hỡi ai nô lệ trên đời
Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên
Bất bình này chịu sao yên
Phá cho tan nát một phen cho rồi
Bao nhiêu áp bức trên đời
Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha
Cuộc đời nay đã đối ra
Xưa là con ở, nay là chú ông!
Công nông ta có Đảng to
Có nhờ ta mới có kho, có tài
Trời sinh đất để cho người
Những đồ làm biếng thì mời đi đi
Những đồ ăn xổi ở thì
Mình làm chúng hưởng lẽ gì xưa nay?
Nếu đem diệt sạch lũ này
Mặt trời cứ vẫn ngày ngày xuân dung!
Việc ta ta phải gắng lo
Chẳng nhờ trời Phật, chẳng nhờ thần linh
Công nông mình cứu lấy mình
Sửa sang thế đạo kinh dinh dân quyền
Muốn cho đánh đó cường quyền
Tự do bình đẳng vẹn tuyền cả hai
Thụt thò ta phải ra tay
Sắt kia đang nóng đập ngay mà dùng!
Tiếng hát khát vọng tự do đã vượt qua song sắt nhà tù để bay lên trời xanh. Chính nhờ niềm tin này mà mọi đòn tra tấn dù khốc liệt đến đâu, anh cũng chịu đựng được không hé răng tiết lộ một điều gì. Bọn cai ngục nể nang gọi anh là “Ông nhỏ”, còn những bạn tù gọi là “Trọng con”. Một vợ của cai ngục cảm phục tinh thần yêu nước của anh nên đã tặng cho quyển Truyện Kiều. Với kiệt tác của thi hào Nguyễn Du, anh đọc từ ngày này qua tháng nọ đến mức gần như thuộc lòng. Ai cũng cảm phục trí nhớ của anh.
Những giờ phút cuối cùng
Nửa đêm về sáng ngày 21/11/1931, thực dân Pháp đưa Lý Tự Trọng ra pháp trường. Tin này lập tức lan rộng trong Khám Lớn. Các tù nhân chính trị bất bình la hét phản đối dữ dội. Bọn giặc Pháp phải điều cả lính cứu hỏa đến phun nước để đàn áp. Mọi người chỉ còn nghe Lý Tự Trọng hô to hai tiếng “Việt Nam” trước khi bị bọn cai ngục bóp họng, bẻ quặt tay kéo đi.
Trước lúc đầu lìa khỏi cổ, anh vẫn hiên ngang cất tiếng hát:
Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên…
Anh đã bất tử lúc mới 17 tuổi xanh. Hiện nay, trong khuôn viên Thư viện Khoa học tổng hợp TP. Hồ Chí Minh có dựng tượng liệt sĩ Lý Tự Trọng nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ thanh thiếu niên.
Ngoài ra cũng tại TP. Hồ Chí Minh còn có con đường mang tên Lý Tự Trọng. Đây là con đường mà thuở Pháp mới mở mang phố xá, đặt tên là Gouverneur; từ ngày 1/7/1870 đổi là đường Lagrandière; từ 30/4/1950 chính quyền Sài Gòn đổi thành đường Gia Long và đến ngày 30/4/1975 nó chính thức mang tên người cộng sản trẻ tuổi.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.