Thông tin chung
Trải qua các cuộc trường chinh kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Hiện nay, khi nhắc đến dòng sông Nhật Lệ lập tức trong trí nhớ, trong tâm thức của ta lại nhớ đến hình ảnh bà mẹ Việt Nam chèo đò đưa bộ đội qua sông, đó là mẹ Suốt – một cái tên bình dị, quê mùa, dân dã như bao cái tên khác nhưng đã làm nên một huyền thoại phi thường.
Thân thế và cuộc đời
Để hiểu thêm về mẹ Suốt ta thử đặt câu hỏi hỏi: Sông Nhật Lệ ở đâu? Trong Địa chí Bảo Ninh (Sở Văn hóa Thông tin Trị Thiên – 1986), nhà nghiên cứu Nguyễn Tú cho biết:
Phát nguyên từ nguồn Cộc và nguồn Đợi ở vùng núi phía tây nam huyện Lệ Ninh, Nhật Lệ là một con sông do hai con sông KiếnGiang và Long Đại nhập lại với nhau ở đoạn thôn Cổ Hiền (xã Hiền Ninh) và thôn Trần Xá (xã Hàm Ninh) tạo thành… Do chỗ hợp lưu này, lại sát cửa lạch, dòng Nhật Lệ thường có hai mặt đối lập nhau: khi ở phía đông Đồng Hới (bờ trái) nước bắt đầu lên mạnh, thì phía bờ Bảo Ninh (bờ phải) nước còn trên đà xuống, và ngược lại, khi ấy phía bờ Bảo Ninh, nước đã lên mạnh thì ở phía bờ Đồng Hới nước vẫn tiếp tục về xuôi. Hai dòng nước ngược chiều này chỉ chấm dứt khi nào toàn lưu vực nước rút kiệt hoặc lên tràn bờ. Người chèo đò ngang sông Nhật Lệ, đoạn Bảo Ninh – Đồng Hới, ít khi được chèo thoải mái từ bờ bên này qua bờ bên kia mà phải lựa mé nước của hai dòng chảy này để vượt sông bằng con đường ngắn nhất, thuận dòng nhất. Chiều rộng sông Nhật Lệ trong bình 600 mét. Khi qua địa phận xã Bảo Ninh, sông mất hẳn những nếp gấp quanh co mà chảy theo hướng Nam – Bắc, càng về gần biển càng phình rộng ra, có nơi đến 900 mét (đoạn cầu Dài – Trung Bính, đoạn Tam Tòa – Mỹ Cảnh). Trước khi ra cửa Nhật Lệ, sông bị dải đụn cát ở thôn Đông Thành chặn lại từ bờ Tây sang Đông đông bắc, buộc dòng chảy phải uốn lõm vòng cung vào bờ (đoạn cầu Mụ Kề – Tam Tòa – Đông Thành) làm nên cái Vịnh nhỏ, tàu thuyền có thể ẩn nấp tương đối tốt. Luồng lạch của dòng Nhật Lệ tại vùng cửa biển này sâu về phía tả ngạn (Đông Thành) và bồi cạn phía hữu ngạn (Mỹ Cảnh). Hai bờ sông Nhật Lệ ở khu vực Đồng Hới không giống nhau. Bờ tả ngạn từ Quán Hàu đến cầu Dài rất ổn định nhờ có hệ thống đê bảo vệ đường Quốc lộ 1A, lại có những doi đất choai ra giữa dòng, tạo ra những bãi lài cạn mà người ta gọi là “mũi” như Mũi Nại, Mũi Sát (nay biến thành dòng suối). Bờ hữu ngạn bị dòng nước xói mạnh, gây sạt lỡ thường xuyên, đặc biệt là ở thôn Hà Dương, Trung Bính, Sa Động… Nhà cửa ven sông Bảo Ninh không ổn định. Mặc dầu nhân dân ở đây, từ bao đời, đã bỏ nhiều công của xây kè, đắp đá, nhưng hàng năm, qua mỗi mùa bão lụt đều hư hỏng nặng. Người ta tính rằng, dòng Nhật Lệ, khoảng vàimươi năm trở lại đây, đã lấn vào bờ Bảo Ninh hàng vài ba chục mét. Ở thôn Hà Dương, Trung Bính có nơi đã mất đi nhiều dãy nhà. Hàng nhà ở ven bờ sông hiện nay là hàng thứ hai, thứ ba của bờ sông khi chưa sạt lở. Vào mùa hè, vào lúc mặt trời lặn, khi sau dãy Trường Sơn ánh sáng hồng cuối cùng hắt lên phía chân trời thì hình như ngọn núi Đâu Mâu, Ba Rền áp sát vào lưng thị xã Đồng Hới soi bóng xuống dòng sông, làm cho đáy nước long lanh cả sắc núi màu trời. Lúc đó, đứng từ các gò cát cao nhất của Bảo Ninh mà nhìn sang, toàn cánh đồng Đồng Hới trở nên hùng vĩ lạ thường: biển trời bao la, núi non lồng lộng, sông nước mênh mang… Phải chăng, vì vậy mà người Đồng Hới xưa thường lấy “Non Mâu biển Lệ” là biểu tượng của văn vật miền đất Quảng Bình cũ.
Với vị trí như thế, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, dòng sông Nhật Lệ đã trở thành đường thủy thuận lợi cho việc vận chuyển lương thực, vũ khí phục vụ tiền tuyến lớn. “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Mẹ Suốt đã “đánh giặc” bằng việc làm tưởng chừng như đơn giản là đưa bộ đội qua sông. Chỉ có thế. Nhưng hành động này đã trở thành biểu tượng của sự nhẫn nại, bền lòng mà các bà mẹ Việt Nam đã đóng góp trong công cuộc kháng chiến. Mẹ Suốt, tên trong khai sinh là Nguyễn Thị Suốt, sinh năm 1908 (có tài liệu ghi năm 1906) tại làng Dừa (nay gọi Mỹ Cảnh) bên dòng sông Nhật Lệ, gần cửa biển. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về “lai lịch” của mẹ qua những dòng lục bát thắm đượm lời ăn tiếng nói của dân gian:
Lặng nghe mẹ kể ngày xưa
Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình
Mẹ rằng: Quê mẹ Quảng Ninh
Mênh mông sông nước, lênh đênh mạn thuyền
Sớm chiều, nước xuống triều lên
Cực thân từ thuở mới nên chín mười
Lớn đi ở bốn cửa người
Mười hai năm lẻ, một thời xuân qua
Lấy chồng cũng khổ con ra
Tám lần đẻ, mấy lần sa, tội tình
Nghĩ mà thương mẹ cha sinh
Thương chồng con lại thương mình xót xa…
Nhà nghèo rớt mồng tơi, lớn lên, mẹ Suốt đi ở đợ cho nhà giàu bên kia thị xã Đồng Hới. Đến lúc “một thời xuân qua” thì mẹ mới lập gia đình, làm vợ lẻ của ông Trần Bệu (có tài liệu ghi là Trần Bạo) cũng “khố rách áo ôm” như mẹ. Từ lúc ở đợ đến lúc được làm vợ thì mẹ vẫn sống trong hoàn cảnh:
Gánh cực mà đổ lên non
Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo
Hơn nữa, sống bằng nghề sông nước:
Cha chài, mẹ lái, con câu,
Ăn toàn bọt nước lấy đâu mà giàu?
Chỉ đến khi cuộc “tái sinh kỳ diệu” của cách mạng Tháng Tám (1945) đã đổi đời tầng lớp bần cùng trong xã hội cũ, thì mẹ Suốt mới được “ngửa mặt nhìn trời”. Rồi cuộc kháng chiến chống Pháp thành công. Với mẹ Suốt:
Bây chừ sông nước về ta
Đi khơi đi lộng, thuyền ra thuyền vào
Bây chừ biển rộng trời cao
Cá tôm cũng sướng, lòng nào chẳng xuân
Thế nhưng, mùa xuân cũng qua nhanh khi giặc Mỹ xâm lược nước ta, chúng bắt đầu gây ra chiến tranh phá hoại trên miền Bắc. Cũng như nhiều phụ nữ khác, mẹ Suốt bấy giờ đã 60 xuân nhưng vẫn hăng hái nhận nhiệm vụ chèo đò qua sông Nhật Lệ. Nhà thơ Tố Hữu cho biết thêm những năm tháng này của mẹ:
Ông nhà theo bạn “xuất quân”
Tui nay cũng được vô chân “sẵn sàng”
Một tay, lái chiếc đò ngang
Bến bờ Nhật Lệ, quân sang đêm ngày
Sợ chi sóng gió tàu bay
Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua
Kể chi tuổi tác già nua
Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng
Có tài liệu cho biết, trong những năm giặc Mỹ leo thang chiến tranh, tăng cường đánh phá miền Bắc, Quảng Bình là một vùng đất lửa ác liệt. Mẹ Suốt đã dũng cảm chèo đò qua sông Nhật Lệ, chuyên chở bộ đội, hàng hóa, vũ khí từ bờ bắc sang bờ nam, trung bình mỗi năm 1.400 chuyến đò. Nhà nghiên cứu Nguyễn Tú có cho biết một trong những chiến công oanh liệt của mẹ Suốt:
Ngày 7/2/1965, máy bay Mỹ ào ào đến đánh phá Đồng Hới. Không bị bất ngờ, cả quê hương nhất tề nổi dậy. Dưới làn mưa bom bão đạn, một mình mẹ chèo đò đưa cán bộ bộ đội, nối hai bờ lại với nhau, mẹ bất chấp cả những “cú” bổ nhào của máy bay Mỹ vào ngay thuyền mẹ, tung rốc – két, bắn đạn 20 ly chặn mũi lái đò mẹ. Những người qua đò mẹ trong giờ phút nóng bỏng này không thể quên được khí thế hùng dũng của mẹ lúc ấy, khuôn mặt bừng lên đanh thép, bộc lộ mối căm thù cao độ, cử chỉ nhanh nhẹn vượt qua tài nghệ của người chèo đò lành nghề nhất, sức mạnh phi thường đến nỗi không còn ai tưởng là một bà già trải 60 năm nghèo khổ. Hành động quyết liệt của mẹ như một sức bật tổng lực dồn vào cây chèo, đẩy con thuyền vượt lên bám các tàu chiến của thủy quân ta đang di chuyển để đánh trả máy bay Mỹ để tiếp đạn và đưa thương binh vào bờ. Cho đến bây giờ, những người đã từng trực tiếp chiến đấu và từng chứng kiến xẩy ra sáng ngày 7/2/1965 cũng không thể hình dung được vì sao, giữa dòng Nhật Lệ lúc đó là một biển lửa, vô vàn những cột nước đen do bom đạn dày đặc tung lên cả không gian như bị xé toạc ra, bởi những tai chớp của tên lửa, của bom đạn mà mẹ Suốt xông pha vào đó như đi vào chỗ thinh không. Rồi sau mỗi trận ấy, con đò của mẹ Suốt lại lững lờ rước cán bộ sang sông. Mái chèo của mẹ lại nhẹ nhàng “ve vuốt” mặt nước êm đềm… Không một trận ác liệt nào của địch ngăn được còn đò của mẹ” (SĐD, tr. 152). Chính những chiến công này đã gợi cảm hứng để tác giả “Từ ấy” viết những dòng khâm phục:
Ngẩng đầu, mái tóc mẹ rung
Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ
Gan chi gan rứa, mẹ nờ?
Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?
Chẳng bằng con gái, con trai
Sáu mươi còn một chút tài đò đưa
Tàu bay hắn bắn sớm trưa
Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò…
Tưởng nhớ
Ngày 1/1/1967, mẹ được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên dương công trạng Anh hùng. Nhà báo Hồ Ngọc Diệp cho biết:
Sau những tuyên dương Anh hùng, mẹ Suốt được đi gặp Bác Hồ, tham dự nhiều cuộc hội họp, tiếp xúc nhiều đoàn đại biểu… Nhưng mẹ cảm thấy không thể xa con đò, bến nước, dòng sông Nhật Lệ. Với ý nghĩ, mình sẽ xuống đò cầm lại chèo để thay các o dân quân lên bến có thể thêm một tay súng bắn máy bay Mỹ, mẹ tìm gặp Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình đề đạt nguyện vọng chính đáng đó. Sau khi được chấp nhận, chiều ngày 2/8/1968, mẹ chia tay đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình, trở lại Bảo Ninh. Con đò sang sông Nhật Lệ bấy giờ đã sơ tán lên bến mới cách bến đò cũ hơn 5km về phía nam, chỗ đối diện với phường Phú Hải ngày nay. Khi bước lên khỏi đò, một loạt bom bi Mỹ rải xuống, cướp đi mạng sống của hai người, trong đó có mẹ Suốt Anh hùng. Không trực tiếp chiến đấu, nhưng Nhà nước vẫn công nhận mẹ là liệt sĩ vì mẹ mới nhận nhiệm vụ ở cấp trên xong
(Báo An ninh thế giới số ra ngày 7/3/2002).
Hiện nay, cách bến đò ngày xưa mẹ Suốt chèo ngày xưa khoảng 50 mét là tượng đài Mẹ Suốt anh hùng của nhà điêu khắc Phan Đình Tiến. Ta thấy mẹ đứng ngẩng mặt nhìn ra sông Nhật Lệ, cao 7 mét (tính cả bệ) bằng chất liệu đá xanh Thanh Hóa với tổng vốn đầu tư hơn 1,6 tỷ đồng từ ngân sách địa phương.
Nhà báo Vĩnh Nguyên sau khi tham quan đã nhận xét:
Ý tưởng ấp ủ mẫu tượng tròn kết cấu chính và phù điêu khắc họa người Mẹ Việt Nam Anh hùng cầm chắc mái chèo vươn giữa trời mây sóng bom thù dội, đan cài tấm khăn dù trên vai và tà áo giao thoa cùng sóng biếc cuộn dâng với hình ảnh bộ đội, dân công, thương binh, thanh niên xung phong vây quanh người mẹ đã khái quát sức mạnh tổng lực chiến tranh nhân dân là biểu tượng hài hòa khúc chiếc, giàu tính dân tộc mà vẫn hiện đại.
Công trình tượng đài này được dựng vào ngày ngày 2/9/2003 tạo vẻ đẹp cho cảnh quan dọc bờ sông Nhật Lệ, là một điểm tham quan lý thú về huyền thoại của một bà mẹ anh hùng khi chúng ta đặt chân đến vùng đất “địa linh nhận kiệt” Quảng Bình.
Bên cạnh công trình này, sáng 17/8/2004, UBND tỉnh Quảng Bình cũng tổ chức lễ thông xe kỹ thuật cầu Nhật Lệ, nối liền xã bán đảo Bảo Ninh – quê hương của mẹ Suốt anh hùng – với thị xã Đồng Hới. Cầu Nhật Lệ dài 635m gồm 15 nhịp, trong đó có một nhịp thông thuyền rộng 50m với chiều cao 7m; mặt cầu rộng 12m. Cầu Nhật Lệ thông xe là niềm mong ước từ lâu của hơn 8.000 người dân xã Bảo Ninh; đưa vùng biển và những bãi tắm khá đẹp ở Bảo Ninh, cũng như khu du lịch sinh thái Mỹ Cảnh đến gần với Đồng Hới. Những thông tin này cho thấy trên quê hương mẹ Suốt ngày một “thay da đổi thịt” và ta lại xao xuyến nhớ đến câu thơ của Tố Hữu viết từ ngày 4/11/1965:
Vui sao, câu chuyện ơn tình
Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.