Nam Cao (1915 – 1951)

Thông tin cơ bản

Khái quát

– Chí Phèo đấy hở? Lè bè vừa vừa chứ, tôi không phải là cái kho.

Rồi ném bẹt năm hào xuống đất, cụ bảo:

– Cầm lấy mà cút đi cho rảnh. Rồi làm ăn chứ cứ báo người ta mãi à?

Hắn trợn mắt, chỉ tay vào mặt cu:

– Tao không đến đây xin năm hào.

Thấy hắn toan làm dữ, cụ đành dịu giọng:

– Thôi, cầm lấy vậy, tôi không còn hơn.

Hắn vênh cái mặt lên, rất là kiêu ngạo:

– Tao đã bảo ta không đòi tiền.

 – Giỏi! Hôm nay mới thấy anh không đòi tiền.

Thế thì anh cần gì?

Hắn dõng dạc: – Tao muốn làm người lương thiện!

Bá Kiến cười ha ha:

– Ồ tưởng gì! Tôi chỉ cần anh làm người lương thiện cho thiên hạ nhờ.

Hắn lắc đầu:

– Không được! Ai cho tao lương thiện! Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không! Chỉ có một cách… biết không! Chỉ còn một cách là… cái này! Biết không!

Hắn rút dao ra, xông vào. Bá Kiến ngồi nhỏm dậy. Chí Phèo đã văng dao tới rồi. Bá Kiến chỉ kịp kêu một tiếng. Chí Phèo vừa chém túi bụi vừa kêu làng thật to. Hắn kêu làng, không bao giờ người ta vội đến. Bởi thế khi người ta đến thì hắn cũng đang giẫy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược. Mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói, nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra”. Cái chết của Chí Phèo đã mở ra sự bất tử trong đời văn của nhà văn Nam Cao và đó cũng là một trong những truyện ngắn hay nhất của văn học Việt Nam hiện đại.

Thân thế

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Trí, tên thánh là Giuse, sinh ngày 29/10/1916 tại làng Đại Hoàng thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) trong gia đình nghèo, bố làm thuốc, mẹ dệt vải, làm ruộng. Ngoài bút danh Nam Cao, ông còn dùng các tên như Nhiêu Khê, Thúy Rư, Nguyệt, Xuân Du… Bút danh Nam Cao có được là do ông ghép chữ đầu của tên huyện và tổng mà thành. Thiết nghĩ, đây cũng là một cách thể hiện tấm lòng luôn gắn với quê hương. Mà thật lạ, hầu hết chất liệu hình thành nên trang văn của Nam Cao là cũng bắt đầu từ làng quê này mà có được.

Trước khi chính thức bước vào làng văn, Nam Cao có làm khá nhiều thơ tình và cũng được in trên báo. Tình cờ, đọc lại sách báo ấn hành trước Cách mạng tháng Tám, tôi có tìm được vài bài thơ của ông như Lòng người đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Năm xuất bản ở Hà Nội năm 1939, Khi chiều thẫm in trên báo Hà Nội Tân Văn số 61 ra ngày 12/4/1941, Nếu ta bảo in trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 228 ra ngày 8/8/1938… Đây không phải lời than vãn về tình duyên lận đận của chính mình – mà chỉ là cái cớ để ông bày tỏ một thái độ, một nhân sinh quan trước cuộc sống đang chìm dần vào bế tắc, nghẹt thở của xã hội cũ.

Lúc ông bước vào làng văn thì vuông chiếu thơ ca đã có những tên tuổi vang bóng: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư… Thế nhưng, thơ của ông không có gì đặc sắc và mới mẻ hơn các nhà thơ đi trước. Bài Lòng người ta thấy mang âm điệu của thơ Nguyễn Bính: Lòng người là khói là hương/ Hương bay bốn hướng khói vương bốn trời/ Buồn cho tôi! Muốn lòng người/ Là con sóng nhỏ chảy xuôi một dòng/Thế rồi tôi lại muốn sông/ Đừng ra bể nữa cho lòng mang mang…/ Buồn cho tôi muốn tình nàng/ Có hình như đã rõ ràng từ đây/Ai làm cho gió đưa mây/ Cho mây vương núi đổi thay muôn hình/ Đổi thay là trái tim tình/ Một làn mây đủ xuôi mình phụ ta (1939). Còn bài thơ Khi chiều thẫm, có những câu gần giống như thơ Xuân Diệu, nhưng không khí toàn bài thơ buồn bã đến lạnh lùng, mang tâm trạng của một người cô độc: “Chiều thẫm lại. Hàng cây yên dáng nhớ/Trăng không tên. Sao đẫm lệ, lu mờ/Tôi khua lòng, lòng ướt át và thơ/Buồn đẫm cánh không bay nhè nhẹ được/ Đời tối quá! Em ơi tôi nguyện ước/Một bàn tay thắp hộ lửa lòng lên/ Một tấm thân ấm áp ghé ngồi bên/ Câu dìu nhẹ vỗ về lòng nhức nhối/Đôi tai bạn để nghe lời chim nói/Tôi xa xôi, tôi cô độc em ơi/Còn gì buồn bằng những lúc sương rơi/ Từng hạt nặng trên lưng tàu lá chuối/ Sương khóc hộ cho đời tôi trơ trọi/ Cho đời em lạnh lẽo chốn phòng không/Cho con chim đơn lẻ giữa mênh mông/Khi chiều thẫm hàng cây yên dáng nhớ (1941).

Hơn ai hết, Nam Cao tự nhận thức: “Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa). Do đó, không vì có dăm bài thơ in báo mà Nam Cao tự bằng lòng với mình, ông quyết định “li dị” với nàng thơ. Con đường đi của Nam Cao, thiết nghĩ, cũng là một kinh nghiệm cho bất cứ ai đang chập chững vào nghề viết:phải biết được đâu là thế mạnh, đâu là sở trường của mình. Và chỉ bằng văn xuôi, Nam Cao đã nâng cao tiểu thuyết hiện thực phê phán ở Việt Nam lên một mức cao hơn. Với ông, văn chương không phải là nơi để kiếm sống hoặc mua danh và ông từng cho biết suy nghĩ của mình qua nhân vật Điền trong truyện ngắn Trăng sáng:”Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ. Chao ôi! Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối:nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy những vang động của đời…”. Và cũng giống như nhân vật của mình, Nam Cao đã viết trong những lúc “Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm. Và cả tiếng chưởi bới của một người ban đêm mất gà”. Để từ đó, ông hình thành một hướng đi riêng, tạo ra những nhân vật, nhưng tình tiết khác hẳn với văn chương tình ái đương thời. Thuở nhỏ, Nam Cao học ở trường tiểu học Cửa Bắc (Nam Định), sau đó học lên Thành chung, vì bị ngã cầu thang, bị ốm, nên chưa thi lấy bằng.

Đầu năm 1935, ông phải về quê chữa bệnh thấp khớp và phù tim và cũng là năm ông lập gia đình với bà Trần Thị Sen, tên Thánh Maria. Cưới vợ xong, ông vào Sài Gòn làm thư ký cho hiệu may Ba Lễ và bắt đầu viết văn. Những truyện ngắn đầu tiên của ông là Cảnh cuối cùng, Hai cái xác, Nghèo, Đuôi mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp… được in trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Ích Hữu nhưng cũng chưa tạo được tên tuổi đáng kể trong làng văn. Tháng 5/1938, từ Sài Gòn, Nam Cao trở ra Bắc với sức khỏe sa sút… Thời gian này, ông tự học lại, thi đậu Thành Chung và bắt đầu dạy học ở trường Công Thanh ở Thụy Khuê (Hà Nội). Đây là thời gian ông gặp nhà văn Tô Hoài và trở thành đôi bạn tri kỷ. Nhưng cuộc đời nhà giáo không kéo dài. Chiến tranh thế giới chính thức nổ ra từ khi phát xít Đức tấn công Ba Lan vào ngày 1/9/1939. Thời điểm này, ngày 23/9/1940, tại Hà Nội, Pháp nhục nhã cúi đầu ký kết hiệp định chấp nhận phát-xít Nhật chiếm đóng Đông Dương. Như vậy, nhân dân Đông Dương bị một cổ hai tròng Nhật – Pháp mà Pháp đã trở thành “con chó giữ nhà” cho Nhật. Trường Công Thanh bị đóng cửa vì Nhật trưng dụng làm nơi đó làm chuồng ngựa! Tác giả Dế mèn phiêu lưu ký đã kể lại những tháng năm này:”Mấy năm nay, Nam Cao thất nghiệp vì trường học phải đóng cửa đã về ở nhà tôi. Chúng tôi ở trong một gian bên kín bưng, cái gian nhà ngày trước có những thầy giáo bên đạo đã ở, chỉ trổ một vuông cửa sổ tí tẹo, thành gạch sâu và im ắng đến nỗi bất chợt thò tay có thể nắm được đuôi chú chim sẻ đương than vãn ngoài hốc tường. “Cái bàn viết bằng gỗ tạp, hai chân rời như bàn đánh bóng. Hai đứa tôi ngồi hai đầu, cũng như hai tay đánh bóng, châu mặt vào nhau. Mùa hè, Nam Cao căng màn nằm ngủ đêm trên bàn ấy. “Mỗi tháng, chúng tôi bận viết vào mấy ngày cuối tháng. Đã vào nghề viết, nhưng nghề viết thế nào, tôi không bao giờ có được kinh nghiệm hoặc thành thạo, chỉ biết lúc nào cũng ngại viết và viết bao giờ cũng là nỗi dằn vặt. Cứ sắp đến ngày hẹn đem truyện xuống nhà xuất bản, tôi mới ráo riết, cắm cúi thâu đêm. “Có khi, chúng tôi phải viết đổi tay cho nhau mới làm kịp. Nam Cao thạo tả nhân vật, tôi nhờ anh viết cho tôi những đoạn như thế. Lúc Nam Cao buồn ngủ hay chán viết, anh bảo tôi: “Cậu làm hộ mình thế này nhé. Sắp mưa, bờ ao có bụi tre. Buổi chiều, mấy trang cũng được”. Tôi vốn thích tả cảnh. Tôi lia hộ bạn vài trang như anh đã phác. Cũng là một thứ công ty” (Tự Truyện, NXB Văn Học – 1985, trang 273). Thời gian này, Nam Cao đã viết được truyện vừa Cái lò gạch cũ, tức Chí Phèo. Trong đó, gần như là chuyện có thật xẩy ra trong làng của Nam Cao mà khi nghe kể lại ông đã dày công xây dựng tâm lý nhân vật, nâng lên thành một tác phẩm mẫu mực trong nghệ thuật sáng tạo (1). Ở ngoài đời thì Chí to béo, cục mịch đi làm thuê gánh mướn trong làng; những nhà giàu có thường thuê Chí đi đòi nợ. Xong việc, được trả công vài hào là Chí mua rượu uống say ngất ngưởng rồi nằm phèo ra giữa điếm canh mà ngủ, do vậy mới “chết tên” Chí Phèo. Nếu trong truyện này, Nam Cao có tả cảnh Chí Phèo và Thị Nở đã gặp gỡ nhau ngoài vườn chuối trong một đêm trăng. Lúc mà”Trăng rắc bụi trên sông và sông gợn biết bao nhiêu vàng…” và “những tàu chuối nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lại giẫy lên đành đạch như là hứng tình” thì ngoài đời cũng có tình huống tương tự như thế. Tất nhiên, người mà Chí gặp gỡ không phải là Thị Nở với “Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của tạo hóa: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài, thế mà hai má lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu mà phính phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng trên cổ người. Cái mũi thì vừa ngắn,vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lấn nhau với những cái môi cũng to cho không thua cái mũi; có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nở như rạn ra. Đã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày lại được bồi cho dày thêm một lần, cũng may quết trầu sánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách”.

Đó là trong truyện ngắn, chứ ở ngoài đời thì Chí dựng lều cạnh bến sông có đò chở khách qua sông Châu. Trên những chuyến đò ấy có người đàn bà buôn trứng từ chợ Chanh về Nam Định thỉnh thoảng cũng dừng chân ở lều của Chí. Rồi một ngày nọ, đêm trăng sáng họ tự tình nhau ở bãi chuối ven sông. Sau đó, người đàn bà có con đặt tên Trần Văn Rụ, nhưng vì dân làng xầm xì nên từ đó, không ai thấy người đàn bà ấy qua lại bến sông này nữa. Khi thực dân Pháp mộ phu di làm cao su thì Chí bỏ làng đi biệt tích. Chuyện chỉ có thế, nhưng bằng tài năng của mình, Nam Cao đã xây dựng thành nhân vật bất tử trong văn học Việt Nam hiện đại. Sau khi viết xong, Nam Cao bán bản thảo cho nhà xuất bản Đời Mới. Đọc xong, ông Trác Vỹ – chủ nhà xuất bản – nói với Nam Cao rằng, cái tựa cũ không “ăn khách” nên nhờ nhà văn nổi tiếng nhất bấy giờ là Lê Văn Trương đổi thành Đôi lứa xứng đôi. Và Nam Cao đang là cây bút mới, sợ độc giả không chú ý nên ông Vỹ mới thuê nhà văn đang nổi tiếng với nhiều tác phẩm như Ngựa đã thuần rồi mời ngài lên viết lời giới thiệu. Có điều khá hài hước là khi sách in xong, ngoài bìa người ta in tên Lê Văn Trương to gấp mấy lần tên Nam Cao. Âu cũng là một cách “tiếp thị” trong thị trường sách thuở ấy. Theo vợ của nhà văn cho biết, thì nhuận bút của tập sách này ông đem đãi thịt chó với bạn bè hết sạch sành sanh, không đem về nhà một xu! Từ Đôi lứa xứng đôi, tên tuổi Nam Cao bắt đầu được công chúng biết đến. Ông tiếp tục viết thêm những truyện ngắn đặc sắc khác như Dì Hảo, Nửa đêm… Qua năm 1942, Nam Cao trở về làng và viết loạt truyện ngắn khác in trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy như Cái mặt không chơi được, Trẻ con không được ăn thịt chó, Con mèo, Những truyện không muốn viết, Nhìn người ta sung sướng… Ma lực ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nam Cao thật lạ lùng, chỉ đọc một lần nhưng người ta vẫn nhớ mãi và lần sau đọc lại, người ta vẫn có cảm giác thú vị như đọc lần đầu tiên. “Sức hấp dẫn của văn Nam Cao một phần quan trọng là do sức hấp dẫn của một thứ ngôn ngữ phong phú về từ vựng, về cú pháp, về giọng điệu. Một thứ ngôn ngữ đi sát với đời sống, biến hóa như sự sống, nhiều khi cứ như là buông thả theo lối khẩu ngữ dân gian có vẻ dài dòng, luộm thuộm, kỳ thực đã vận dụng tiếng nói của đời sống một cách chủ động với một trình độ nghệ thuật cao”(1) và”Truyện Nam Cao đạt tới trình độ điêu luyện trong nghệ thuật phân tích tâm lý. Nam Cao có khả năng đi vào những trạng thái tâm lý không rõ ràng, dứt khoát như trạng thái dở khóc dở cười… Ông cũng hay đi vào những tính cách phức tạp đang trong quá trình diễn biến… Để giải quyết nhu cầu tố cáo xã hội theo cách riêng của mình, Nam Cao thường hay đặt nhân vật (thường là nhân vật nông dân) vào vị trí đặc biệt trên biên giới giữa con người và con vật. Và như thế là ông đặt mình – với tư cách là nhà văn – đứng cheo leo bên bờ vực thẳm: trên này là chủ nghĩa nhân đạo, dưới kia là chủ nghĩa tự nhiên đồi bại. Trong tình thế éo le đó ngòi bút Nam Cao không tránh khỏi có lúc ngả nghiêng, chao đảo. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, lo âu, càng thêm tin tưởng và cảm phục cái “thiện căn” bền chặt cũng như cái bản lĩnh vững vàng của nhà văn, khi thấy ông cuối cùng vẫn trụ lại được trên bờ”(2). Có thể nói, so với các nhà văn cùng thời thì Nam Cao có thể sánh cùng với Vũ Trọng Phụng khi xây dựng được nhiều nhân vật điển hình nhất.

Làm sao ta có thể quên được Chí Phèo, lão Hạc, Trạch Văn Đoành, thầy Lang Rận, Bá Kiến, Thị Nở… Tuy nhiên Nam Cao không chỉ là nhà văn lấy chất liệu từ tăm tối, thối nát, bất công của xã hội cũ để xây dựng tính cách nhân vật. Một mảng viết khác không kém phần quan trọng, thấm đượm tinh thần nhân văn chủ nghĩa là khi ông viết về cái nghèo của người nông dân lương thiện. Những truyện ngắn Từ ngày mẹ chết, Con mèo, Đời thừa, Bài học quét nhà… mãi mãi tạo cho người đọc những xúc động hướng thiện. Một người không bằng lòng với thực tại, luôn tìm cách phản kháng lại xã hội qua từng trang văn thì việc ông bí mật tham gia thành lập Hội Văn hóa cứu quốc của Việt Minh từ tháng 4/1943 cũng là điều dễ hiểu. Trong những ngày tăm tối ấy, Đảng Cộng sản Đông Dương đã viết Đề cương văn hóa Việt Nam và thu hút được nhiều trí thức yêu nước như Vũ Quốc Uy, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Trần Huyền Trân, Như Phong, Nam Cao… Dưới ánh sáng mới của bản Đề cương, ngòi bút Nam Cao sắc sảo hơn trước và viết khá đều tay. Đây cũng là thời gian ông hoàn thành tiểu thuyết Truyện người hàng xóm (in trên Trung Bắc Chủ Nhật) và nhiều truyện ngắn xuất sắc khác. Lúc này, Hội văn hóa cứu quốc bị khủng bố dữ dội, Nam Cao rời Hà Nội về làng hoạt động cho Việt Minh và bắt tay vào viết và Chết mòn (sau đổi thành Sống mòn). Với Sống mòn, Nam Cao đã để lại một kiệt tác không thua kém gì Chí Phèo là một đóng góp của ông vào tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Ở đó, những nhân vật như Thứ, San, Đích… sống mòn mỏi trong không khí dằn vặt, hèn mọn, nhỏ nhen, ti tiện, tủn mủn của đời thường, mặt tối sầm những âu lo, nhưng có khát vọng “sống phải làm một cái gì đẹp hơn, cao quý hơn”. Tình hình chính trị ngày càng ngột ngạt, oi bức như đang báo hiệu một cơn sấm sét sẽ đến. Tháng 3/1945, Nhật tước khí giới của Pháp đúng như trong Hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) dưới sự chủ trì của ông Trường Chinh đã nhận định: “Hai con chó đế quốc không thể ăn chung miếng mồi béo bở như Đông Dương… Nhật phải hạ Pháp để trừ cái họa bị Pháp đánh sau lưng khi quân Đồng Minh đổ bộ” và Đảng đề ra chủ trương “Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”. Cũng giống như nhân vật Thứ trong Sống mòn, Nam Cao đã nghĩ đến một cuộc đổi đời: “Thứ nhớ đến bao cuộc chiến tranh ghê gớm hiện thời. Bao nhiêu người chết! Bao nhiêu thành phố nát tan! Cái thảm sông máu, núi thây thật là rùng rợn. Nhân loại lên cơn sốt rét, đang quằn quại nhăn nhó, rên la, tự mình cắn lại mình, tự mình lại xé mình, để đổi thay. Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia ánh sáng mong manh. Thứ lại thấy hy vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, công bằng hơn… đẹp đẽ hơn… Nhưng y lại đỏ mặt ngay. Người ta chỉ hưởng được cái gì mình đang hưởng thôi. Y đã làm gì chưa?”.

Và cơn sấm sét đã đến. Cuộc tổng khởi nghĩa đã nổ ra.

Nhà văn Nam Cao không một chút chần chừ, ông tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân và được cử làm chủ tịch xã ở địa phương.

Đầu năm 1946, ông ra Hà Nội làm Thư ký tòa soạn tạp chí Tiên Phong – cơ quan của Hội văn hóa cứu quốc với ý thức “Văn hóa khi đã vào sâu đại chúng cũng tác động như một sức mạnh vật chất”. Ngay số 1, ông đã có truyện ngắn Mò sâm banh. Sau đó, ông tham gia đoàn quân Nam tiến với tư cách phóng viên. Qua chuyến đi này, ông đã viết được Nỗi truân chuyên của khách má hồng, Đường vô Nam… Mùa thu năm 1947, theo lời mời của ông Xuân Thủy, Nam Cao lên Việt Bắc làm phóng viên và phụ trách tạp chí Cứu quốc, báo Cứu quốc Việt Bắc. Trong những tháng năm này, Nam Cao đã sống hết mình cho kháng chiến, ông đi lên Bắc Cạn, về đồng bằng, tham gia Chiến dịch Biên giới cùng bộ đội, xuống khu III… và bất cứ nơi đâu ông cũng kịp thời có tác phẩm phục vụ cho kháng chiến như Trên những con đường Việt Bắc, Từ ngược về xuôi, Vui dân công, Hội nghị nói thẳng… Đáng chú ý nhất là truyện ngắn Tiên sư Tào Tháo (sau đổi thành Đôi mắt) và nhật ký Ở rừng. Trong nhật ký bên cạnh những ghi chép về sinh hoạt đời thường, Nam Cao đã dành nhiều trang tự mổ xẻ bản lĩnh cầm bút của mình: “Tôi xấu hổ cho tâm hồn ủy mị của tôi. Vẫn chưa mạnh hẳn ư? Các anh! Các anh chiến sĩ không tên! Các anh hãy dạy tôi biết hy sinh, biết chiến đấu, chiến đấu lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ gì đến tên mình, không nghĩ gì cả đến thân mình nữa. Các anh hãy rọi vào lòng tôi ánh nắng rực rỡ trong đôi mắt và cõi lòng của các anh. Lòng tôi vẫn còn u ám lắm. Những đám mây đen xưa cũ vẫn còn lởn vởn. Các anh hãy quét sạch nó hộ tôi. Quét sạch! Để cho tâm hồn quang quẻ và mới hẳn! (ngày 19/3/1948)”.

Hy sinh

Nhưng chỉ không bao lâu, nhà văn Nam Cao hy sinh trên đường đi công tác cùng đồng đội. Sau đây là tư liệu khá chi tiết cái chết của tác giả Chí Phèo do ông Đỗ Đình Thọ đã kể lại: “Các anh đi vào địch hậu với niềm tin thắng lợi. Riêng Nam Cao thì hy vọng dịp này sẽ lấy được nhiều tài liệu để hoàn thành cuốn tiểu thuyết mà anh ấp ủ từ lâu về quê hương đồng bằng kháng chiến, và sẽ được gặp lại vợ con sau hai năm xa cách. Khi đò tới Cầu Đài (xã Gia Tân) các anh bị địch phát hiện. Bọn giặc đóng ở bót Hoàng Đan, ngã ba sông Đáy, là đồn tiền tiêu của cứ điểm Non Nước Ninh Bình. Mọi ngày chúng nống sang Gia Viễn càn quét rồi lại rút về, nhưng không ngờ ngày hôm ấy, 29/10/1951, một trung đội Com-măng-đô gồm lính Âu Phi và lính dõng đã ở tại Mưỡu Giáp vì ở đây có nhà thờ, có cha xứ, có đội vệ sĩ bảo an. Khoảng cuối chiều, trời vẫn còn nắng ấm, bà con nông dân đi làm về xuống cầu bến rửa chân, thấy đò của cán bộ theo đường dây cứ lao qua Mưỡu Giáp, đã vẫy nón báo hiệu để đò quay lại, nhưng người cán bộ đường dây chủ quan, tưởng bà con vẫy chào mình nên cứ tiến vào sâu. Bọn Âu Phi và ngụy quân báo động. Chúng lội xuống đồng, lấy đò, bí mật lao ra bắt gọn. Đến khi phát hiện ra địch, ta vội quay mui đò chạy. Giặc đã bắn theo và các anh đã nhảy xuống đò để chạy trốn, nhưng chúng ập đến đông và bắt gọn chiếc đò của Nam Cao đem về chỉ huy sở tại nhà Nghị Vận (làng Mưỡu Giáp) để tra tấn suốt đêm hôm đó”. Cho đến rạng sáng ngày hôm sau, 30/11/1951, trước khi rút quân về Hoàng Đan, chúng đã bắn Nam Cao cùng các đồng chí của ông ở gốc cây bàng trước nhà thờ Mưỡu Giáp rồi ném xác xuống ao. Bấy giờ, cơ sở bí mật của ta mới tìm cách vớt xác đem chôn cất tử tế. Có một điều lạ lùng không lý giải được là trước đây khi viết Chí Phèo, Nam Cao đã hư cấu ra một làng tên là Vũ Đại, nhưng ông không ngờ khi mình chết lại được chôn ngay trên đất làng Vũ Đại (xã Gia Xuân, huyện Hoàng Đan – Ninh Bình) có thật trên bản đồ! Ngày 21/12/1951 tại Việt Bắc, Hội Văn nghệ đã tổ chức lễ tưởng niệm nhà văn Nam Cao trong Hội nghị tranh luận về hội họa và đúng như nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã khẳng định: “Cái chết anh dũng của Nam Cao vừa là cái tang cho giới văn nghệ và văn hóa Việt Nam, vừa nói lên cái truyền thống anh dũng, cái tinh thần đấu tranh quyết liệt, cái ý thức phục vụ sâu sắc của những người công tác văn nghệ kháng chiến”.

Tôn vinh

Dù nhà văn Nam Cao chỉ thọ chưa đến tuổi 40, nhưng tác phẩm của ông qua nhiều lần tái bản vẫn sống mãi. Và nhân vật của ông cũng đã qua nhiều lần lên phim và sân khấu. Bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy của đạo diễn Phạm Văn Khoa đã gây tiếng vang trong dư luận, nhà văn Kim Lân đóng vai lão Hạc, nghệ sĩ Bùi Cường đóng vai Chí Phèo, nghệ sĩ Đức Lưu đóng vai Thị Nở… và mới đây nhất là Đoàn chèo Thái Bình đã đưa Chí Phèo lên sân khấu chèo và đoạt Huy chương vàng trong hội diễn sân khấu toàn quốc 1999. Trong tình cảm thương tiếc một nhà văn tài năng, Tỉnh ủy Hà Nam cùng với Hiệp hội UNESCO Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đã thực hiện nghĩa cử cao đẹp là tổ chức chương trình “Tìm lại Nam Cao” để tìm mộ của ông đã thất lạc trong chiến tranh. Công việc này đã hoàn thành tốt đẹp khi khai mộ số 306 tại nghĩa trang huyện Gia Viễn (Ninh Bình).

Đầu năm 1998, Viện khoa học hình sự đã công bố nhân dạng hài cốt, so sánh tính chất đồng thể, chiều cao, mã số di truyền và thương tổn hài cốt… để xác định đã tìm được di cốt của nhà văn liệt sĩ Nam Cao. Ngày 18/1/1998, lễ truy điệu đã được cử hành và an táng Nam Cao tại “Khu vườn hiện thực Nam Cao” ngay trên quê hương Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam của ông. Chắc chắc, giới nghiên cứu văn học sẽ còn tiếp tục tìm về những trang viết của nhà văn Nam Cao và những trang văn ấy mãi còn đủ sức hấp dẫn bạn đọc qua nhiều thế hệ.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nam Cao

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)