Năm Phỉ (1906 – 1954)

Năm Phỉ (1906 – 1954)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Cách Sài Gòn 70km, dọc theo bờ sông Tiền là thành phố Mỹ Tho. Những vòm cây ăn trái xòe bóng mát quanh năm. Từ cuối thế kỷ XIX có gia đình ông Công, họ Lê sinh được 11 người con. Cách đặt tên con của ông cũng ngộ, ngoài tên Công của ông đứng đầu thì ta sẽ đọc thành câu: “Công thành danh toại phỉ chí nam nhi bia truyền tạc để”. Dù ông có ghét cay ghét đắng chuyện “đào kép hát hò”, nhưng về sau có những người con của ông sẽ trở thành những nghệ sĩ tiên phong, những tên tuổi sáng chói trên sân khấu cải lương miền Nam. Trong số đó, nổi bậc nhất vẫn là nghệ sĩ Năm Phỉ, tên thật Lê Thị Phỉ, sinh năm 1906.

Cuộc đời

Khi mới lên mười bà đã đi theo tiếng gọi của sân khấu với sự đồng tình của người mẹ. Thế là từ đó, ông Công xem như đứa con gái thứ năm của mình đã chết từ lúc mới lọt lòng, trong nhà không ai được phép nhắc đến tên Năm Phỉ nữa. Dù vậy, bước đi của bà đã ảnh hưởng sâu sắc đến những người em – sau này cũng nổi tiếng không kém là NSND Bảy Nam, Chín Bia và Mười Truyền. Khi ông anh Hai kiểm tra bài vở của cô em thứ Bảy chỉ thấy chép… toàn bài ca, giận lắm, bèn cột chân mà thả xuống giếng sau chùa Mỹ Tho rồi hỏi: “Mày thích đi học hay đi hát?”. Dù đang toòng teng dưới giếng, nhưng cô gái mới 11 – 12 tuổi đầu cũng rắn rỏi nói vọng lên: “Đi hát!”. Về cuối đời, khi đã được công nhận là NSND, nếu hỏi bà ai là thần tượng thì bà không ngần ngại nói ngay đó là chị ruột của mình: Năm Phỉ.

Đánh giá sự nghiệp của bà, NSND Ba Vân phải thốt lên:

Theo tôi, cô Năm là thiên tài trong lĩnh vực cải lương, một tấm gương sáng trong việc rèn luyện và sáng tạo nghệ thuật. Có thể nói cô là người dẫn đầu trong nghệ thuật diễn xuất thật không quá đáng. Mỗi khi nhận vai tuồng, cô Năm thường suy nghĩ rất nhiều về cách diễn, nghiên cứu từng bước đi, ngồi đứng, di động trên sân khấu làm sao cho mỗi động tác đều thể hiện rõ và đúng tâm trạng của nhân vật. Với vóc dáng mảnh mai và một giọng ca tuy không phong phú lắm nhưng rất đặc biệt thuộc loại giọng hiếm có, hơi khàn khàn nghe rất thảm, rất thích hợp với những vai đào thương.

Với cách diễn thiên về nội tâm và giọng nói, hơi ca thật tình cảm, cô Năm đã thu hút được trọn vẹn khán giả mỗi lần xuất hiện trên sân khấu, hầu hết những vai tuồng của cô đã đọng lại trong lòng người xem.

Nhà giáo nhân dân, GS Hoàng Như Mai khẳng định:

Nữ nghệ sĩ Năm Phỉ là nghệ sĩ tài hoa bậc nhất của sân khấu cải lương.

Số phận của bà Năm Phỉ thật lạ lùng. Do theo nghề hát quá sớm nên bà không được học hành, chỉ biết ký mỗi tên của mình. Không biết chữ, nhưng bà lại có trí nhớ khó ai sánh kịp. Mỗi lần tập vở diễn, người ta đọc cho bà nghe, chỉ nghe qua một lần là bà đã nhớ như in. Có lẽ tình yêu sân khấu đã tạo cho bà có được trí nhớ tuyệt vời như vậy chăng? Theo nhiều người kể lại, trong đó có NSND Bảy Nam, thì mỗi lúc tiếp khách, miệng nói với khách nhưng tai bà vẫn lắng nghe người ta đang đọc vở tuồng. Sau khi khách ra về thì phần bà đã thuộc lời thoại của vở diễn mới.

Nghệ sĩ Năm Phỉ đã cất tiếng khóc chào đời trên Mỹ Tho. Mảnh đất ấy là cái nôi cưu mang cho nghệ thuật cải lương, thuở loại hình nghệ thuật này mới chập chững những bước đi đầu tiên. Bà Năm Phỉ bấy giờ hát cho gánh Nam Đồng Ban ở Mỹ Tho, diễn chung với những tên tuổi lừng lẫy như Tám Danh, Ba Du… Gánh hát này do ông Hai Cu và ông Hai Quản làm thợ bạc thành lập. Con trai của ông Hai Cu là nghệ sĩ Hai Giỏi, người chuyên đóng những vai chính rất “ăn ý” với Năm Phỉ trong các vở Tham phú phụ bần, Ơn đến oán trả, Thiện ác hữu báo, Bội thê thiên xử, Chí Thiện – Chí Hiếu…

Mối tình đầu của nghệ sỉ Nam Phỉ – một cô đào thanh sắc vẹn toàn đã diễn ra trong thời gian này. Nhắc lại chuyện tình của bà với nghệ sĩ Hai Giỏi, qua đó ta thấy bà Nam Phỉ đã để lại những vai diễn thật xuất sắc, đến nay vẫn chưa có người sánh kịp. Theo NSND Ba Vân thì Hai Giỏi “Dáng người nho nhã thư sinh, môi son đỏ thắm, đã đẹp trai mà còn ca hay nổi tiếng, nhiều người lớp sau anh có tên tuổi lớn vẫn xem anh là bậc thầy trong nghề ca”; còn NSND Sĩ Tiến đánh giá: “Đây là kép độc nhất vô nhị của sân khấu cải lương Nam Kỳ. Người đã chiếm được trái tim cô Năm Phỉ lần đầu tiên và dẫn dắt cô trở nên một cô đào hát có tiếng tăm lừng lẫy”. Tình yêu đã giúp họ cùng tiến xa trên con đường phụng sự nghệ thuật, cả hai bổ sung cho nhau khi đóng cặp các vai chính.

Thành tựu

Trong thời gian này, những vai nổi tiếng nhất của đôi nghệ sĩ trai tài gái sắc – Hai Giỏi Năm Phỉ được nhiều người đánh giá đó là sự mẫu mực nghệ thuật. Họ diễn hay đến nổi có cậu học trò sau khi xem xong, đã bỏ học “quyết chí phiêu lưu” theo… tuồng hát! Người đó là nghệ sĩ Bảy Nhiêu – về sau cũng trở thành một trong những tên tuổi tiên phong của cải lương miền Nam. Trong hồi ký của mình, ông cho biết năm 1918 khi đang học nội trú ở trường trung học Cần Thơ, gánh Nam Đồng Ban có lưu diễn tại rạp Mesner (còn gọi rạp Thầy Lý):

Thiên hạ đen nghẹt đổ xô, giành chen mua vé: hạng nhứt 8 cắc, nhì 5 cắc, 3 cắc; học trò phân nửa tiền. Sau khi được hai cái vé “cá kèo”, tôi (và người bạn) mồ hôi ra như tắm, rồi chen vô rạp, lấn nhau lên lầu, lớp tiếng người la ó tìm chỗ ngồi, con nít khóc rùm cả rạp… Hai tôi liều rách áo lấn được hai chỗ ngồi xong là màn vải bông vừa kéo lên, thấy một hàng đào kép sắp sẵn cất lên lời ca chào khán giả bằng bản Madelon (bài Tây, tiếng đàn “Annam”). Đến cô Nam Phỉ ra tuồng, vừa thấy kép Hai Giỏi vai công tử mặc áo the dài, đầu tóc rẽ lệch, cầm gậy, mang giầy “bốt-tin” đen, đội nón nỉ màu xám đẹp cực kỳ. Tôi thèm như đàn bà có mang thèm đồ chua, cả rạp hít hà tặc lưỡi khi nghe kép Hai Giỏi cất giọng ca tứ đại oán pha xuân tuyệt vời. Kế đó cô đào Nam Phỉ mặc áo dài, dài tới đầu gối, màu hồng phấn, choàng khăn cùng màu, mang giày thêu cườm, tay cầm khăn “mù-xoa” nhạt có reng, tóc chấm vai rồi… liếc “thu ba tinh nhỡn” nhoẻn nụ cười rất mê ly với công tử! Trời! Cả một rạp người tặc lưỡi nghe chóc chách… Ồ! Lịch sự như tiên! Đám học trò tụi tôi chịu hết nỗi… giậm chân rầm rầm trên lầu!

Có thể nói, nghệ thuật diễn xuất của nghệ sĩ Năm Phỉ đã đạt đến một sự mẫu mực hiếm có. Dù là đóng vai nào trong vở tuồng Tàu, tuồng xã hội hay tuồng Tây phóng tác thì bà cũng đều để lại những dấu ấn khó quên. Con đường nghệ thuật đang mở ra thênh thang trước mắt, thì người bạn tình, bạn diễn ưng ý nhất của bà đột ngột qua đời! Nghệ sĩ Hai Giỏi về cõi thiên thai lúc mới đôi mươi, lúc tài năng rực rỡ nhất. Trong một đêm diễn vở Tham phú phụ bần, Hai Giỏi đau nặng, không thể nào bước nổi ra sân khấu để biểu diễn tài nghệ được. Khán giả la ó ầm ĩ, họ đòi trả vé khi không thấy diễn viên mà mình yêu thích xuất hiện! Không còn cách nào khác, chủ gánh hát phải cho người khiêng Hai Giỏi ra sân khấu. Chao ôi! Tấm thân khẳng khiu, nụ cười héo hắt ấy mới não lòng làm sao! Và như bao nghệ sĩ chân chính khác, Hai Giỏi không thể không đáp lại tấm lòng của khán giả đã ái mộ. Vượt qua bệnh tật đang giày xéo thân xác, ông đã diễn – đã vắt kiệt sức mình cho đêm diễn cuối cùng trong đời.

NSND Sĩ Tiến nhớ lại:

Anh đã làm tròn sứ mệnh một kịch sĩ tiên phong. Khi anh nhắm mắt xuôi tay, trút hơi thở cuối cùng, sân khấu miền Nam mất một kịch sĩ hy sinh tận lực với nghề. Các bạn đồng nghiệp bùi ngùi cảm động, nhất là cô Năm Phỉ là người đau đớn vô cùng, vì trên đường đời, không những hai người dở dang sát cánh nhau ngắm hoa thơm cỏ lạ mà từ nay thiếu một đôi tri kỷ có tâm hồn yêu nghệ thuật hơn ái tình. Cô kêu trời, giậm đất, lăn xả vào chiếc quan tài đã phủ che một kiếp tài hoa, bạc số mà tương lai lại còn hứa hẹn nhiều với hí trường.

Điều khiến cho hậu thế chúng ta cảm động là bà đã khóc người tình đầu bằng cách rút hết tơ lòng mà hát bài Văn thiên tường Bá Lý Hề. Đây là bài oán có nhiều hơi trầm bổng não ruột, thường dùng cho đào kép ca trong lúc chia ly để tỏ tình phu thê quyến luyến – mà ngày trước Hai Giỏi đã tập luyện cho Năm Phỉ. Mọi người không cầm được nước mắt khi bà cất tiếng ca não nùng:

– Vì tình kia, cái thân sanh đắng cay

Than thay! Đương khi gian truân, bâng khuâng trong lúc chia tay, yểm lụy nhỏ cùng chàng

Vì tình nhà hàn vi, nên mới sanh ly

Đưa nhau bắt tay dặn dò, đến lúc đắc lộ người có nghĩ đến chút tình tào khang?

Tay dâng chén này hôm nay, khuyên lương nhân vững lòng ruổi dong vào đến nước Tần

Cách núi ải, bước như vực thẳm rán dò

Lo trong khi qua đèo ải ngang gành đá chập chồng

Qua đến chốn, sớm thư nhạn tả mấy hàng, cho hản, cái điều ấm lạnh dường nào.

Thiệt thảm thiết thương kẻ nhà ngồi trông

Thiệt rất bận tấm lòng

Xa xôi luống thảm cho chồng, lướt bụi hồng dày thân…

Cảnh bà Năm Phỉ khóc chồng cũng lạ, khiến ta nhớ đến nghệ sĩ bậc thầy Đào Tấn giỗ cha mình bằng cách diễn lại những vở tuồng do chính cha mình sáng tác.

Sau cái chết của nghệ sĩ Hai Giỏi, ông Hai Cu vì thương con cũng dẹp luôn gánh hát Nam Đồng Ban (sau ông lại lập gánh Tái ĐồngBan). Bà Năm Phỉ sang hát cho gánh Văn Hí Ban của thầy Mười Vui (Chợ Lớn) diễn chung với những nghệ sĩ Tô Ngọc Diêu, Tư Dậu, Hai Tỷ, Tư Để… Sau bà sang hát cho gánh Phước Cương. Chính nơi đây, bà đã phát huy hết khả năng thiên phú. Thiên hạ còn nhớ đến nhiều vai mà bà đã đóng trong các vở Lan và Điệp, Sắc đẹp giết người, Vì đâu nên nỗi hoặc Phụng Nghi Đình, v.v…

Thiết tưởng cần nhắc qua đôi dòng về gánh Phước Cương để chúng ta hình dung “bệ phóng” của bà Năm Phỉ thời gian này. Bầu của gánh hát một thời lừng danh này là ông Nguyễn Ngọc Cương, từng du học ở Pháp về nghề diễn viên, thuộc con nhà nòi trong hí trường nghệ thuật. Nói như thế vì bà ngoại của ông là Bà Hộ lập gánh hát bội Phước Thắng, diễn thường trực ở rạp Palikao Chợ Lớn; mẹ là cô Ba Ngoạn cũng lập gánh Phước Xương diễn thường trực ở rạp Cầu Muối. Về sau gia đình đã giao gánh hát lại cho ông. Từ tài sản đồ sộ này, năm 1925 ông Cương lập thêm gánh cải lương Phước Cương và ông đã có nhiều sáng kiến trong việc thúc đẩy nghệ thuật cải lương thời ấy lên một bước, đã có công đưa các danh ca tài từ thời ấy lên sân khấu. Ông là chồng của nghệ sĩ hát bội Năm Nhỏ – viên ngọc quý của sân khấu hát bội miền Nam; về sau ông “đi bước nữa” với nghệ sĩ Bảy Nam, em của bà Năm Phỉ và để lại cho cuộc đời một “kỳ nữ Kim Cương”.

Từ gánh hát Phước Cương, tên tuổi bà Năm Phỉ ngày càng sáng chói. Dù bà là một tài năng tót vời, nhưng cũng không thể phủ nhận những chiêu “tiếp thị” độc đáo của ông bầu Cương. Chẳng hạn, khi ra Hà Nội diễn vở Tơ vương đến thác (nhà soạn tuồng Ngô Vĩnh Khanh phỏng theo tác phẩm Trà hoa nữ của nhà văn Alexandre Dumas), ông đã đánh động sự hiếu kỳ, gây chú ý của bàn dân thiên hạ bằng cách cho mướn xe tang 8 ngựa chở theo linh cữu, trên giăng hàng biểu ngữ “Ai muốn biết vì sao cô đào Năm Phỉ từ trần? Đêm nay xin mời đến Nhà hát lớn”. Hòa nhịp với bước đi nhộn nhịp của hàng chục đào kép theo sau là tiếng trống giòn giã…

Và khi đã bước chân vào rạp nhà hát thì bà Năm Phỉ cùng các nghệ sĩ gánh Phước Cương đã khiến khán giả khóc cười như điên dại, ngâyngất. So với nhiều tài năng thuở ấy, công bằng mà nói giọng ca của bà chưa phải thể “ăn đứt” Hai Giỏi, Hai Nhiều… nhưng nghệ thuật diễn xuất của bà thi khó ai sánh kịp. Trong vở Tơ vương đến thác, hay nhất là cảnh Lý Ngọc Hương (Năm Phỉ) khi nhìn thấy người bạn tình Liên Châu (Bảy Nhiêu) khoác tay một gái làng chơi diễu qua trước mắt đi vào trường đua ngựa. Trước tình huống oái oăm này, bà diễn ra sao để khán giả thấy mình đang ghen tột cùng? Trên tay nâng ly rượu sâm banh đang kề lên miệng, nàng Ngọc Hương lặng người nhưng không ngó theo, cũng không quay lại, chỉ nhìn đăm đăm vào ly pha lê trong suốt đang cầm trên bàn tay trắng muốt búp măng. Gương mặt ấy có một dòng nước mắt lặng lẽ trào khỏi mí mắt, đôi môi mấp máy nhưng không thành tiếng. Cả khán phòng đang lặng ngắt như tờ, bỗng giật mình khi nghe tiếng vỡ của ly rượu đột ngột rơi xuống đất! Thì ra, cái ly ấy tuột khỏi tay lúc nào nàng cũng không hay biết! Chỉ với tiếng động khô khốc ấy ai cũng cảm nhận, thấu hiểu lòng nàng đang tan nát, đau đớn. Lúc ấy, những tưởng sắp ngã quî thì nàng cố gượng đứng thẳng người lên! Theo NSND Sĩ Tiến: “Nhờ đôi mắt có “thần” thể hiện tâm trạng, nàng đã khiến khán giả quên đi đôi má còn đượm màu phấn son mà chỉ như thấy đứng trước một đóa hoa vừa héo rũ. Người ta có cảm giác lúc ấy đôi môi cô tuy mấp máy nhưng đã cứng đờ… từ đỏ tươi đến tái nhợt. Sắc thái đó, bản lĩnh đó, tài năng đó phải tập trung tinh lực cao độ mới bộc lộ được hết cái u uất, cái nghẹn ngào còn giấu kín trong cửa ngục tâm hồn”. Trong vở Sĩ Vân công chúa, bà đóng chung với danh tài Phùng Há đã tạo nên đôi uyên ương độc nhất vô nhị của thời bấy giờ. Trong vở Tứ đổ tường qua vai Thị Anh, vợ tên nghiện Hà Công Yên (Tám Danh), bà đã lấy của thiên hạ biết bao tiếng vỗ tay vang dội… Có thể nói, cùng với những tên tuổi tiền bối như Phùng Há, Ba Vân, Bảy Nhiêu, Tám Danh, Tám Mẹo, Ba Du, v.v… nghệ sĩ Năm Phỉ đã có công lớn kéo khán giả đến với sân khấu cải lương và tin tưởng ở tiền đồ của của loại hình nghệ thuật này. Trong hồi ký 50 mê hát, học giả Vương Hồng Sển cho biết: “Năm 1926 gánh Phước Cương lên hát rạp Sài Gòn: kép Bảy Nhiêu làm Tống Chơn Tôn, cô Nam Phỉ thủ vai Bàng Quý Phi hay đến đỗi Chính phủ gởi cả đôi sang Pháp diễn tại Paris dịp đấu xảo năm 1931, ăn khách suốt mấy tháng trường, tuy khán giả Lang – Sa không hiểu nỗi một câu bịn rịn hay câu vọng cổ mùi và chỉ hiểu qua màu bộ tịch của đào kép”. Chuyến đi “mang chuông sang đánh xứ người” này không hổ thẹn cho nữ giới Việt Nam. Báo Phụ nữ tân văn số 91 ra ngày 16/7/1931 cũng tường thuật khá chi tiết sự kiện này. Với đầu đề Cô Năm Phỉ được tiếng khen ở Paris, bài báo viết: “Ai cũng biết nhân cuộc đấu xảo thuộc địa ở Paris mà gánh hát Phước Cương và cô Năm Phỉ được chính phủ bên này cho qua, phô bày cái nghệ thuật diễn kịch của ta cho thiên hạ bên ấy biết. Cách đây vài tuần lễ, bạn đồng nghiệp Công Luận đăng tin rằng cô Năm Phỉ được báo giới ở Paris khen ngợi lắm. Báo Intrasigeant bình phẩm rằng: “Tôi thấy ở trường đấu xảo có một cô đào hát Việt Nam, kể về đường mỹ thuật, chẳng có cô đào nào nhà ta ăn đứt được”. Báo Comédie khen ngợi cô Năm Phỉ có câu rằng: “Cô đàothiệt hay, muốn dẫn người ta đi đâu cũng được”. Báo ấy còn so sánh Năm Phỉ với Suda Yakiko và Kanato là đào hát có danh ở nước Nhật bấy giờ. Hai tờ báo trên đều là báo danh tiếng ở Paris cả, họ khen tài nghệ của cô Năm Phỉ như thế, chẳng những là sự vẻ vang cho riêng cô mà là sự vẻ vang chung cho nghệ thuật mới ở nước ta vậy”. Theo tài liệu của Nguyễn Phúc Nghiệp thì chỉ riêng lần lưu diễn này bà đã nhận được 4 huy chương, 186 bức thư và 1.008 danh thiếp của khán giả, 167 kiểu ảnh chụp, 42 bài báo ca ngợi và 230.000 đồng tiền thù lao (thời đó tương đương hàng ngàn lạng vàng) (báo Sài Gòn giải phóng số ra ngày 31/7/1993). Trở về nước, Năm Phỉ lại tiếp tục khuấy động sân khấu. Gánh Phước Cương bấy giờ đã “nổi như cồn” quy tụ thêm được những tên tuổi như Năm Châu, Từ Anh, Ba Vân, Sáu Ngọc Sương… liền đổi tên Đại Phước Cương. Khoảng năm 1938, do nhiều duyên cớ khác nhau, các nghệ sĩ trong gánh Đại Phước Cương cũng chia tay nhau, mỗi người đi một ngả nên đổi thành Tiểu Phước Cương! Bà Năm Phỉ đứng ra lập gánh hát Nam Phi chung với kép Tư út, cô Bảy Nhỏ, cô Mười Truyền, cô Bảy Vĩnh Long… Sau năm 1940, gánh hát này giải thể, bà giao lại cho em ruột mình là nghệ sĩ Bảy Nam – cùng hoạt động chung với nghệ sĩ Duy Lân nên đổi tên thành Nam Lân. Không chỉ hoạt động sôi nổi trong lãnh vực nghệ thuật, bà Năm Phỉ còn có mặt trong phong trào yêu nước.

Năm 1936, Mặt trận Bình dân thắng thế ở nghị trường Pháp, mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp cho tình hình chính trị tại các nước thuộc địa. Đảng Cộng sản đã chớp thời cơ để hình thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương, rồi sau đó tổ chức Đông Dương đại hội. Nghệ sĩ Nam Phỉ đã có mặt trên chiến tuyến của những người trí thức yêu nước. Ngày 1/5/1938, cùng với hàng ngàn người lao khổ và công nhân Pháp tham gia cuộc mít-tinh công khai tại rạp Đội Có (Phú Nhuận) do Ban công đoàn của Đảng Cộng sản tổ chức, bà Năm Phỉ là người được thay mặt giới nghệ sĩ và Hội Ái hữu Cải lương bước lên diễn đàn kêu gọi đấu tranh đòi tự do nghiệp đoàn, áo cơm, dân chủ. Những lúc ấy, mọi người thấy bà xuất hiện và phát biểu thật đĩnh đạc. Tuy có cầm giấy như đang đọc, nhưng thật ra nội dung ấy bà đã thuộc lòng. Do đó, lối diễn thuyết của bà đã gây được hiệu quả nhất định trước công chúng. Năm tháng trôi qua, trên sàn diễn và sự nghiệp của bà càng chói lọi và bà là một những nghệ sĩ đầu tiên được nhiều huy chương. Chẳng hạn vua Bão Đại tặng bà Huy chương Kim Tiền, khi lưu diễn sang Lào, Thái Lan, Campuchia… bà cũng đều được các nước tặng Huy chương, v.v… Những gánh hát nào có trương tên bà, nhưng đêm ấy vì lý do gì đó bà không xuất hiện thì lập tức thiên hạ nhốn nháo đòi trả lại vé! Rất lạ là một nghệ sĩ tài danh như bà nhưng lúc học tuồng mà đã nhớ sai một chữ hoặc một câu thì không sửa được. Có lần ở gánh Đại Phước Cương, người chuyên đờn cho bà là nghệ sĩ Chín Trích, hai người này “ăn ý” với nhau không gì cặp đờn ca Sáu Tửng – Phùng Há. Thế nhưng, lúc bà đã ca sai một câu thì sửa mãi không được nên cuối cùng Chín Trích phải sửa bằng cách… đờn sai theo bà! Tưởng vậy là “êm” là ổn thỏa, nào ngờ có lần tự nhiên bà lại… ca trúng! Vậy là đờn đi một đàng, lời ca đi một nẻo! Hát xong vào hậu trường, bà hỏi:

“Sao anh lại đờn kỳ vậy”. Chín Trích trả lời tỉnh queo: “Tại lần này chị… ca trúng”. Ai nấy biết chuyện đều cười xòa vui vẻ. Theo hồi ký Trôi theo dòng đời (NXB phụ nữ, 1993) của NSND Bảy Nam: “Có lần chị Năm tôi tâm sự: “Cuộc đời chị, trời ơi! Lên sân khấu hồi 10, 11 tuổi, khổ ơi là khổ, đến ngày nay mấy chục năm trôi qua rồi mà vẫn chưa có cái nhà cái cửa như người ta. Lập gánh hát ra thì cứ lo hát, lo chạy nợ, lo bữa nào dàn thưa trả vé. Cuộc đời sao mà nó u tối quá, rồi tài nghệ sao phát triển được. Nhiều lần chị dự định xin Pháp lập một cái trường, quy tụ các anh em lại, dạy mấy đứa nhỏ cho chúng nó nối nghiệp mà cũng không biết đường nào mà xin. Đêm nào cũng hát khan tiếng, mệt đừ rồi chạy nợ. Hát đông thì không nói gì, còn hát thưa sắm tuồng rồi mà không biết phải trả vé lúc nào. Cho nên một khi có vài ông lớn đòi lập gánh trả lương tháng thì chị nhận lời ngay”. Dù mộng ước tốt đẹp ấy đã không thực hiện được, nhưng thời xuân sắc bà đã cùng các nghệ sĩ tâm huyết với sân khấu làm được một việc rất có ý nghĩa. Nếu nghệ sĩ Phùng Há có công đầu trong việc lập Nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp, thì bà Năm Phỉ cũng có công lớn khi cùng anh em nghệ sĩ đứng ra thành lập Hội Ái hữu Sân khấu tại đường Cô Bắc – gần cầu Ông Lãnh. Vào năm 1947, cuộc chiến tranh Pháp Việt đang diễn ra ngày một khốc liệt, một số nghệ sĩ sân khấu nhận thấy phải có một hội ái hữu để tương thân tương trợ trong quan, hôn, tang, tế. Sau một thời gian vận động, kêu gọi ngày ngày 2/4/ 1948 Ban Trị sự tạm thời được thành lập gồm có các ông bà: hội trưởng Trần Khiêm Cung; phó hội trưởng Năm Phỉ; thơ ký Nguyễn Văn Chỉ; phó thư ký Bảy Nhiêu;… giữ vụ kiểm soát là soạn giả Trần Hữu Trang, bà bầu gánh Tạ Thị Chuẩn, nghệ sĩ Ba Vân; còn các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, Tư Chơi được sung vào chức cố vấn. Sau khi Ban trị sự chín thức thành lập thì nghệ sĩ Năm Phỉ được giao chức vụ cố vấn cho Hội cùng với nghệ sĩ Phùng Há và nhà báo Trần Tấn Quốc. Con đường hoạt động nghệ thuật của nghệ sĩ Năm Phỉ chấm dứt vào lúc bà đang ở trên đỉnh cao của danh vọng: Năm 1952, sau khi diễn vai Lan trong tuồng Lan và Điệp (phỏng theo tác phẩm Tắt lửa lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan) tại rạp Thuận Thành (Tân Định), Năm Phỉ không diễn nữa. Đó là lần cuối cùng người ta thấy bà xuất hiện trên sân khấu với vai Lan 18 tuổi, mặc dù bà đã qua tuổi 46 – cũng là vai diễn “để đời” của bà. Nếu nghệ sĩ Thanh Tao với vai Điệp, “hớp hồn” khán giả qua giọng ca, thì bà lại “mê hoặc” người xem bằng động tác diễn “xuất thần”…

Qua đời

Hai năm sau, 1954, Năm Phỉ cùng người bạn đi xem hát ở rạp Nam Quang. Xem nửa chừng, bà bị xỉu phải đưa vào bệnh viện Grall, nằm tại đây được một hôm thì bà mất vì đứt mạch máu não, lúc đó bà mới 48 xuân. Tấm gương hoạt động nghệ thuật không mệt mỏi của bà Năm Phỉ có ảnh hưởng rất sâu sắc đến nhiều thế hệ. Nhớ ơn người thầy, người chị của mình, nghệ sĩ Bảy Nam đã lấy tên chị và tên con gái để lập gánh hát Năm Phỉ – Kim Cương. Còn giới sân khấu miền Nam năm 1954 cũng tổ chức trọng thể lễ truy điệu tài danh Nam Phỉ. Thiết tưởng hiện nay, chúng ta đã có giải Trần Hữu Trang hằng năm trao giải thưởng phát hiện những tài năng mới, thì cũng nên có giải thưởng mang tên Năm Phỉ – đặc biệt dành cho các nữ diễn viên nghèo, mới vào nghề nhưng thật sự có tài năng.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Năm Phỉ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)