Nam Sơn Tam Trinh Hiển Ứng Đại Vương

Nam Sơn Tam Trinh Hiển Ứng Đại Vương

Thông tin cơ bản

Xưa, Thánh tổ Hùng Vương khởi nghiệp ở nơi đầu nguồn sông núi, mở mang cơ đồ trong hơn 20 năm. Hùng Vương dựng nước, núi xanh muôn dặm, dựng nền móng kinh đô. Một dòng nước biếc, mở đạo thánh để minh vương, giúp đỡ người vật. Thống lãnh 15 bộ, lấy hiệu Bách Việt làm tổ mở đầu. Mỗi lần quốc gia lâm nguy lại có trăm thần xuất thế, đầu thai vào làm con nhà dân để giúp nước cứu dân. Gia đình nào có phúc mới được nhận lấy.

Lại nói, bấy giờ tương truyền đời Hùng Vương 18 đã hết, ý trời muốn cáo chung, trải đến các đời Đông Hán, nước ta thuộc nội địa, nhưng khi Long Biên còn thuộc nước ta, có ông họ Triệu tên húy là Cần người cha được phong tước, gia đình được hưởng phúc ấm. Ông lấy bà họ Tạ húy là Thành, người quận ta. Bà vốn dòng dõi thi thư lễ nhạc, là bậc trâm anh thế phiệt. Ông quả là đã lấy được gia đình danh giá.

Ông thuở nhỏ tỉnh thông y dược, thường làm việc thiện, hay chẩn tế cứu người, nhưng tuổi ông đã lục tuần, bà họ Tạ cũng đã hơn 40, con gái đã có mấy người những hiểm nỗi chưa có con trai. Bà họ Tạ thường giam mình ở bên song phía nam. Một hôm bà bỗng nhiên nằm mơ thấy có một tiên ông từ trên núi đi xuống cho một viên ngọc trắng bảo nuốt vào bụng. Chốc lát tỉnh lại, bà nói với ông Triệu rằng:

– Ông nghĩ xem, trong mộng tất là điềm lành.

Từ đó bà họ Tạ có thai. Vào giờ Dần ngày 5 tháng Giêng năm Nhâm Dần, bà sinh được một cậu con trai, diện mạo khác thường, thông minh dĩnh ngộ, ba tuổi đã biết lễ nghĩa, lại biết kính nhường. Chỉ mới nghe học đã biết thẩm âm. 7 tuổi vào học, 13 tuổi đã làu thông kinh sử. Lại còn biết võ nghệ. Các học trò bấy giờ ai cũng thán phục, cùng tôn xưng gọi là “Thánh đồng đại chung” (chuông lớn nhà Thánh). Cha yêu quý nên đặt tên là Tam Trinh.

Năm ông 18 tuổi, cha mẹ nối nhau qua đời, Trinh chọn đất lành làm lễ mai táng cho cha mẹ. Sau ba năm mãn tang, ông ngầm đọc sách rồi dạy cho sĩ dân, làm phong hóa đất châu Nam, sau đó mới dạy lễ nghĩa cho dân. Mọi người ai cũng mến mộ ông, cùng suy tôn ông làm Trưởng châu. Ông nhận mệnh rồi đi khắp nơi giáo hóa phong tục cho dân. Đúng lúc đi đến trại Mai Động thuộc huyện Thành Đàm (sau đổi là Thanh Trì-NC) phủ Thường Tín Thượng Lộ thuộc Sơn Nam (sau là thành Thăng Long-NC), ông thấy người dân nơi đây thuần phác, thô lậu, ít người có học bèn truyền cho đóng lại ở bến Kim Ngưu để dạy dân chữ nghĩa. Được một năm, người dân ai cũng mến mộ. Mọi người ai cũng kính phục đức của ông nên yên tâm học tập.

Năm đó Tô Định mang binh đến biên giới xâm chiếm trung nguyên, người dân bị sát hại nhưng chẳng có ai đứng ra cứu giúp. Bấy giờ chắt nữ của Hùng Vương đời trước húy là Trắc, là bậc hào kiệt trong giới nữ lưu, là bậc thánh thần, hùng uy đại phấn, liền đem quân tới giao chiến. Nữ tướng xuất binh, thần linh phù hộ. Trưng Nữ ngầm cầu đảo Tản Viên Sơn thánh cùng hội đồng bách thần. Tại cửa sông Hát, xứ Sơn Tây, bà đã cho lập đàn để tế cáo với chư vị thần linh. Khấn rằng:

“Trời sinh ra người, đứng đầu muôn vật trong trời đất, có quan hệ với sinh linh và cỏ cây, nên trải các đời các bậc đế vương, thiên tử, thánh minh, triều đình đều theo đạo lý, yêu dân lo cho nước, đức lớn phô bày. Vì thế mà thiên hạ thanh bình, nước nhà không có điều gì phải lo lắng. Nay người khác họ hiệu là Tô Định, là loài chó dê, ngông cuồng bạo hành, chính trị hà khắc, tàn sát nhân dân, trời đất quỷ thần cùng người dân cùng phẫn uất.

Thiếp vốn dòng dõi con cháu nhà Hùng Vương, nói đến sinh linh, trời xanh rơi lệ. Nay đau xót dân đen con đỏ, dấy nghĩa trừ tàn, nguyện xin trăm vị tôn thần cùng chứng giám lời thề, dốc sức phù hộ cho Trưng Nữ thiếp mang quân đánh dẹp bọn giặc, giữ nước cứu dân, khiến thiếp có thể khôi phục cơ đồ tổ tông, muôn vật. Cho dân được ở nơi sung sướng, cứu giúp sinh linh ra khỏi cảnh lửa bỏng nước sôi, để khỏi phụ ý trời, thỏa lòng mong mỏi của các linh các đời thờ nơi miếu mạo, an ủi được tổ tông nơi chín suối”.

Khấn xong liền hô gọi âm binh, ngàn vạn đội ngũ. Sau đó lại truyền hịch đi khắp các châu huyện ở Nam bang, chiêu mộ những người thông minh tài trí, đức độ hơn người, các bậc phiên thần có thể đánh dẹp giặc.

Ông Trinh khi nghe tin thiên tử có chiếu cho trạng nguyên (tức những người tài giỏi) ở các nơi, bèn khắc cốt ghi tâm, phát động bình sĩ, đinh tráng được hơn 5 ngàn người. Bấy giờ các phụ lão ở trại Mai Động thấy ông chiêu mộ như thế bèn làm lễ xin được làm bề tôi. Ông đồng ý rồi lấy người trai tráng cùng sĩ tử trong trại được hơn 30 người cho làm bề tôi thân thuộc.

Ngày hôm đó mổ trâu bò, lợn làm lễ tế trăm thần núi sông, khao thưởng sĩ tốt, đinh tráng, rồi cho quân tiến thẳng đến đồn của bà Trưng. Ông vào làm lễ bái mệnh, Trưng Nữ đang tuyển người tài thấy ông là trang nam nhi, giỏi thao lược hơn người, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, không có gì là không biết, bèn ban cho ông chức Đô úy1. Lập tức cử ông chia đường tiến binh đến thẳng đồn Tô Định, đánh lớn một trận. Quân Tô Định bị thua to, bỏ chạy tán loạn. Quân của ông chém được chính tướng và tỷ tướng đến vài ngàn người. Ông cùng với Trưng Nữ thu về 65 thành đã mất, khôi phục lại đất đai của nước Nam rồi Trưng Nữ lên ngôi vua.

Ở ngôi được 3 năm, nhà Hán lại sai Mã Viện2 đến. Vua liền phong cho ông chức Liệt hầu3, nhân sai ông nắm giữ chức Quyền chưởng, có quyền trong việc bổ sung điều động binh linh, đối phó với địch trong việc trị loạn. Vua lại sai ông đem binh cố thủ quan ải. Khi ông vừa đến Sơn Nam, chẳng ngờ quân Hán đã có mặt tại đó, chúng nói với ông rằng:

– Quân nhà Hán vừa mới thêm quân cứu viện. Cớ sao người lại đi về Nam.

Ông cho đóng cửa không tiếp. Tướng nhà Hán tức giận phá cửa xông vào. Thấy thế giặc Hán mạnh ông bèn dẫn quân lui về trại Mai Động (sau đổi là trang Mai Động-NC), dừng quân tại đó. Chẳng ngờ quân nhà Hán đang đêm tới bủa vây nhiều vòng. Ông bèn cưỡi ngựa đánh nhau với chúng để phá vây ra ngoài. Đến xứ Khu Đống ở bên đường, biết Nữ vương thất cơ lên chầu trời, ông bèn ngửa cổ lên trời than rằng:

Than ôi, cơ đồ Trưng Nữ phó cho một giấc mộng xuân. Người bề tôi thờ vua chẳng ngờ lại phải rơi vào cảnh này, biết ta chỉ có trời chăng.

Nói xong ông cưỡi ngựa lên núi rồi rơi xuống chẳng thấy đâu nữa. Ông đã hóa. Lúc bấy giờ là ngày 10 tháng 2. Người dân vô cùng kinh sợ, hôm đó ở trại Mai Động nhân dân làm lễ xin lập miếu thờ ông.

Vào khoảng năm thứ 5 thời vua Lê Đại Hành (984), khi khảo xét bách thần thấy ông linh ứng bèn gia phong làm Đương cảnh thành hoàng Tối linh Đại vương.

Sắc phong để nguyên chữ thần hiệu là:

Sắc cho Nam Sơn Tam Trinh Hiển ứng Đại vương (cấm mặc áo đỏ khi làm lễ-NC)

Lại nói, từ đó về sau, thần tỏ rõ linh ứng, nên nhiều đời đế vương gia phong mỹ tự.

Thời Trần Thái Tông (1225 – 1258), giặc Nguyên tới xâm lược nước ta, kinh đô bị vây hãm, Trần Quốc Tuấn phụng mệnh cầu đảo bách thần ở các đền miếu, khi đến cầu đảo ở ngôi đền này, đại vương cũng hiển linh, âm phù trợ giúp bình được giặc Ô Mã Nhi. Trần Thái Tông bèn bao phong mỹ tự là Nhất vị linh ứng anh triết hộ quốc tỷ dân bảo cảnh hiển hựu Đại vương.

Đến thời Lê Thái Tổ khởi nghĩa bình giặc Liễu Thăng nhà Minh, lấy được thiên hạ, Thái Tổ bèn gia phong cho thần là Nhất vị phổ tế cương nghị anh linh. Lại ban sắc chỉ cho trang [5a] Mai Động trùng tu điện miếu để phụng thờ. Than ôi đức thần lớn thay.

Phụng kê ngày sinh ngày hóa, các tiết cùng với chữ húy đều cấm, nhất là với hai chữ “Tam Trinh”, cho phép trang Mai Động phụng thờ.

Ngày sinh của thần là ngày mồng 5 tháng Giêng. Lệ dâng lễ, trên dâng cỗ chay, dưới dâng cỗ có thịt lợn đen, xôi, rượu, bánh dày. Tổ chức ca xướng, chơi trò đánh vật, đánh cờ trong 3 ngày.

Ngày hóa của thần là ngày 10 tháng 2. Lệ dùng trên cỗ chay, dưới cỗ thịt trâu (bò), thịt lợn, xôi, rượu, bánh dày, bánh chưng.

Ngày khánh hạ là ngày 14 tháng 8, lễ tổ chức rước kiệu, ca hát trong 3 ngày.

Ngày lành tháng mạnh xuân (tháng Giêng) năm Hồng Phúc thứ nhất (1572).

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính phụng soạn.

Ngày lành mùa thu tháng 8 năm Vĩnh Hựu thứ 6 triều Lê (1740).

Quản giám Bách linh Tri điện Hùng lãnh thiếu khanh, thần là Nguyễn Hiền tuân theo bản chính cũ [sao lại].

Chú thích:

  1. Đô úy: Chức quan võ. Chức quan này đặt từ thời Chiến quốc, đến thời Tây Hán là chức quan hành chính. Thời thuộc Ngô nước ta đặt chức Điền nông Đô úy để cai quản các đồn điền mới được lập ra (Đỗ Văn Ninh: Từ điển quan chức Việt Nam. Nxb. Thanh niên, tr.287-288).
  2. Mã Viện 馬援 (14TCN – 49), tự Văn Uyên, người Phù Phong, Mậu Lăng (nay là tỉnh Thiểm Tây). Mã Viện là một viên tướng phục vụ dưới trướng Quỳ Ngao, sau quy thuận nhà Đông Hán. Mã Viện được vua nhà Hán cử sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng của nước ta vào năm 43. Mã Viện còn được gọi là Phục Ba tướng quân hay Mã Phục Ba.
  3. Liệt hầu: Chức quan. Vị trí cao nhất trong các tước vị, dưới vương.

Nguồn: “Trưng Nữ Vương triều nhất vị Đại vương phả lục”, ký hiệu AEa2/23, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (8)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)