Ngô Gia Hy (1916 – 2004)

Ngô Gia Hy (1916 – 2004)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Một trong những thành tựu của nền y học nước nhà cuối thế kỷ XX, được giới y học quốc tế đánh giá là một kỳ tích: Lúc 19g15 ngày 4/10/1988, hai cháu song sinh dính nhau Việt -Đức đã được tách ra sau bốn cuộc đại phẫu thuật kéo dài gần 16 giờ tại Bệnh viện phụ sản Từ Dũ Thành phố Hồ ChíMinh – do thầy Ngô Gia Hy chỉ đạo êkíp được huy động đến 70 bác sĩ và các nhà chuyên môn giỏi từ nhiều đơn vị y tế khác nhau. Về sự kiện này, GS Trần Văn Giàu phát biểu sâu sắc:

Tôi dạy triết học và tôi nhận ra rằng các anh em trong ca mổ Việt – Đức trên một phương diện nào đó có tư tưởng triết học đấy. Ngày xưa ông Phan Thanh Giản qua bên Tây xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông, ông thấy khoa học của Pháp giỏi quá, đi về ông có hai câu làm cho vua Tự Đức giật mình mà những nhà nho thời ấy cũng phải khiếp sợ:

Bá ban kỹ xảo tề thiên địa,
Duy hữu tử sanh tạo hóa quyền.

có nghĩa là một trăm kỹ xảo kỹ nghệ công nghiệp bằng trời đất, chỉ có sống chết là của tạo hóa mà thôi, giỏi đến mấy cũng không cưỡng lại được. Ca mổ Việt – Đức là một cuộc tranh tài đọ sức với tạo hóa. Như vậy mới thấy chuyện tử sanh không còn phải chỉ của tạo hóa quyền.

Còn thầy Ngô Gia Hy trong giây phút ấy, tâm trí bỗng nhớ đến người mẹ của mình. Chao ơi! Chỉ mới một chớp mắt mà đã sắp hết một đời người. Mẹ của thầy mất chỉ vì một khối u. Nếu y học thời đó có những tiến bộ như bây giờ thì thầy đã không sớm mồ côi mẹ. Bấy giờ, cha của thầy là cụ Ngô Gia Lễ, vị quan bất đắc chí, sống rất mục thước, luôn mong con mình theo nghề y để sau này cứu người…

Thân thế và con đường học tập

Thầy Ngô Gia Hy sinh ngày 16/1/1915 tại làng Tam Sơn, phủ Từ Sơn (nay huyện Tiên Sơn) tỉnh Bắc Ninh. Khi đặt tên con là Hy, người cha mong muốn con mình luôn “vui vẻ”, hơn nữa “hy” thường đi đôi với “hy vọng”- cũng là một cách mơ ước về tương lai của con mình sau này. Có một điều ít người biết, thầy là cháu ruột gọi nhà cách mạng Ngô Gia Tự bằng chú. Thuở nhỏ, thầy nổi tiếng học giỏi nhất trong làng. Năm 1948, thầy tốt nghiệp hạng ưu của trường Đại học Y khoa Hà Nội và được giữ lại trường. Năm tháng này, hạnh phúc của thầy là được theo học với một vị giáo sư tài hoa, người đã phát minh ra phương pháp cắt gan có quy phạm rất uy tín trên trường quốc tế. Sau này, thầy tự hào kể lại:

Tôi là học trò của GS Tôn Thất Tùng. Ngay từ sinh viên năm thứ nhất tôi được ông dạy môn giải phẫu học. Ông truyền dạy chúng tôi tính cẩn thận, nhất là săn sóc bệnh nhân. Ông bảo còn trẻ thì cần luôn nghĩ hướng để vươn tới. Sau này, tôi cũng hay nói với học trò của mình cần có nhiều tham vọng, không tham vọng thì không thể thành công được. Bằng lòng với số phận của mình thì xem như hết, không thể thành công, không làm được sự nghiệp gì lớn. “Luôn nghĩ hướng để vươn tới”, thầy đã không phụ lòi khuyên này.

Dù được giữ lại trường, có thể an phận với công việc ổn định nhưng thầy vẫn nỗ lực học hỏi thêm và tiếp tục học chuyên môn ở Pháp (1950 – 1953), Mỹ (1960). Năm 1962, thầy đỗ Thạc sĩ y khoa (Niệu) tại Paris và trở thành giáo sư thực thụ Đại học Y khoa Sài Gòn. Từ đó, vừa là Chủ nhiệm bộ môn Niệu ở trường, vừa làm bác sĩ hướng dẫn cho sinh viên thực tập tại Bệnh viện Bình Dân, thầy có cơ hội phát huy khả năng chuyên môn của mình. Về việc chọn khoa niệu, thầy cho biết:

Khi còn là sinh viên nội trú ở Bệnh viên Yersin, tôi nhận thấy bệnh niệu học thường gặp với tỷ lệ cao. Và ngày đó cũng chưa có bác sĩ nào học về chuyên khoa này.

Những đóng góp cho y học

Trong cuộc đời mình, thầy đã tham gia Hiệp hội Niệu học Pháp, là Hội viên Hội Niệu học quốc tế, sáng lập viên Hội Niệu học Đông Nam Á, là tác giả vài chục đầu sách và hơn 140 công trình nghiên cứu, đặc biệt là nhà phẫu thuật niệu hàng đầu mỗ rất nhiều ca sỏi thận, bọng đái, đường tiểu và có những công trình có giá trị về tạo hình đường tiểu (12 công trình), về cắt bỏ bướu lành tiền liệt tuyến (10 công trình) và còn là thành viên Hiệp hội các nhà giải phẫu quốc tế (FCS). Với ca mổ kỳ diệu như ta đã biết, sau này BS Trần Đông A phát biểu:

Tập thể mổ đã tiên đoán đúng cấu trúc sinh học của Việt – Đức tới 90%, 10% ngoài tiên đoán, đó là sự xuất hiện một tĩnh mạch trên đường tách đôi và nó đã được xử lý nhanh đúng theo chỉ thị tại chỗ của GS Ngô Gia Hy…

Như thế đủ biết, ở lãnh vực giải phẫu thầy cũng có những đóng góp đáng. Là một bác sĩ Tây y nhưng thầy còn nghiên cứu đến Khí công và Dịch lý nữa. Với kiến thức uyên bác, thầy đã viết những công trình như Khí công và y học hiện đại (viết chung với Bùi Lưu Yêm, Ngô Gia Lương). Và thầy cũng là người đầu tiên viết chuyên luận “Tổng hợp những lời dạy của y tôn Việt Nam về y đức thành văn bản nghĩa vụ – luật”. Ngoài ra, thầy còn có lúc làm tổng thư ký tập san y học Acts Medica Vietnam (Hội Y học Việt Nam, 1962-1975), tổng biên tập tập san Thời sự Y dược học thành phố Hồ Chí Minh và phụ bản Y học cho mọi người. Riêng chuyên môn về niệu khoa cho đến nay ít có người sánh kịp. Do suy nghĩ như thế nên có lần một nhà báo hỏi thầy:

Liệu có bác sĩ nào trong niệu khoa là người có thể vươn tới đỉnh cao hôm nay của giáo sư?

Thật bất ngờ khi thầy đáp:

Thế nào là đỉnh cao? Y học không có đỉnh cao vì nó vô bờ bến. Đối với tự nhiên, những cái biết của y học chẳng đáng kể gì bên cạnh những cái chưa biết. Lúc nào người thầy thuốc cũng vẫn thấy mình dốt, kể cả trong ngành chuyên sâu của mình, nói chi đối với ngành khác. Con người còn vô vàn bí ẩn và y học cuối cùng bao giờ cũng chịu thua tạo hóa.

Quan điểm giáo dục 

Thầy Ngô Gia Hy đã hướng dẫn trên 70 luận án bác sĩ, phó tiến sĩ… Nhớ đến thầy, các môn sinh đều nhớ ngay đến một nhà sư phạm mẫu mực. Với Bác sĩ Vũ Lê Chuyên (khoa Niệu – Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh): “Ngày mới vào nghề, tôi đã được thầy dặn dò: “Nghề y không phải là chỗ để người ta tìm kiếm vinh quang”. Trải qua 25 năm gắn bó với công việc cứu người, tôi đã thấm thía lời nói của thầy và thấy mình còn mắc nợ bệnh nhân nhiều lắm!”; Tiến sĩ – dược sĩ Nguyễn Hữu Đức: “Giờ dạy của thầy đã gây sâu sắc ở con. Con nhớ mãi tấm hình thầy chiếu lên bảng cho cả lớp xem. Đó là hình vẽ ông thầy đồ dạy học trò chữ Nho của thời xa xưa. Ông thầy đồ cầm roi trong khi cậu học trò nhỏ bé nằm mọp dưới đất vừa viết chữ, vừa lắng nghe lời giảng của thầy. Thầy bảo, phải xóa bỏ cái gì lỗi thời của cái dạy, cái học ngày xưa, nhưng phải giữ muôn đời hình ảnh “Tôn sư trọng đạo”; BS Nguyễn Văn Hiệp, Phó Giám đốc Bệnh viện Bình Dân, người học trò gắn bó với thầy mãi từ năm 1966: “Tôi được thừa hưởng tất cả những gì thầy Hy đã truyền đạt từ vấn đề chuyên môn, nhân cách, đạo đức đến cách ăn nói, cư xử với đồng nghiệp, bệnh nhân, học trò. Tôi không thể nào quên hình ảnh người thầy không ngại đêm khuya, có mặt kịp thời, sát cánh cùng bác sĩ trong những ca mổ gặp biến chứng”; BS Trần Ngọc Sinh, Chủ nhiệm khoa Niệu Bệnh viện Chợ Rẫy: “Và chính thầy cũng là người dạy tôi chớ nên có định kiến với lớp trẻ, phải biết trân trọng và tạo điều kiện tốt cho những y bác sĩ trẻ có tài, có đức phát triển toàn diện. Đối với thầy, giữa già và trẻ dĩ nhiên là có khoảng cách, khoảng cách lớn nhỏ không can hệ, cái can hệ là chính người trẻ sẽ làm khoảng cách ấy ngắn lại với sự giúp đỡ của người già để rồi người trẻ vượt lên trước. Đó là tinh thần truyền thống của gia đình y khoa và cũng là mục tiêu của giáo dục”.

Những lời căn dặn dành cho thế hệ trẻ

Nhân mùa tuyển sinh năm 2004, dù lúc đó đã “gần đất xa trời”, chỉ 3 tháng trước khi về suối vàng, nhưng thầy vẫn dặn dò thế hệ trẻ về “Chìa khóa để học tập đại học”. Những ý kiến tâm huyết của thầy rất cần thiết để chúng ta cùng suy nghĩ. Càng đọc càng thấy và vỡ ra bao điều thú vị, hữu ích. Thầy viết:

Mùa thi tuyển vào đại học đã bắt đầu. Tôi được biết nhiều bạn chưa được sửa soạn để chọn ngành nghề, và nhất là chưa được huấn luyện để học đại học. Trong bốn năm phụ trách môn “Học tập đại học và nghiên cứu khoa học” cho sinh viên năm I tại Đại học dân lập Hùng Vương, tôi càng thấy rõ điều này. Đây là một thiếu sót rất lớn, gây biết bao khó khăn cho các bạn để bước vào đại học.

Đại học, một chân trời mênh mông không bờ bến, một con đường dài vô tận… Đại học là khám phá những cái chưa biết và không biết. Chưa biết đã nhiều vô hạn, rồi không biết lại càng không tính được. Trên quan điểm này, đại học mà chỉ học kiến thức, quả là nghịch lý. Đại học nhằm phát triển bốn mặt chiến lược của một con người:

Mặt kiến thức để vượt chữ nghĩa, đi tìm sự thật. Mặt kỹ năng để vượt bắt chước và sáng tạo. Mặt thái độ để đi đến say mê làm nghiên cứu khoa học. Mặt nhân cách để thành con người có phẩm chất và đạo đức. Tôi thiết nghĩ đấy là phát triển con người toàn diện. Để đạt mục tiêu này, các bạn hãy tự sắm sửa hành trang để lên đường khám phá những điều chưa biết. Hãy xỏ vào chân đôi giày vạn dặm để bước vào con đường vô tận.

Hành trang thứ nhất: Biết mình và tự tin. Thói đời phê phán, chê bai người thì dễ, còn biết mình sợ rằng có mấy ai đã tịnh tâm hàng ngày quay vào nội tâm để tự đánh giá mình một cách khách quan và trung thực, để phát hiện những yếu kém và quyết tâm bù đắp. Có một số nhà giáo dục nói với tôi rằng: biết mình là duy tâm. Tôi khẳng định: biết mình là rất khoa học, với điều kiện trung thực.

Hành trang thứ hai: Trung thực. Khoa học không chấp nhận sự giả dối – dối mình, dối bạn, dối thầy, dối xã hội. Quay cóp là giả dối. Các bạn hãy thề “không bao giờ quay cóp” để đóng góp vào việc xóa quốc nạn này. Ngày nào sinh viên không còn quay cóp nữa, ngày đó họ mới xứng đáng là sinh viên và đã trưởng thành.

Hành trang thứ ba: Chủ động trong học tập. Tôi biết tôi, tôi tin ở tôi và tôi làm chủ bản thân tôi. Tôi tự học là chính, tự đào tạo là chủ yếu. Tôi tự cứu vớt tôi và chỉ có tôi mới cứu vớt được tôi, bởi vì trong cuộc sống mỗi người phải chịu trách nhiệm tự tạo cho tương lai của mình. Những nhân tố khách quan, trong đó ông thầy chỉ là giúp đỡ. Hãy tự tạo cho mình một đời sinh viên tự chủ và một cuộc đời tự chủ. Ban đầu nếu có phải làm công, thì một thời gian sau sẽ vươn lên làm chủ và thuê lại những người trước đây đã thuê mình.

Hành trang thứ tư: Tập “giải đáp những bài toán và hành động”. Đời người là chuỗi dài những bài toán đơn giản hay phức tạp, dễ hay khó. Hãy coi mỗi bài học là một bài toán, một vấn đề cần giải đáp. Trên quan điểm này, trước khi đến dự lớp học, bạn phải biết trước vấn đề phải giải quyết đã được giao trước, bạn đã đi tìm tài liệu và phác thảo cách giải quyết. Vào lớp nghe thầy giảng, bạn sẽ đóng góp ý kiến với thầy, với bạn. Như vậy một buổi dự lớp thành một cuộc du lịch để khám phá, tìm tòi, để “tập làm nhà khoa học”, hay nói đúng hơn, để xử sự như một nhà khoa học. Tôi thường khuyên các sinh viên y khoa mới nhập trường: “Bắt đầu từ ngày hôm nay, các bạn nên xử sự như là một bác sĩ và một nhà khoa học.

Ở đây xin mạn phép mở dấu ngoặc. Những điều trình bày ở trên chỉ thực hiện được khi chính các thầy thay đổi phong cách giảng dạy. Triệt để chấm dứt kiểu giảng một chiều, chỉ truyền đạt kiến thức, không có đối thoại, với sinh viên hoàn toàn thụ động. Thầy đã nói thế, trò chỉ biết nghe theo, thế là đủ. Phương pháp này đã lỗi thời từ lâu rồi. Thầy cũng phải thay đổi cách kiểm tra. Mỗi kiểm tra là một bài toán mà trò phải tìm phương pháp giải đáp. Quay cóp trở thành vô tác dụng.

Về phía nhà trường cũng cần phải thay đổi khung cảnh, môi trường lớp học. Trong trường đại học, có một giảng đường lớn để tổ chức những buổi lễ, hoặc nghe những nhà bác học, các nhà lãnh đạo đến thuyết trình một vấn đề chung. Ngoài ra là những lớp học nhỏ chỉ có 20-30 sinh viên, giờ lên lớp sẽ biến thành buổi hội thảo mà thầy hướng dẫn để cuối cùng tổng hợp và kết luận. Tôi nghĩ rằng như thế đào tạo mới có chất lượng. Nói thế để xác định nhà trường không được hy sinh chất lượng để lấy số lượng với ý đồ thương mại hóa giáo dục.

Xã hội cũng nên đánh giá con người bằng thực chất, chứ không phải dựa vào mảnh bằng “đại học hay sau đại học”.

Hành trang thứ năm: Khiêm tốn. Kiêu ngạo không có chỗ đứng trong khoa học. Khiêm tốn để nhận thấy cần phải học tập và để trong các buổi hội thảo hòa mình với các bạn. Ở đây không phân biệt kém, giỏi. Ở đây là sự tương kính, tương thân, sự cởi mở, đầu mối của thành công trong học tập nhóm.

Hành trang thứ sáu: Biết “bất mãn”. Bất mãn với những gì đã đọc, đã nghe giảng, đã học. Đây là đòn bẩy thúc đẩy tìm tòi, sưu tầm, so sánh, suy tư và lựa chọn.

Hành trang thứ bảy: Xây dựng một thư viện bỏ túi.Tự xây dựng trong nhà mình hay trong cặp xách tay một thư viện bỏ túi. Với hệ thống Internet, bạn sẽ liên hệ gián tiếp với vô vàn các thầy, các bạn, các nhà bác học trên thế giới. Nhờ nó, bạn sẽ có cái nhìn bao quát với tầm mức xa. Tôi tin tưởng rằng với những hành trang ban đầu như vậy, bạn sẽ mạnh dạn đẩy cánh cửa đại học và thành công. Rồi trong quá trình học tập, bạn sẽ tự mình tạo cho chính mình những hành trang khác mà cuộc sống đòi hỏi.

Trăn trở về việc đào tạo nhân tài

Cũng trong thời điểm, dù đã 90 xuân, nhưng thầy vẫn bền lòng với vấn đề “Đi tìm hay đào tạo nhân tài”. Thầy viết:

Trong lịch sử Việt Nam, thời nào cũng có nhân tài vì thế chúng ta mới có nước Việt Nam ngày nay. Có điều, nhân tài không phải một sớm một chiều mà thành tựu. Theo quan niệm của tôi, nhân tài được đào luyện nhờ vào giáo dục gia đình. Lớn lên, chính nhờ vào bản thân dám chiến đấu gian khổ. Một Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Nguyễn Công Trứ, kể cả Cao Bá Quát đều qua muôn vàn chiến đấu gay go. Nhưng dù sao khởi đầu cũng là nhờ vào gia đình. Phá hoại truyền thống gia đình là một hủy hoại nhân tài từ trứng nước.

Đại học Việt Nam nhằm mục tiêu đào tạo nhân lực mà không đào tạo nhân tài. Thiết nghĩ đã đến lúc phải làm cuộc cách mạng nền giáo dục Việt Nam. Như thế nên triệt để xóa bỏ phương pháp giảng dạy sinh viên chỉ thụ động trong ghi chép bài giảng rồi ra về. Hãy biến mỗi buổi giảng dạy là một hội thảo bỏ túi mà trò là chủ động, thầy hướng dẫn. Nhân tài nảy sinh từ đó.

Bây giờ bàn về đi tìm nhân tài. Đi tìm có ý nghĩa là có nhưng chưa thấy vì chưa xuất đầu lộ diện, mà trong đó có lý do là ngại không được trọng dụng. Dùng nhưng không tin rồi bị chụp mũ, và có thể là thân bại danh liệt. Vấn đề ở đây là chưa có chính sách sử dụng người và biết cách đãi ngộ.

Còn nguồn nhân tài thứ hai là Việt kiều. Nhà nước đã long trọng tuyên bố: Việt kiều là một bộ phận không tách rời khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ai cũng biết nguyên tắc như vậy, nhưng thực hiện còn bao nhiêu mắc mứu. Vậy mà Trung Quốc đã thành công trong công cuộc này. Trung Quốc làm được, tại sao Việt Nam không làm được?

Những trăn trở về việc phải xây dựng, hình thành những thế hệ kế tiếp – thế hệ ấy phải “con hơn cha là nhà có phúc”, phải “lớp sóng sau đè lớp sóng trước”, ta còn có thể tìm đọc thêm ở tập sách Dạy và học Đại học y khoa (NXB Trẻ – 2001) do thầy viết. Qua đó, ta thấy những tâm huyết, những lời dặn dò của thầy đến nay vẫn còn có ý nghĩa thời sự và cần thiết cho chúng ta.

Cuối đời

Luôn ý thức với lời dạy của Đức Khổng Tử “Học nhi bất yểm, hối nhi bất quyện” (học mà không chán, dạy người không mỏi) nên lúc đã ngoài 80 xuân, thầy vẫn hăng hái thành lập trường Đại học Dân lập Hùng Vương do thầy làm Hiệu trưởng. Thầy đặt tên Hùng Vương là để nhớ về nguồn, nhớ tinh thần cái bọc trăm trứng, trong đó có yêu thương và giúp đỡ. Thầy nói:

Cái mộng thành lập đại học tư thục tôi đã ấp ủ từ 30 năm nay. Trong một xã hội, tại sao cứ phải trông chờ vào Nhà nước để giáo dục con em, đây là công việc của mọi người. Ông cha ta trước kia đâu có chờ nhà vua mở trường mới cho con đi học. Nguyễn Trãi, Quang Trung đã được đào luyện dưới những mái nhà tranh trong thôn xóm.

Ở ngôi trường này, điều thú vị là thầy “thiết kế” bộ môn đào tạo âm nhạc dân tộc trong khoa du lịch; đã phối hợp với giáo sư Trần Văn Khê tổ chức giảng dạy cho sinh viên về môn âm nhạc dân tộc với các bài ca trù, hát nói, hò. Thế mới biết tâm hồn của thầy khoáng đạt biết dường nào. Và cũng vì biết được những điều này, ta mới hiểu vì sao chưa bao giờ thầy mở phòng mạch riêng. Với uy tín trong nghề, giỏi về chuyên môn nếu làm như vậy thì chẳng mấy chốc thầy giàu to nhưng, thầy khiêm tốn:

Chắc tại ngại vất vả, suốt ngày cặm cụi ở bệnh viện, ở trường, chiều tối lại vùi đầu ở phòng mạch thì e tôi không chịu nổi. Vả chăng như vậy thì còn thời gian đâu mà đọc sách, viết sách, suy tư. Ngoài ra, tôi lại thích làm những việc ngoài nghề như ở lãnh vực văn hóa xã hội, nó giúp tôi quên đi phần nào những hình ảnh đau khổ của kiếp nhân sinh diễn ra tại bệnh viện. Mở phòng mạch tư dĩ nhiên có thêm tiền bạc và phương tiện để sinh sống, đôi khi để làm giàu. Nhưng thiết nghĩ, mỗi người có một nếp sống, chẳng nên bình luận và khen chê cũng như đánh giá phải trái. Điều cốt yếu là nếp sống ấy có làm cho mình vui không?

Thật vậy, trong đời sống riêng, giống như tên bố mẹ đã đặt lúc lọt lòng, bao giờ thầy cũng vui vẻ, hòa nhã với mọi người không phân biệt sang hèn. Thầy yêu thích thiên nhiên và có thú sưu tầm tem. Với những cống hiến của mình trong lãnh vực nghiên cứu, thực hành và giảng dạy, thầy đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng III, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục, Giải thưởng Khoa học Tôn Thất Tùng. Thầy mất tại nhà riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 17 giờ 30 ngày 6/10/2004.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ngô Gia Hy

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)