Bộ thứ 9, mục 8: thứ chỉ Nhân thần.
Bản chính của Bộ Lễ quốc triều.
Xét xưa: Nam bang dựng nước, phân chia cương vực theo sao Dục sao Chẩn; Bắc quốc mới phân phong theo địa giới của sao Đầu sao Ngưu. Triều đại vua Hùng mở vận, Thánh tổ đảm đương gánh vác cơ đồ, mười tám đời tương truyền, hơn hai ngàn năm thịnh trị, đời đời cha truyền con nối, quốc hiệu đều xung Hùng (Vương). Ngọc bạch xa thư1, non sông một mối, đó chính là tổ của Bách Việt vậy. Con cháu vua Hùng, truyền đến thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương cả thảy 349 năm, đất nước [15] thuộc vào Nội quận. Đến khi nước Nam có các triều đại Đình, Lê, Lý, Trần thì bốn họ đều là những bậc vua sáng. Lại nói về bấy giờ đến vua triều Lý, buông áo chắp tay [trị vì thiên hạ], (vua) lòng nhân như trời, trí tuệ tựa thần, cả thể gian đều ngợi ca là đời vua thịnh trị.
Lại nói về thời trước đó, đời truyền kể rằng ở xã Phúc Lâm huyện An Thị, phủ Thiệu Thiên ở châu Ái xưa có một lệnh tộc họ Trần, tên húy là Huẩn, lấy vợ người khu Đại Bi huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên thuộc thành Thăng Long. Gia thế vợ chồng vốn theo nghiệp học Thi, Thư, Lễ, Nhạc, trải ba, bốn đời; chỉ hiểm nỗi gia phong thanh bần, nhà tranh vách nứa, chẳng có kế sinh nhai. Bấy giờ Huấn công đi dạy học, Thái bà thường mua bán tôm cá qua ngày, vốn có âm đức, thường hay tới chợ Yên Bản. Bấy giờ trong chợ bỗng nhiên có một [23] người đàn bà tới bán lụa, để quên một bỏ lụa ở chợ. Thái bà nhặt được lập tức đem treo tạm vào nhà nghỉ ở chợ. Một lát sau liền thấy người đàn bà bán lụa kêu rống lên tìm. Thái bà trong lòng cảm nhận được bèn hỏi đầu đuôi rồi đem giao lại bỏ lụa. Người đàn bà bán lụa trong lòng vô cùng mừng rỡ, thấy Thái bà có lòng nhân lập tức lấy hai bỏ lụa cảm tạ. Thái bà cười đáp:
– Tôi thương bà mất của, hẳn về sẽ bị chồng con trách móc, cho nên thấy thì đưa lại cho bà, chứ đâu có mong báo đáp gì.
Rồi chối từ không nhận lụa. Bấy giờ người trong chợ thấy vậy đều ca ngợi Thái bà là người có đức. Nửa đêm hôm ấy Thái bà ngủ trong phòng, nằm mộng thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, tay cầm miếng ngọc giao cho Thái bà, nói rằng:
– Ngọc thúy chính là điều may mắn mà trời trao phó, ứng với điểm con cái. Sau này sinh quý tử nhất định sẽ có danh tiếng. Chuyện phúc thần, hương hỏa chẳng còn phải nghi ngờ gì nữa.
Nói rồi lão ông cưỡi mây ra đi. Thái bà tỉnh dậy, bụng thấy quặn đau rồi có mang. Sau khi mang thai, Thái bà ăn uống thanh đạm, trai khiết không như thường ngày. Tới kỳ khai hoa nở nhụy sinh hạ được một người con gái (giờ Thìn ngày 14 tháng 3 năm Nhâm Tý-NC). Người con gái mặt hoa da phấn, môi đỏ, mắt phượng mày ngài, có dung nhan chim sa cá lặn, hoa thẹn trăng nhường, khác hẳn người thường. Cha mẹ nuôi đến lúc năm tuổi mới đặt tên là Ngọc Hoa. Từ đó nàng Ngọc Hoa ngày một trưởng thành, học vẫn tỉnh thông, tài năng hơn đời, chẳng khác gì bậc trượng phu nam tử. Năm đó chẳng may người cha mắc bệnh qua đời (ngày mồng 7 tháng7-NC). Hai mẹ con đưa táng tại xứ đất ở Đồng Sâu, tục gọi là Mà Cao thuộc bản trang (tức trang Đạo Lâm-NC). Mai táng xong, hai mẹ con để tang ba năm. Đến khi mãn tang, năm đó gặp phải hạn hán, lũ lụt khiến cho thóc lúa hoa màu bị thiệt hại, trộm cướp nổi lên như ong. Hai mẹ con bàn nhau trở về quê ngoại (tức khu Đại Bi-NC). Thế là hai mẹ con đem gia sản trở về quê ngoại, dựng nhà có để ở, lập nghiệp sinh sống.
Một năm trôi qua, vào nửa đêm một ngày nàng Ngọc Hoa nằm mộng được một cung nhân áo mũ chỉnh tề, tay cầm thanh kiếm, dạy nàng võ nghệ và cùng nàng tập luyện. Nàng Ngọc Hoa võ nghệ tỉnh thông, có nhiều tài thuật. Đến khi tỉnh dậy thì trong lòng mọi thứ đều tỉnh thông, thành thục. Từ đó ngày ngày Ngọc Hoa tự mình tập rèn võ nghệ. Tới khoảng những năm niên hiệu Long Phù triều Lý (1101 – 1109) bỗng nhiên giặc Ma Na khởi binh lương sang xâm lược nước ta. Vua nghe tin bèn sai mau chóng truyền hịch đi các nơi trong thiên hạ, người nào có tài võ nghệ có thể đẹp được giặc sẽ ban phong tước. Bấy giờ các anh tài trong thiên hạ lặng im chẳng thấy xuất hiện. Chỉ có nàng Ngọc Hoa thưa với mẹ rằng:
Phàm là con, được cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng chăm chút mà không tạo dựng tiếng thơm thì lấy gì báo đáp? Nay nhân nhà vua có hịch chọn người tải, con muốn giả làm trai, tới xin ứng tuyển.
Thân mẫu nghe vậy liền đồng ý. Nàng Ngọc Hoa bèn lễ vọng tiên tổ rồi khuyến mộ bảy người ngoài họ đi theo mình. Lúc vào ứng tuyển, bái yết trước vua. Bách quan văn võ trong triều nhìn thấy Ngọc Hoa đều khiếp sợ. Vua bấy giờ mới quan sát kỹ Ngọc Hoa, thấy giống con gái vua bèn hỏi họ tên cùng sự việc. Ngọc Hoa thi thố tài năng, đối đáp lưu loát. Vua vui mừng nói:
– Quả là bậc tài năng trời phú, dung nhan đẹp đẽ khác thường2 ất giao phó tài năng để giúp nước, trầm không còn lo lắng nữa.
Vua lập tức phong Ngọc Hoa làm Bình Khấu Công chúa. Rồi nói với nàng rằng:
– Nay nước đang có biến, bọn giặc hung hăng, trẫm lệnh cho ngươi đi dẹp giặc Ma Na để giữ yên thiên hạ
Bấy giờ nàng Ngọc Hoa vâng mệnh mang quân thủy, bộ chia làm hai đạo cùng tiến. Lúc đó Ngọc Hoa tới thằng đồn sở giặc Ma Na, giả vờ bán trầu cau, thuốc lá. Tướng giặc thấy nàng nhan sắc, có ý yêu thích, dấy lòng đam mê, thành ra trễ nải việc quân quốc, ban ngày thì không có lính canh giữ, ban đêm chẳng có quân canh phòng, quân sĩ uể oải, chẳng để ý tới việc ra, vào đồn sở. Trong đồn địch, Ngọc Hoa phát tín hiệu, hai cánh quân thủy, bộ cùng tiến đánh. Đồn giặc bị tấn công, quân giặc chạy tán loạn. Ngọc Hoa đem quân trở về bản quốc. Ngay hôm đó quân giặc đã bị dẹp yên. Ngọc Hoa dẫn quân vào sân rồng chúc mừng nhà vua. Vua mở tiệc lớn khao thưởng quân sĩ, ban thưởng thêm cho Ngọc Hoa một trăm cân vàng, một trăm súc lụa đỏ. Sau khi yến tiệc, Ngọc nương [4b] tâu với vua rằng:
– Nay đất nước đã bình yên, xin được trở về bản quán (tức khu Đại Bi-NC), thăm thân mẫu và bái yết gia tiên.
Vua chuẩn tấu. Ngọc Hoa trở về bản khu, lễ vọng gia tiên, mở tiệc lớn khao thưởng quân sĩ. Nhân dân bản khu cùng tới hầu hạ. Yến tiệc xong, Ngọc Hoa bèn xuất du tới vùng địa đầu bản quán, thấy thế đất có hình rồng vàng, Ngọc Hoa đứng một hồi lâu, rồi tự nhiên trời đất bỗng tối sầm, gió mưa ẩm ẩm kéo tới, Ngọc Hoa chìm trong đó. Phút sau trời sáng lại, mưa tạnh gió dừng, nhân dân cùng kéo tới thì thấy một nấm mộ được mối đắp (tức ngày 15 tháng 12). Bấy giờ dân bản khu liền dâng biểu tâu lên vua. Vua vô cùng thương xót bậc công thần có huân lao với đất nước, lập tức lệnh cho các quan trong triều lần lượt đem sắc chỉ tới bản khu truyền nhân dân tạo dựng, tu sửa miếu thờ, ban cho 100 tiền ngân khố [5a] để hương hỏa, bao phong mỹ tự, mãi tốt lành cùng đất nước.
Phong Ngọc Hoa làm Chiếu hỏa tôn linh.
Chuẩn cho khu Đại Bi, huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên lập đền thờ chính để hương hỏa thờ phụng mãi tới vô cùng. Ngày sinh ngày mất cùng tên húy của Ngọc Hoa được liệt kê dưới đây:
Ngày sinh: 14 tháng 3. Lễ vật dùng các lễ như bánh chay tế lễ. Lại sắm lợn, xôi, rượu đặt tại ban ngoài, tiến hành lễ tế.
Ngày mất: ngày 15 tháng 12.
Tên húy: chữ Ngọc (tên chữ đầy đủ xem trong thần tích-NC), các âm kiêng húy đều cấm.
Miếu dựng tọa Quý hướng Đỉnh (bắc lệch đông bắc), phía trước có thể “long lai” (rồng tới), sau có thể “kim tinh” (sao vàng), gối lên ở chính hình rùa, tục gọi là Mã Bà, đất chính linh thiêng nhất.
Ngày lành tháng xuân năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) thời Hậu Lê.
Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ (thần) Bính phụng soạn.
Ngày lành tháng đông năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lãnh thiếu khanh (thần) Nguyễn Hiền chép lại tuân theo chính bản triều trước.
Chú thích:
- Ngọc bạch xa thư. Ý nói cùng chung nền văn hóa, chữ viết.
- Nguyên văn: “Thủy quốc chỉ dung nghỉ”: “Thủy quốc” như “thủy phủ” theo truyền thuyết là chỗ ở của thủy thần hoặc Long Vương. Ở đây ý nói người có dung nhan khác thường.
Nguồn: “Việt Thường thị Lý triều công thân khai quốc đại hữu huân lao khả gia thần tước mỹ ứng khả phong nhất vị công chúa ngọc phả có lục”, ký hiệu AEa2/17, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.