Nguyễn An Khương (1860 – 1931)

Nguyễn An Khương (1860 – 1931)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Ảnh hưởng của trường Đông Kinh Nghĩa Thục thật sâu rộng, không chỉ các tỉnh ở Bắc kỳ, Trung kỳ học tập thực hiện theo mô hình giáo dục này mà nó còn lan rộng vào tận Nam kỳ. Chính tư tưởng của trường đã dấy lên phong trào Duy tân ở Nam Kỳ với nhiều tên tuổi tiên phong lừng lẫy – trong số đó có thầy Nguyễn An Khương.

Xuất thân

Theo gia phả còn để lại thì thầy Nguyễn An Khương gốc họ Đoàn, làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, triều đình mục nát, dân chúng khốn khổ. Những năm đó, người dân bỏ cày cấy. Thóc lúa dành dụm trong làng đều hết sạch. Dân đen bồng bế, dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường. Giá gạo cao vọt, 100 đồng tiền không đổi được bữa ăn. Người chết đói ngổn ngang đầy đường. Thóc gạo khan hiếm đến độ có nơi một mẫu ruộng chỉ đổi được một bánh đa nướng, lại có người cầm cả nén bạc nén vàng trong tay mà chịu chết đói.

Trước tình hình bi đát đó, cháu ruột bà Đoàn Thị Điểm – gọi bà bằng cô – đứng ra lãnh đạo nông dân khỏi nghĩa. Người đó là Đoàn Công Chấn. Sau những vụ chọc trời khuấy nước, Chấn bị quân triều đình bắt được và xử trảm. Sau khủng bố này, anh em của Chấn phải bỏ quê nhà Hưng Yên để trốn vào Đàng Trong. Họ ẩn náu tung tích tại rừng Đại Lợi, phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Để tránh sự truy nã gắt gao của triều đình nên từ họ Đoàn, họ đã đổi sang họ Nguyễn.

Trong số ba anh em lưu lạc chạy vào đây thì Đoàn Công Trực đổi thành Nguyễn Chuẩn Trực. Trục sinh được hai người con là Nguyễn Thị Thắng và Nguyễn An Nghi. Về sau, Nguyễn An Nghi kết duyên với Dương Thị Hiền sinh ra Nguyễn Thị Xuyên, Nguyễn An Khương và Nguyễn An Cư. Năm tháng trôi qua, gia đình ông Nghi tiếp tục lưu lạc vào đất phương Nam. Tại xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc tỉnh Long An), sau khi kết hôn với bà Trương Thị Ngự, Nguyễn An Khương sinh được bốn người con là Nguyễn An Thái, Nguyễn An Thường, Nguyễn Thị Năng, Nguyễn An Ninh. Ba người con đầu mất sớm lúc chưa đến mười tuổi, nên Ninh được xem là con trai độc nhất và sau này sẽ trở thành người nối chí của cha, trở thành nhân vật nổi tiếng của Sài Gòn trong thập niên 20 của thế kỷ XX.

Con đường dạy học

Như vậy, qua gia phả ta biết thầy Nguyễn An Khương sinh năm 1865 trong một gia đình giỏi nghề làm thuốc tại Bình Định, nhưng thuở nhỏ đã sống ở Tân An (Long An). Thời thanh niên, do giỏi chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ nên thầy đã mở trường dạy chữ cho trẻ em trong làng. Kiến thức và đạo đức của thầy đã khiến cha mẹ của học trò mến trọng, trong số đó có ông Hội đồng Trương Văn Lợi. Ông Lợi đã đồng ý gả con gái thứ bảy là Trương Thị Ngự cho thầy.

Được sự quán xuyến của cô vợ giỏi người, đẹp nết, từ đó, ngoài việc dạy học, thầy còn chú tâm dịch truyện Tàu – những tác phẩm cổ điển có giá trị tư tưởng và văn hóa như Tam quốc diễn nghĩa, Vạn huê lầu, Ngũ hổ bình Tây… hoặc biên soạn sách giáo khoa như Mông học thê giai nhằm giáo dục tinh thần yêu nước và đức hạnh cho trẻ em.

Sống ở Tân An một thời gian, nhận thấy đất Sài Gòn mới là nơi thực hiện được hoài bão lớn trong đời mình, thầy bàn với vợ lên đó lập nghiệp. Tại Sài Gòn, thầy đã gặp gỡ một trong những nhân vật nổi tiếng là Trần Chánh Chiếu, ông này có quốc tịch Pháp nên thường gọi là Gilbert Chiếu, là một trong những trụ cột của phong trào Đông du, Duy tân tại Nam Kỳ. Sau những lần gặp gỡ đó, thầy Khương đã bàn với vợ và chị ruột của mình mở khách sạn Chiêu Nam Lầu tại số 49 Charner và góc Carabelli (nay đường Nguyễn Huệ và góc Nguyễn Thiệp), là dãy nhà ba tầng, phía trước có gắn tấm bảng nhỏ: “Tiệm may – nhà ngủ. May khéo có danh khắp Lục châu”. Phía tầng dưới bà Nguyễn Thị Xuyên – chị ruột của thầy – mở tiệm may và bán cà phê, bánh bao, bánh mì, com Âu, Á… Còn lại hai tầng trên làm phòng ngủ. Thật ra đó là cơ sở liên lạc, đưa đón thanh niên xuất dương trong phong trào Đông du của chủ soái Phan Bội Châu.

Hoạt động giáo dục và biên soạn sách giáo khoa

Về sự nghiệp giáo dục của thầy Nguyễn An Khương, ta có thể ghi nhận thầy là một trong những nhà giáo tiên phong ở Nam Kỳ soạn sách giáo khoa cho trẻ em. Theo Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1904 – 1988) thì sau khi trở thành nhượng địa của thực dân, ở Nam Kỳ đã bãi khoa thi và các trường học chữ Hán, đặt chế độ học đường Pháp – Việt. Đến năm 1915 và 1918 ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ cũng theo Nam Kỳ mà “bỏ hẳn phép học cũ và chế độ khoa cử để toàn dùng chế độ Pháp-Việt giáo dục, theo bộ học quy ban hành ngày 21.12.1917 và của Nha học Đông Dương giám đốc”.

Trong Mông học thê giai, thầy nêu rõ mục đích của mình trong lòi Tựa (chúng tôi xin trích nguyên văn kể cả lỗi chính tả, để thấy được văn phong thời đó):

Từng nghe: Nghĩa lý trong thiên hạ thì rất rộng, mà điều thấy biết của trẻ con thì có chừng; nếu dạy vượt đến chỗ cao xa, ắt nó không hiểu chi cả. Tôi đã thấy điều ấy rồi, cho nên mới góp các sách tập đọc bên phương Tây và mót những lời thánh nhơn để lại, lấy đều đức dục, trí dục và thể dục làm ba mối lớn mà đặt sách này, gọi là sách Mông học thê giai, đặng cho các học trò nhỏ bắt chước theo đây, thì ngày sau trở nên người tốt cũng dễ. Ấy cũng là một đều giúp cho chúng nó lên chỗ cao xa vậy

Ở cuối mỗi bài học, thầy đều cho in nghiêng những lời răn dạy như tóm tắt nội dung của từng bài. Xin trích bài 44 có tựa “Thằng Vàng” để chúng ta cùng thưởng thức ngôn ngữ trong sách giáo khoa của đầu thế kỷ XX:

Thằng Vàng làm rớt cái bầu, thất kinh đứng nhìn sững sốt, lại có con mèo chạy ngang qua đó, kế lây mẹ nó lật đật chạy tới thấy có như vậy thì hỏi rằng: “Mèo đập bể cái bầu rồi sao?”. Thằng Vàng ngẫm nghĩ giây lâu rồi mới đáp rằng: “Thưa mẹ, tại tôi ruổi tay xáng bể, kế lây con mèo chạy ngang qua đó, chớ không phải nó đập bể”. Mẹ nó nghe nói như vậy thì khen thầm rằng: “Thường thường con nít người ta, hể làm chi lầm lỗi, thì hay kiếm chuyện chữa mình và chối cho khỏi tội. Nay con mình sẳng có con mèo chạy ngang qua đó, mình cũng ngỡ là con mèo đập bể mà hỏi như vậy, té ra nó lại không chịu nói dối, cứ thiệt khai ngay. Tánh con nít mà đặng như vậy, dầu cái bầu ấy đáng một trăm đồng bạc đi nữa, cũng nên tha lỗi cho nó”. Nghĩ như vậy, bèn bước lại ôm con mà rằng: “Thôi thôi con đừng sợ nữa, đã biết đập bể cái bầu là lỗi, song con biết chịu đều lỗi của mình, mà không đổ cho con mèo thì cũng trừ đặng lổi ấy”. Thằng Vàng lạy mẹ mà tạ ơn. Con trẻ phải biết, làm lổi mà biết chịu lỗi thì cũng không lỗi gì lắm.

hoặc đây là bài thứ 50, có tựa “Anh em Trương Trí”:

Hai anh em Trương Trí đi học thấy một đứa con nít mới sáu tuổi mà mẹ mất sớm, khóc kể cả ngày. Trương Trí thấy vậy mới nói với anh là Trương Tài rằng: “Thảm thiết cho thằng nhỏ ấy, mới có sáu tuổi mà mẹ mất sớm, nên nó thương nhớ, khóc lóc cả ngày. Anh ôi, thấy việc người ta mà tôi nghĩ tới việc mình, nếu một mai cha mẹ mình cũng qua đời như vậy, thì anh em mình biết liệu làm sao?”. Trương Tài nói: “Cha mẹ mình đương còn lành mạnh, chẳng nên nói chuyện bất tường. Vả lại anh em mình cứ việc siêng năn học hành, vâng lời cha mẹ, ít năm nữa lớn lên kiếm phương làm ăn, thuận thảo với nhau, phụng dưỡng cha mẹ trong lúc già cả, thì người ắt vui lòng mà đặng sống lâu”. Trương Tríkhen phải. Đạo làm con, hể muốn cho cha mẹ sống lâu thì phải làm sao cho người vui lòng.

Ngoài những bài về đức dục thì thầy còn soạn các bài về địa lý, cách rèn luyện thân thể, cách làm muối, cách xem giờ của người phương Tây v.v… mỗi bài đều ngắn gọn, dễ học và dễ nhớ. Qua tập sách giáo khoa này ta thấy được đôi nét về cách giáo dục thời đó. Và theo nhận định chủ quan của chúng tôi, sau này khi biên soạn Quốc văn giáo khoa thu (do Nha học chính Đông Pháp XB) nhóm tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận cũng biên soạn theo hướng trên. Nghĩa là bài tập đọc dành cho học sinh được viết ngắn gọn, dễ hiểu và mẩu chuyện trong sách thỉnh thoảng nhân vật có đối đáp qua lại để nêu rõ ý nghĩa giáo dục. Và không thể phủ nhận rằng những mẩu chuyện như thế đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ học sinh. Nhiều người đến nay đầu đã bạc mà vẫn còn nhớ những bài học trong Quốc văn giáo khoa thư là một minh chứng.

Vốn là một nhà nho yêu nước nên cuối sách giáo khoa thầy Nguyễn An Khương còn biên soạn hẳn Lịch sử nước Nam theo văn vần, mở đầu là câu:

Việt Thường là nước Nam ta
Dựng xây nhờ có ông bà mở mang
Xem trong địa cuộc giang san
Nôm na xin kể mọi đàng trước sau

Hoạt động Duy Tân và Chiêu Nam Lầu

Bên cạnh hoạt động về giáo dục, thầy Nguyễn An Khương còn tích cực vận dụng các chủ trương của trường Đông Kinh Nghĩa Thục vào thực tế xã hội. Nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển hoàn toàn chính xác khi viết về khách sạn Chiêu Nam Lầu của thầy trong Sài Gòn năm xưa:

Từng dưới cô của Nguyễn An Ninh đứng cắt may áo dài, từng trên chứa khách đến tá túc, phần đông là hội kín của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục và phe Cường Để. Thuở chúng tôi mới choơn ướt chơn ráo lên Sài Gòn khoảng năm 1919, còn thấy mỗi chiều dạng người đàn bà trộng tuổi, dong dảy dễ coi, đứng trong phố sai trẻ hoặc ngồi trên sạp ván cắt cắt may may. Hỏi ra mới biết đây là cô ruột Nguyễn An Ninh. Nay bà đã vui chơi tiên cảnh… Tiếc thay chỗ này không được kỷ niệm bằng một tấm “lắc” cẩm thạch để đời, gương một tiết phụ biết ái quốc thương nòi, tấm “lắc” không cần dài dòng, miễn viết “Đây là chỗ tiệm cũ Chiêu Nam Lầu từng chứa nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục” tưởng như vậy cũng đủ.

Thật vậy, cũng tại nơi đây, thầy Nguyễn An Khương đã quyết tâm cạnh tranh lại với người Hoa trên thương trường. Bấy giờ, chủ trương của các nhà nho yêu nước và các nhà tây học tiến bộ là phát động từ Nam chí Bắc phong trào “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, khuyến khích người Việt Nam bước vào công thương nghiệp, dũng cảm kinh doanh, đầu tư cho sản xuất…

Trong tài liệu mới tìm được về Nguyễn An Khương, ta biết trên báo Lục tỉnh tân văn số 8, ra ngày 2/1/1908, thầy có trình bày quan điểm của mình qua bài báo “Chiêu Nam Lầu bao biện tửu tịch”. Tờ báo này, số 1 ra ngày 14/11/1907, giá bán 0 đồng 10, người sáng lập là Pierre Jeantet, chủ bút là Trần Nhựt Thăng, chủ sự là Nguyễn An Khương.

Mở đầu bài báo, thầy nhận định:

Thuở nay, trong bạn đồng bào ta những tay có tiền hay cho nghề bán cơm là nghề hèn cho nên không một ai mở tiệm cạnh tranh với Hoa kiều… Vả lại có nhiều người ăn theo cách Tàu không quen hay chê lạt lẽo mà cũng phải ăn, song ăn không đặng com thì đã tốn tiền bánh hàng mà lại trong mình không đặng khỏe, ấy là điều mắt thấy tai nghe chớ không phải tôi dám đặt điều. Bởi vậy, tôi muốn quyết một lòng rửa hổ, không sợ mang danh chú bán cơm, ráng sức kinh doanh, lập ra một tiệm tiên lầu tại đường Kinh Lấp (Boulevard) số 49 gần chợ Sài Gòn lắm. Hiệu tiệm là Chiêu Nam Lầu (nghĩa là tiệm tiên lầu mà chiêu đãi người An Nam).

Tiệm này có ba tầng, tầng dưới thì bán cơm canh cá thịt nấu theo kiểu An Nam và cách Tàu, lại có bán trà phe (cà phê), bánh mì, bánh bao và các thứ bánh điểm tâm; tầng giữa thì các vật trân tu mỹ vị nấu theo cách An Nam và cách Tàu vì tôi có chọn người Thanh và người Bổn bang nấu ăn rất khéo, mà lại trên tầng ấy cũng có bán đủ các thứ bánh Tàu, bánh An Nam và trà ngon, đặng cho liệt vị điểm tâm lúc sóm mai và giải muộn trong lúc ban trưa; còn tầng trên chót thì dọn phòng ngủ đặng cho các vị phương xa đến đó mà nghỉ, phòng này lầu đã cao nhiều gió mà lại day mặt ra đường lớn, trống trải mát mẻ, sạch sẽ rộng lớn mà lại tính giá rẻ rề.

Cúi xin liệt vị trong lục tỉnh và tại châu thành này, mở lòng suy xét đoái nghĩa đồng bào, hễ khi nào muốn tiệm tiên lầu mà thết đãi anh em hay là đặt dọn yến giêng bao nhiêu, xin ráng mà nhớ Chiêu Nam Lầu của đồng bào là Nguyễn An Khương mà tới, đừng có nghĩ rằng đâu đâu cũng không khỏi tốn tiền, tốn tiền mà giúp đồng bào làm nên việc thì đồng bạc ấy còn ở bên nước ta chẳng là hữu ích hơn gửi cho chúng nó đem về Tàu cất nhà sắm ruộng hay sao? Tôi dám chắc rằng không bán mắc hơn và dở hơn các tiệm của người Thanh.

Ý nghĩa của việc kinh doanh Chiêu Nam Lầu

Dù đây là bài viết giới thiệu về một khách sạn – nhà ăn đang kinh doanh hợp pháp để lại tiền hộ cho phong trào Đông Du, nhưng ta cũng thấy được cái khó khăn chung của các nhà nho Việt Nam khi bước vào thương trường, nhất là khi họ phải tự vượt qua dư luận xã hội nước ta thời bấy giờ vốn không coi trọng nghề buôn, xem nó chỉ là bậc thứ ba trong lập thân!

Quan niệm này đã có từ xưa, chẳng hạn ở thế kỷ XVIII, Hoàng giáp Trần Danh Án (1754 – 1794) trong thư gửi cho con đã răn:

Người ta nuôi được thân thể, nuôi được vợ con không đến nỗi đói rét là phải có phương pháp: đọc sách, thi đậu, yên hưởng lộc trời là bậc nhất. Cày cấy mà ăn, cần kiệm để lập cơ nghiệp là bậc thứ hai. Còn làm thầy thuốc, thầy cúng, thợ nghề, nghề buôn, được người ta nuôi mình là bậc thứ ba.

Mãi đến đầu thế kỷ XX, quan niệm trên vẫn chưa thay đổi tận gốc rễ. Nhà văn Nguyễn Hiến Lê có kể lại chuyện thú vị, khi thầy Đỗ Chân Thiết và Phương Sơn rủ nhau đi buôn, thực hiện chủ trương của Đông Kinh Nghĩa Thục, hai thầy mướn thuyền về Hải Dương, Thái Bình mua gạo chở lên Hà Nội bán. Dù đi buôn nhưng các thầy vẫn giữ vẻ quan cách đĩnh đạc, vẫn áo xuyến, khăn lượt chỉnh tề! Thuyền đậu ở bến cột Đồng hồ Hà Nội, có mấy o xinh đẹp xuống hỏi mua. Nhưng khi nhìn thấy trong khoang thuyền nào là tráp khảm, sách vở mấy pho, treo vài câu đối đỏ nên tưởng là các nhà nho đùa, mấy o liền ù té chạy. Các thầy gọi hết hơi nhưng cũng chẳng ai tin!

Biết thêm chi tiết để ta thấy rằng, khi thầy Nguyễn An Khương tự nhận mình là “chú bán cơm” thì quả là một hành động dũng cảm. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà đoạn kết thầy viết tâm huyết tận tâm can như lời kêu gọi:

Tôi lại ước ao cho các đồng bang đừng có ngại về danh tiếng hoặc xuất vốn nhà, hoặc rủ hùn mà lập lấy năm bảy tiệm hùn như vậy, mượn người Thanh nấu ăn cho khéo, đặng mà tiếp đãi đồng bào, mình với mình buôn bán với nhau vui biết chừng nào, đẹp biết chừng nào. Chú bán com, Nguyễn An Khương đốn thủ.

Cuối đời

Công việc ở Chiêu Nam Lầu về sau thầy giao lại cho bà Xuyên – em ruột của thầy – trông nom, thầy bị bệnh phải lui về tịnh dưỡng ở Hóc Môn. Thực dân Pháp đã đánh hơi nơi đây là điểm liên lạc của những người yêu nước nên thường xuyên rình rập, gây khó dễ và tìm mọi cách để đóng cửa. Về những ngày tháng cuối cùng của Chiêu Nam Lầu mà thầy Nguyễn An Khương đã tạo dựng với bao tâm huyết, con gái của cụ Phan Châu Trinh có kể lại những chi tiết cảm động:

Tôi chỉ nhớ, lần cuối cùng tôi đến từ biệt bà Chiêu Nam Lầu, cô của Nguyễn An Ninh. Bà bảo:

Cậu con (tức cụ Phan Châu Trinh) có gửi cô 300 đồng. Bây giờ, cô nói thật con có lấy, cô cũng không có. Có điều là hàng của cô còn nhiều, con muốn lấy gì cũng được. Con muốn coi không cũng không được. Con phải lấy hàng đi. Cô để giá nhẹ lắm. Để con về ngoài đó hãy hay. Con về ngoài đó thì báo đã đăng cô bị khánh tận, hàng bị tịch thu cả rồi còn gì mà lấy?

Bà Tham Đồng, em gái tôi bảo: Cô đã nói vậy, chị cứ lấy đi!

Thì em lấy đi!

Em ở đây lấy lúc nào không được. Chị lấy đi!

Tôi lấy một ít hàng may…

Rồi tôi cùng chồng con trở về Trung trong tiếng vang vọng không ngừng của đám quốc tang, kéo theo những cuộc bãi khóa của học sinh trong nước. Cho tới ngày kia, Đông Pháp thời báo đăng tin bà Chiêu Nam Lầu, người đã nuôi Nguyễn An Ninh và đã giúp cậu tôi đến phút cuối cùng, bị khánh tận. Tài sản tịch thu hết. Tôi thở dài thầm nghĩ: “Đàn bà dễ có mấy tay”.

Thầy Nguyễn An Khương qua đời giữa lúc người con trai là Nguyễn An Ninh tiếp tục nối chí của cha. Dù không dạy học ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, nhưng ta vẫn có thể xếp thầy Nguyễn An Khương và các thầy giáo yêu nước khác đầu thế kỷ XX ở Trung Kỳ và Nam Kỳ vào “cùng hội cùng thuyền” với các thầy giáo cùng chí hướng của Đông Kinh Nghĩa Thục – nếu họ hưởng ứng chủ trương và biên soạn sách giáo khoa theo tiêu chí của nhà trường.

Nhà nghiên cứu Chương Thâu hoàn toàn có lý khi nhận xét:

Còn ở Nam Kỳ, ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục không lấy gì làm sâu rộng. Miền đất này đã sớm được “bình định”. Nó cũng đang có một phong trào Duy tân của Nam kỳ mà những người đề xướng là những người yêu nước Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu. Họ hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Bắc kỳ bằng một số bài báo đăng trên Lục tỉnh tân văn, Nông cổ mín đàm v.v… Các khách sạn, các công ty như Chiêu Nam Lầu, Minh Tân công nghệ xã của họ mở tại Chợ Lớn và Sài Gòn. Các hiệu buôn Tam Hiệp Long của Hồ Nhựt Tân ở Long Xuyên, hiệu thuốc bắc Tư Bình Đường ở Bến Tre v.v… đều có thể coi là những cơ sở, những “hộp thư” liên lạc của các nhân sĩ yêu nước Nam kỳ hưởng ứng phong trào Đông Du và phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn An Khương

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)