Khái quát
Đêm đã khuya. Hương ngọc lan lặng lẽ, kín đáo như lời tự tình vọng đến từ xa vắng. Hương huệ thấp thoáng một mùi thơm dịu dàng. Vầng trăng vẫn sáng ngời, từ trên vòm trời đổ xuống một dòng ánh sáng tinh khiết đến lạ lùng. Gió từ sông Cà Ty vẫn thổi lồng lộng. Chao ôi là gió! Gió đang khiêu vũ trên vòm lá lao xao. Gió đang nô đùa với những rặng cây trúc đào. Hai người thầy lững thững thả những bước chân dạo quanh trường Dục Thanh. Các học trò đến phá cỗ trung thu cùng các thầy giáo đã về, các em không biết ngày mai sẽ không còn được gặp lại người thầy có giọng nói xứ Nghệ, tuy hơi khó nghe nhưng âm điệu lại truyền cảm đến tha thiết… Đêm vẫn yên tĩnh. Hai thầy mặc áo bà ba trắng, chân đi guốc đẽo bằng gỗ vông rất thư sinh. Một thầy còn trẻ, có đôi mắt sáng khẽ nói với người lớn tuổi hơn mình:
Những ngày ở đây đối với tôi dễ nhớ nhưng khó quên. Cho dù mai này phiêu dạt đến chân trời góc biển, tôi vẫn giữ trong ký ức những tình cảm rất tốt đẹp của tôn huynh và các cụ đã dành cho tôi.
Người đứng tuổi ngẩng mặt nhìn lên trời cao thẳm và đáp:
Đường đệ đi còn xa thăm thẳm, tôi cũng không biết nói gì hơn chỉ cầu chúc cho đệ chân cứng đá mềm. Tôi vẫn nhớ trong Luận ngữ thầy Tể Ngã có hỏi: “Nếu người nhân nghe báo: Trong giếng có người bị chìm, vậy người nhân có xuống giếng mà cứu hay không? Thầy Khổng Tử đã dạy: Sao lại làm như thế? Người quân tử có thể đi đến nơi tìm cách cứu, nhưng không thể hãm mình xuống giếng; người quân tử có thể bị lừa dối vì lời nói có lý, nhưng không ngu muội làm điều vô lý.
Nghe nói thế, người còn trẻ gật gù tâm đắc:
Tôn huynh nói như thế là hiểu ý nguyện của tôi. Mấy ngày này tôi cũng nghiền ngẫm đến lời dạy của thầy Khổng Tử. Thầy bảo: “Người nhân làm những việc khó khăn trước, còn hiệu quả thu nhận được thì để về sau; như vậy mới gọi là người nhân”. Ngẫm lại thấy chí lý lắm.
Cả hai cùng trầm ngâm bước đi. Sương khuya rơi xuống áo. Khẽ lạnh. Người trẻ dừng chân lại và nói:
– Ngày mai chia tay nhau, tôi muốn tặng cho tôn huynh một vật gì đó để làm kỷ niệm, nhưng tôi nào có cái gì đáng giá! Chỉ có hai bàn tay trắng và trái tim đau đáu việc lớn:
Hồn máu uất chất quanh đầy ruột
Anh em ơi! Xin tuốt gươm ra
Có trời, có đất, có ta
Đồng tâm như thế mới là đồng tâm– Thôi, tôn huynh hãy giữ lấy cái rương của tôi để mỗi lúc mở rương thì nhớ đến tôi. Được như thế đã là tâm giao.
– Chẳng lẽ, ngày mai lên tàu hỏa vào Sài Gòn cùng với cụ Nghè Mô, đệ đi bằng tay không sao?
Người bạn cười hiền lành:
Chỉ một tay nải là đủ để mang theo vài ba bộ quần áo. Còn sách vở giảng dạy thì tôn huynh cứ giữ lấy để còn tiếp tục dạy cho các em học trò. Lời thánh hiền chỉ cần nhớ trong óc và nó chỉ hữu ích khi biết đem ra vận dụng vào trong thực tiễn. Đường đời trăm ngả, đâu phải cảnh ngộ nào, tình huống nào cũng cho phép ta bình tâm mà ngồi lật từng trang sách để xem thánh hiền dạy phải ứng xử ra sao!
Nghe bạn nói thế, người kia gật gù chia sẻ suy nghĩ này. Đâu đó vọng về tiếng gà gáy khoắc khoải. Gió từ phía sông Cà Ty vẫn thổi lồng lộng… Trước lúc chia tay nhau về nhà nghỉ, hai người bạn siết tay nhau thật chặt. Dường như cả hai người đều cảm thấy đêm đen đang ngắn dần. Đó là đêm 18/9/1910, đêm cuối cùng của hai người bạn Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Hiệt Chi ở Phan Thiết.
Dù sau này không gặp lại nhau, nhưng kỷ vật của người bạn đã tặng, thầy Nguyễn Hiệt Chi vẫn giữ cho đến lúc cuối đời. Một người bôn ba năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước, cứu dân; còn một người ở lại quê nhà ra sức dạy dỗ đám hậu sinh trở thành người hữu ích, giáo dục cho họ về cái nhục của người dân mất nước. Đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, trong bóng đêm dằng dặc dưới ách thống trị của thực dân Pháp đã có những tình bạn thắm thiết như thế. Cho dù, cách biệt nhau nhưng chí hướng của mỗi người vẫn giữ sắt son cho đến chết.
Thầy Nguyễn Hiệt Chi cho đến cuối đời vẫn không đi chệch hướng mà thầy cùng với thầy Nguyễn Tất Thành từng dạy cho học trò ở trường Dục Thanh:
Gió nhanh thì sấm cũng mau
Chữ tâm một phút đâu đâu cũng đồng
Cờ độc lập xa trông phấp phới
Kéo nhau ra đòi lại nước nhà
Của nhà ta, trả chủ ta
Muốn toan cố chấp ắt là chẳng xong
Cớ sự ấy nói không kể xiết
Bút truyền thần khôn vẽ cành vui
Hạ đăng sáng khắp mọi nơi
Bóng sao thấp thoáng vẻ trời long lanh
Đài kỷ niệm tranh vanh trong nước
Đèn hoan nghênh kẻ rước, người đưa
Nào người Dụ Cát, Lư Thoa
Nay vừa gặp hội, xin ta gắng lòng!
Thân thế
Thầy Nguyễn Hiệt Chi, sinh năm 1870, quê ở làng Bảo Ngột, sau đổi tên Đông Thượng (nay thuộc xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). Thuở nhỏ, thầy có tên là Ước, lúc lều chõng đổi tên là Thuận và sau này khi đi dạy học mới đổi thành Hiệt Chi do thầy lấy chữ từ bài “Bội phong yến yến” viết theo thể hứng trong Kinh Thi:
Yến yến vu phi
Hiệt chi hàng chi
Nghĩa:
Kìa trông chim én nó bay
Bay bổng nơi này bay xuống nơi kia(Tản Đà dịch)
và do tên Hiệt mà thầy đặt tự Mộng Thương, nghĩa là mộng thấy Trương Hiệt – vốn là người Trung Quốc đời cổ theo truyền thuyết đã theo dấu sâu bò mà đặt ra chữ Hán. Từ đây, các con cháu của thầy đều lấy “Chi” làm chữ lót, nhưng đặc biệt chữ lót này lại đặt ở đằng sau như Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hưng Chi, Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Huệ Chi… Cách đặt tên như thế cũng giống như trường hợp gia đình thầy Võ Liêm Sơn, lấy chữ lót “Son” đặt tên cho con là Võ Giới Sơn v.v…
Theo ký ức của gia tộc, thầy có vóc dáng thanh mảnh, người cao, râu lưa thưa và đặc biệt có tiếng cười rất phóng khoáng, giòn giã. Chính cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng từng viết bài khen tiếng cười lạ đời của thầy trên báo Tiếng Dân. Khi thầy sinh ra thì gia đình đã lâm vào cảnh nghèo túng, ngay cả em gái của thầy từng bị chết vì ngộ độc do phải ăn sắn (củ mì) trừ cơm! Dù vậy, thầy cùng với em trai Nguyễn Hàng Chi, cả hai đều nổi tiếng là người học giỏi nhất trong làng. Khi đi thi hạch ở tỉnh, thầy đậu đầu nên mọi người thường gọi là “Đầu xứ Thuận” và tiếng tăm ngày càng lan rộng.
Năm 1890, lúc mới hai mươi xuân, gia đình đã cưới vợ cho thầy. Người kết duyên trăm năm với thầy là cô Nguyễn Thị Diên, hiệu Thu Cúc, người xã Mỹ Tường, dòng dõi Thám hoa Nguyễn Văn Giai. Trong ký ức con cháu của thầy có cho biết: “Cố bà dáng người thấp, nhưng đầy đặn xinh đẹp, tính tình vui vẻ, lanh lợi lại cần cù tằn tiện. Nhờ vậy mà về sau, lúc chồng đi vắng nhà cố bà đã dần dần chuộc lại những ruộng đất mà cha chồng đã cầm bán cho người khác, và tậu thêm nhiều ruộng đất… Do đó, gia đình trở nên giàu có được người trong họ trong làng phục về tài đức. Cố bà lại thường giúp đỡ con cháu người làng người họ khi túng thiếu”.
Hoạt động giáo dục
Không những chỉ giảng dạy cho học trò ở trường Dục Thanh, thầy còn gửi các tài liệu của trường Đông Kinh Nghĩa Thục về tuyên truyền ở quê nhà. Nhiều người dân ở quê của thầy thuộc lòng Á tế á, Tỉnh quốc hồn ca, Hợp quần ca… là nhờ vậy. Sau khi thầy đã vào Phan Thiết thì hai năm sau, em ruột của thầy là Nguyễn Hàng Chi cũng tìm vào đây. Nhờ tiếp thu tinh thần cách mạng qua Tân thư và những lần thảo luận về thời cuộc với các nhà nho yêu nước tại trường Dục Thanh và một số tỉnh Nam Trung Kỳ, Nguyễn Hàng Chi trở về Hà Tĩnh kêu gọi nho sĩ bỏ thi, vận động nông dân chống thuế… Sau khi lãnh đạo phong trào kháng thuế nổ ra ở Hà Tĩnh, ngày 13.7.1908, Nguyễn Hàng Chi bị thực dân Pháp và Nam triều chém đầu! Cái chết của chàng thanh niên mới 24 xuân đã gây tiếng vang dữ dội trong tâm trí quốc dân và ngay cả thực dân Pháp cũng kính phục thái độ kiêu hãnh bất khuất, không run sợ của một thanh niên Việt Nam trước án chém. Ngay lập tức, là anh ruột của Nguyễn Hàng Chi nên thầy cũng bị giặc Pháp bắt giam mấy tháng để thẩm vấn, điều tra nhưng không tìm được chứng cứ nên chúng phải trả tự do cho thầy.
Trở về Trung Kỳ và sự nghiệp giáo dục
Dạy học ở Phan Thiết tròn 12 năm, thầy trở ra Huế dạy một năm và sau đó, năm 1920 thầy chuyển về dạy ở Vinh. Thời gian này, thầy tham gia vào Tân Việt cách mạng đảng(1). Thời gian ở Vinh, thầy dạy ở hai trường tiểu học Nguyễn Trường Tộ và Cao Xuân Dục. Trong số bạn đồng nghiệp ở đây có Trần Phú (sau là Bí thư đầu tiên của Đảng) và Trần Mộng Bạch (tức Trần Đình Thanh, lãnh đạo Đảng Tân Việt ở Nghệ Tĩnh) là bạn tâm giao của thầy: Thầy chủ yếu là dạy chữ Quốc ngữ, chữ Hán và các học trò thường gọi thầy là cụ Tú Chi.
Thời gian này, thầy đã dành nhiều tâm huyết để biên soạn sách giáo khoa cho trẻ em như Điạ du Ba Xã – nhằm ca ngợi truyền thống quê hương để giáo dục học trò tinh thần yêu nước. Nhưng đáng chú ý nhất là loạt sách do thầy soạn, Nha học chính Đông Pháp chọn làm sách giáo khoa chính thức dùng trong nhà trường như: Sách dạy tiếng Nam, Sách mẹo tiếng Nam, Hán văn tân giáo pháp (tức sách dạy chữ Hán theo phương pháp mới) mà trong lời nói đầu thầy có nêu rõ:
Mục đích học chữ Hán bây giờ cốt ba điều. Một là bảo tồn luân lý, hai là tăng bổ quốc văn, ba là giúp việc nhật dụng thường hành như xem các giấy tờ thường dùng trong nhà
Hán văn tân giáo khoa thu (gồm 5 quyển dành cho các lớp Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng, Trung đẳng, Cao đẳng).
Đặc biệt, trong Sách mẹo tiếng Nam lần đầu tiên thầy dùng thuật ngữ tiếng Việt như tiếng chỉ tên, tiếng chỉ tính… mà không dùng tiếng Hán như danh từ, tính từ… Các sách này đều có thầy Lê Thước tham gia hiệu đính. Ngoài ra, thầy còn cộng tác với các thầy Đoàn Danh Trì, Lê Thước biên soạn Hán Việt tiện dụng từ điển. Và để có tài liệu giảng dạy, thầy còn biên soạn những sách luân lý nêu gương tiết nghĩa, hy sinh của người xưa nhưng nay hầu hết đã thất lạc.
Trong suốt 30 năm dạy học của thầy Nguyễn Hiệt Chi, có nhiều người từng thọ giáo với thầy sau này trở thành nhân tài của đất nước như các ông Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Xiển, Đặng Thai Mai, Lê Trần Đức, Phạm Khắc Hòe… Nhiều học trò còn nhớ đến câu nói nổi tiếng của thầy:
Học tập, làm lụng ta ngó lên; ăn mặc ta nhìn xuống.
Cuối đời
Năm 1933, thầy nghỉ hưu, trở về quê sống. Nhưng chỉ được hai năm thì thầy mất. Theo gia đình kể lại thì ngày 5/5 năm Ất Hợi (1935) thầy đang tỉnh táo bỗng hôn mê, mỗi lần thầy thuốc tiêm thuốc hồi dương thì thầy có tỉnh đôi chút nhưng sau lại tiếp tục hôn mê. Thầy thọ 66 xuân.
Đánh giá
Nhìn lại sự nghiệp giáo dục của thầy, GS. Vũ Ngọc Khánh có nhận xét xác đáng:
Lớp nhà nho cuối thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX, có được một nhà giáo toàn diện, thực sự Duy tân như Nguyễn Hiệt Chi, quả không nhiều lắm.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.