Thân thế
Thuở ban đầu, ông mang tên Huỳnh Tường Đức (黃祥德). Về sau, nhờ lập được nhiều công lao lớn đối với triều đình, ông được ban quốc tính họ Nguyễn; từ đó, danh xưng của ông trở thành Nguyễn Huỳnh, biểu trưng cho ân sủng đặc biệt mà bậc quân vương dành cho một công thần có thực học, thực tài. Ông sinh trưởng tại giồng Cái Én, thuộc làng Trường Khánh, châu Định Viễn, dinh Long Hồ xưa (nay thuộc phường Khánh Hậu, tỉnh Tây Ninh).
Gia thế của ông là một dòng họ võ tướng nhiều đời phò tá chúa Nguyễn. Ông nội là Huỳnh Châu, thân phụ là Huỳnh Lương, đều theo nghiệp binh, trung thành phò chúa và cùng được phong chức Cai đội. Năm 1731, cha con ông theo Điều khiển Trương Phước Vĩnh tham gia dẹp loạn Sá Tốt. Cuộc binh biến bị trấn áp nhanh chóng, khiến vua nước Chân Lạp kinh hãi, phải xin thần phục và dâng hai vùng đất Peam Mesar (Mỹ Tho) và Longhôr (Vĩnh Long) cho chúa Nguyễn Phúc Chu.
Nhằm thuận tiện cho việc quản lĩnh và phòng thủ vùng đất mới, chúa Nguyễn cho lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ, đặt quan cai trị, đồng thời đưa thêm lưu dân người Việt vào khai khẩn ruộng đất, mở mang xóm làng. Trong bối cảnh ấy, gia đình ông chọn ở lại vùng đất phương Nam còn hoang sơ này, vừa giữ nhiệm vụ quân sự, vừa an cư lập nghiệp. Chính nơi biên viễn ấy đã nuôi dưỡng và hun đúc nên một con người gắn bó sâu nặng với công cuộc mở cõi, để rồi từ đó bước ra vũ đài lịch sử với tư cách một võ thần có công danh hiển hách.
Phò tá chúa Nguyễn Ánh
Nguyễn Huỳnh Đức vốn nổi tiếng là người dung mạo khôi ngô, thân thể cường tráng, sức vóc hơn người, đương thời ai cũng xem ông là bậc hổ tướng, xứng đáng đứng trong hàng mãnh tướng nơi chiến địa.
Năm 1781, ông gia nhập đội quân Đông Sơn dưới quyền Đỗ Thanh Nhơn. Về sau, tuy chủ tướng bị chúa Nguyễn Phúc Ánh xử tử, song tài năng và khí phách của Nguyễn Huỳnh Đức vẫn được trọng dụng, không bị gạt bỏ khỏi hàng ngũ.
Sang năm Nhâm Dần (1782), ông được phong chức Tiền quân, từ đó vận mệnh và sự nghiệp gắn bó chặt chẽ với chúa Nguyễn. Có lần, trong lúc Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi đến Định Tường rồi sa lầy giữa vùng hiểm trở, quân tùy tùng đều e ngại không dám quay lại ứng cứu. Chỉ riêng Nguyễn Huỳnh Đức một mình dấn thân trở vào vòng nguy hiểm, che chở cho chúa. Khi ấy trời đã nhá nhem tối, quân Tây Sơn lo sợ bị phục kích nên rút lui. Đêm hôm đó, vì quá mệt mỏi, Nguyễn Phúc Ánh đã gối đầu lên đùi ông mà ngủ say. Cảm kích trước lòng trung dũng hiếm có ấy, chúa Nguyễn ban cho ông quốc tính, coi như người thân trong hoàng tộc. Kể từ đó, ông chính thức mang tên Nguyễn Huỳnh Đức.
Năm 1783, ông giao chiến với quân Tây Sơn tại Đông Tuyên nhưng thất bại, bị bắt cùng khoảng năm trăm thuộc hạ. Người chỉ huy quân Tây Sơn là Nguyễn Huệ thấy ông có thể lực phi thường và tài dụng binh nên thu nạp. Nguyễn Huỳnh Đức chấp thuận theo Tây Sơn, song đặt điều ước rõ ràng: chỉ đánh quân Trịnh, tuyệt không đối địch với quân của chúa Nguyễn.
Đến năm 1786, ông theo Nguyễn Huệ ra Bắc Hà chinh phạt họ Trịnh, sau đó được giao làm Phó tướng cho Nguyễn Văn Duệ. Nguyễn Văn Duệ vốn là tâm phúc của Nguyễn Nhạc, không cam lòng ở dưới quyền Nguyễn Huệ. Nắm được tâm lý ấy, Nguyễn Huỳnh Đức bèn bàn kế giả vờ theo đường tắt về Quy Nhơn quy phục Nguyễn Nhạc để tìm cơ hội thoát thân. Tin lời, Nguyễn Văn Duệ dẫn hơn năm nghìn quân băng rừng trở về. Dọc đường, Nguyễn Huỳnh Đức nhân cơ hội lẩn sang Vạn Tượng rồi vượt sang Xiêm La (Thái Lan). Khi ông tới nơi thì Nguyễn Phúc Ánh đã quay về Gia Định. Dù vua Xiêm muốn giữ lại, ông vẫn cương quyết từ chối, một mực tìm đường trở về phò chúa Nguyễn.
Năm 1799, ông được thăng Chưởng quản Hữu quân dinh, chỉ huy quân đánh chiếm Phan Rí rồi Thị Nại (Bình Định). Năm sau, ông tiếp tục dẫn binh hạ thành Quy Nhơn, sau đó được giao trấn giữ xứ Định Tường. Khi Nguyễn Phúc Ánh chiếm được Phú Xuân, ông lại được cử trấn thủ thành Quy Nhơn, giữ vị trí chiến lược trọng yếu.
Làm quan dưới triều Gia Long
Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Gia Long. Nguyễn Huỳnh Đức được phong Quận công, ghi nhận công lao lớn trong việc trung hưng cơ nghiệp nhà Nguyễn.
Năm 1810, ông được bổ làm Tổng trấn Bắc Thành, kiêm Khâm sai Chưởng Tiền quân. Đến năm 1816, ông trở lại phương Nam, giữ chức Tổng trấn Gia Định, cùng Hiệp Tổng trấn Trịnh Hoài Đức cai quản toàn bộ vùng Nam Bộ.
Ngày 9 tháng 9 năm Kỷ Mão (tức 27 tháng 10 năm 1819), Nguyễn Huỳnh Đức qua đời khi đang tại chức, hưởng thọ 71 tuổi. Linh cữu được an táng tại quê nhà, và ông được thờ phụng tại miếu Trung Hưng công thần ở kinh đô Huế.
Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), triều đình truy tặng ông tước Kiến Xương Quận công. Ông có bốn người con trai đều theo nghiệp võ, trong đó có hai người trở thành phò mã, kết thân trực tiếp với hoàng gia Gia Long một minh chứng cho vị thế và uy danh bền vững của dòng họ Nguyễn Huỳnh trong triều Nguyễn.
Lăng mộ và thờ tự
Lăng Nguyễn Huỳnh Đức hiện nay nằm ở nơi quê quán của ông tại Long An, có đền và mộ của ông, được dòng tộc giữ gìn khá tốt. Ngôi điện lợp ngói lưu ly xanh được gia tộc xây dựng năm 2000 theo bản vẽ của Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng, nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ Sài Gòn.
Tại đây có bức họa truyền thần được vẽ từ năm 1802 (ảnh), bộ ván độc mộc dài 3,4 m – rộng 1,8 m – dày 0,14 m, vốn là vật dụng của ông. Bên trong đền còn có 3 bộ lỗ bộ (đồ binh khí), lọng và 4 cặp liễn đối ca ngợi công trạng ông do vua Gia Long ngự ban. Ở cuối chánh điện có khám thờ với bức đại tự do vua Tự Đức đề tặng vào năm 1854. Bên trong đền còn lưu giữ chiếc hộp sơn son đựng tám bản chiếu, chỉ, chế, sắc của nhiều vua Nguyễn phong tặng. Đặc biệt, nơi điện thờ còn lưu giữ đoản kỷ do vua Xiêm La ban tặng vào năm 1789, khi ông đi sứ qua đó; một khánh lệnh bằng đồng do vua Gia Long ban tặng vào năm 1819.
Cách không xa đền là khu lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức được xây dựng từ thời Nguyễn, với nhiều cây sứ cổ thụ. Trước mộ có tấm bia đá cao 1,56 m – rộng 0,95 m được mang từ Huế vào. Mộ đấp nấm hình hộp: dài 3,4 m – rộng 2,7 m – cao 0,3 m (ảnh). Sau ngôi mộ là bình phong lớn có viết bài Thọ Phần Minh. Tất cả, được che chắn bằng những bức tường đá ong kiên cố. Trong khuôn viên này có cả thảy 9 cặp liễn đối, một bài minh, một bức bình phong bằng đá ong cao 3 m, có đắp nổi hoa văn hình cây đại thụ che mát cho đôi hươu…
Năm 1993, toàn thể khu di tích trên, được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là “di tích lịch sử cấp Quốc gia” theo số quyết định 534-QĐ/BT ký ngày 11 tháng 5 năm 1993.
Tưởng niệm
Tên ông đặt được đặt tên cho các đường phố sau:
Một con đường ở Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, Long An.
Một con đường ở Phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.
Một con đường ở Phường 2 và Phường 3, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang.
Một con đường ở Phường 1, Thành phố Vĩnh Long, Vĩnh Long.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1985 có tới hai con đường mang tên Nguyễn Huỳnh Đức. Đường Nguyễn Huỳnh Đức của Đô thành Sài Gòn cũ hiện nay là đường Trần Tuấn Khải ở quận 5, còn đường Nguyễn Huỳnh Đức của tỉnh Gia Định cũ nay là đường Huỳnh Văn Bánh ở quận Phú Nhuận. Điều đặc biệt là cả hai con đường mang tên Nguyễn Huỳnh Đức này đều bị đổi tên vào cùng ngày 4 tháng 4 năm 1985. Ngoài ra trước năm 1976, quận 5 còn có phường Nguyễn Huỳnh Đức, ngày nay là địa bàn các phường 5 và 6 của quận 5.
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Quang Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
- Huỳnh Minh, Kiến Hòa xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, trang 118.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006.
- Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Đồng Tháp, trang 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (toàn tập). Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Nguyen Huynh Duc (1748–1819)
Family Background
In his early years, he bore the name Huynh Tuong Duc (黃祥德). Later, owing to his many great services to the court, he was granted the imperial surname Nguyen. From that point on, he was known as Nguyen Huynh Duc, a designation symbolizing the exceptional favor bestowed by the sovereign upon a meritorious official of genuine learning and ability.
He was born at the Cai En sand ridge, belonging to Truong Khanh village, Dinh Vien district, former Long Ho garrison (now part of Khanh Hau Ward, Tay Ninh Province).
His family lineage was one of hereditary military service, with generations loyal to the Nguyen lords. His grandfather, Huynh Chau, and his father, Huynh Luong, both pursued military careers, faithfully serving the Nguyen and were each appointed to the rank of Cai Doi. In 1731, father and son followed the commander Truong Phuoc Vinh in suppressing the Sa Tot rebellion. The uprising was swiftly crushed, causing the king of Chenla to submit and cede the two regions of Peam Mesar (My Tho) and Longhor (Vinh Long) to Lord Nguyen Phuc Chu.
To facilitate administration and defense of these newly acquired lands, the Nguyen lord established Dinh Vien district, built the Long Ho garrison, appointed officials to govern it, and relocated additional Vietnamese settlers to reclaim farmland and develop villages. In this context, Nguyen Huynh Duc’s family chose to remain in this still-untamed southern frontier, undertaking both military duties and permanent settlement. It was this borderland environment that nurtured and forged a man deeply committed to territorial expansion, who would later step onto the historical stage as a distinguished military commander of great renown.
Service to Nguyen Phuc Anh
Nguyen Huynh Duc was widely known for his handsome appearance, powerful physique, and exceptional strength. In his time, he was regarded as a true tiger general, worthy of standing among the fiercest warriors on the battlefield.
In 1781, he joined the Dong Son army under Do Thanh Nhon. Later, although his commander was executed by Lord Nguyen Phuc Anh, Nguyen Huynh Duc’s talent and valor continued to be appreciated, and he was not dismissed from service.
In the year Nham Dan (1782), he was appointed to the Vanguard Army. From that point on, his destiny and career became closely bound to that of the Nguyen lord. On one occasion, when Nguyen Phuc Anh was pursued by Tay Son forces to Dinh Tuong and became trapped in dangerous terrain, all accompanying troops hesitated to turn back and attempt a rescue. Only Nguyen Huynh Duc alone ventured back into the perilous area to shield his lord. By dusk, the Tay Son troops, fearing an ambush, withdrew. That night, exhausted, Nguyen Phuc Anh rested his head upon Nguyen Huynh Duc’s thigh and slept deeply. Moved by such rare loyalty and courage, the Nguyen lord granted him the imperial surname, treating him as kin within the royal clan. From that moment, he formally bore the name Nguyen Huynh Duc.
In 1783, he fought Tay Son forces at Dong Tuyen but was defeated and captured along with some five hundred subordinates. The Tay Son commander Nguyen Hue, recognizing his extraordinary strength and military talent, decided to enlist him. Nguyen Huynh Duc agreed to serve the Tay Son, but set a clear condition: he would fight only against the Trinh forces and would never oppose the troops of the Nguyen lord.
In 1786, he accompanied Nguyen Hue north to Bac Ha to campaign against the Trinh clan, after which he was appointed Deputy General under Nguyen Van Due. Nguyen Van Due, a trusted follower of Nguyen Nhac, resented being subordinate to Nguyen Hue. Understanding this sentiment, Nguyen Huynh Duc devised a plan to feign taking a shortcut back to Quy Nhon to submit to Nguyen Nhac, thereby seeking an opportunity to escape. Believing him, Nguyen Van Due led more than five thousand troops through the forests. Along the way, Nguyen Huynh Duc seized the chance to slip away to Van Tuong and then cross into Siam (Thailand). By the time he arrived, Nguyen Phuc Anh had already returned to Gia Dinh. Although the Siamese king wished to retain him, Nguyen Huynh Duc firmly refused and resolved to return to serve the Nguyen lord.
In 1799, he was promoted to Commander of the Right Army Garrison, leading troops to capture Phan Ri and then Thi Nai (Binh Dinh). The following year, he continued his campaign, capturing the citadel of Quy Nhon, and was subsequently assigned to govern Dinh Tuong. After Nguyen Phuc Anh seized Phu Xuan, Nguyen Huynh Duc was again appointed as defender of the Quy Nhon Citadel, a position of crucial strategic importance.
Service under the Gia Long Reign
In 1802, Nguyen Phuc Anh ascended the throne as emperor, adopting the reign title Gia Long. Nguyen Huynh Duc was ennobled as Quan Cong, in recognition of his major contributions to the restoration of the Nguyen dynasty.
In 1810, he was appointed Governor-General of the Northern Citadel, concurrently serving as Imperial Commissioner and Commander of the Vanguard Army. In 1816, he returned to the South to assume the post of Governor-General of Gia Dinh, jointly administering the entire southern region together with Deputy Governor-General Trinh Hoai Duc.
On the 9th day of the 9th month of the year Ky Mao (27 October 1819), Nguyen Huynh Duc passed away while still in office, at the age of 71. His coffin was buried in his native place, and he was enshrined at the Temple of Meritorious Officials of the Restoration in the imperial capital Hue.
In the 12th year of the Minh Mang reign (1831), the court posthumously conferred upon him the noble title Kien Xuong Quan Cong. He had four sons, all of whom pursued military careers, two of whom became imperial sons-in-law, forging direct marital ties with the Gia Long royal family—clear testimony to the enduring prestige and influence of the Nguyen Huynh lineage within the Nguyen court.
Tomb and Worship
Today, at Nguyen Huynh Duc’s native place in Long An, his temple and tomb remain and are well preserved by his descendants. The shrine, roofed with green glazed tiles, was constructed by the family in 2000 based on the design of architect Nguyen Ba Lang, former Director of the Saigon Institute of Archaeology.
The site houses a spirit portrait painted in 1802, a single-log wooden platform measuring 3.4 meters in length, 1.8 meters in width, and 0.14 meters in thickness, which was once his personal belonging. Inside the temple are also three sets of ceremonial weapons, parasols, and four pairs of parallel couplets praising his achievements, personally bestowed by Emperor Gia Long. At the rear of the main hall stands a shrine cabinet bearing a large calligraphic plaque presented by Emperor Tu Duc in 1854.
The temple further preserves a vermilion-lacquered box containing eight imperial edicts, decrees, ordinances, and patents issued by various Nguyen emperors. Particularly noteworthy are a short chronicle bestowed by the Siamese king in 1789 during Nguyen Huynh Duc’s diplomatic mission there, and a bronze ceremonial command tablet granted by Emperor Gia Long in 1819.
Not far from the temple lies the tomb complex of Nguyen Huynh Duc, constructed during the Nguyen period and shaded by many ancient frangipani trees. In front of the tomb stands a stone stele 1.56 meters high and 0.95 meters wide, transported from Hue. The grave mound is box-shaped, measuring 3.4 meters in length, 2.7 meters in width, and 0.3 meters in height. Behind the tomb is a large screen wall inscribed with the Tho Phan Minh text. The entire complex is enclosed by sturdy laterite stone walls. Within the grounds are nine pairs of parallel couplets, one commemorative inscription, and a three-meter-high laterite screen wall adorned with reliefs of a great tree sheltering a pair of deer.
In 1993, the entire site was officially recognized by the Ministry of Culture and Information as a National Historical Monument, under Decision No. 534-QD/BT dated 11 May 1993.
Commemoration
His name has been given to the following streets:
- A street in Khanh Hau Ward, Tan An City, Long An
- A street in Vinh Thanh Ward, Rach Gia City, Kien Giang
- A street spanning Wards 2 and 3, My Tho City, Tien Giang
- A street in Ward 1, Vinh Long City, Vinh Long
In Ho Chi Minh City prior to 1985, there were two streets named Nguyen Huynh Duc. The Nguyen Huynh Duc Street of the former Saigon City is now Tran Tuan Khai Street in District 5, while the Nguyen Huynh Duc Street of the former Gia Dinh Province is now Huynh Van Banh Street in Phu Nhuan District. Notably, both streets were renamed on the same day, 4 April 1985.
Additionally, before 1976, District 5 also had a ward named Nguyen Huynh Duc, which today corresponds to the area of Wards 5 and 6 of District 5.
References
- Nguyễn Quang Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
- Huỳnh Minh, Kiến Hòa xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, trang 118.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006.
- Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Đồng Tháp, trang 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (toàn tập). Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.
Tiếng Pháp
Nguyen Huynh Duc (1748–1819)
Origines
À l’origine, il portait le nom de Huynh Tuong Duc (黃祥德). Par la suite, en raison de ses grands mérites rendus à la cour, il reçut le privilège exceptionnel de se voir conférer le nom dynastique Nguyen. Dès lors, son nom devint Nguyen Huynh Duc, symbole de la faveur particulière qu’un souverain accordait à un haut serviteur de l’État doté d’un savoir réel et d’un talent éprouvé.
Il naquit sur la butte de Cai En, dans le village de Truong Khanh, district de Dinh Vien, ancienne garnison de Long Ho (aujourd’hui quartier de Khanh Hau, province de Tay Ninh).
Sa famille appartenait à une lignée de généraux ayant servi les seigneurs Nguyen sur plusieurs générations. Son grand-père, Huynh Chau, et son père, Huynh Luong, embrassèrent tous deux la carrière militaire, demeurèrent fidèles au seigneur et furent promus au rang de Cai doi. En 1731, père et fils suivirent le commandant Truong Phuoc Vinh dans la répression de la révolte de Sa Tot. L’insurrection fut rapidement écrasée, ce qui effraya le roi du Cambodge, lequel se soumit et céda aux seigneurs Nguyen les territoires de Peam Mesar (My Tho) et Longhor (Vinh Long).
Afin d’assurer l’administration et la défense de ces nouvelles terres, le seigneur Nguyen établit le district de Dinh Vien, fonda la garnison de Long Ho, nomma des administrateurs et envoya des colons vietnamiens pour défricher et développer les villages. C’est dans ce contexte que la famille de Nguyen Huynh Duc choisit de demeurer dans cette région méridionale encore sauvage, assumant à la fois des fonctions militaires et une vie d’implantation durable. Cette frontière lointaine forgea un homme profondément attaché à l’œuvre d’expansion territoriale, qui allait bientôt entrer sur la scène de l’histoire en tant que grand général aux exploits éclatants.
Au service du seigneur Nguyen Phuc Anh
Nguyen Huynh Duc était réputé pour son allure distinguée, sa constitution robuste et sa force physique exceptionnelle. Ses contemporains le considéraient comme un tigre de guerre, digne de figurer parmi les plus redoutables généraux du champ de bataille.
En 1781, il rejoignit l’armée de Dong Son sous le commandement de Do Thanh Nhon. Bien que ce dernier eût ensuite été exécuté par le seigneur Nguyen Phuc Anh, le talent et la droiture de Nguyen Huynh Duc furent reconnus, et il ne fut pas écarté des rangs.
En l’année Nham Dan (1782), il fut nommé à la tête de l’Avant-garde (Tien quan). Dès lors, son destin et sa carrière furent étroitement liés à ceux du seigneur Nguyen. Un jour, alors que Nguyen Phuc Anh était poursuivi par les troupes Tay Son jusqu’à Dinh Tuong et se trouvait enlisé dans un terrain périlleux, tous ses accompagnateurs hésitèrent à revenir lui porter secours. Seul Nguyen Huynh Duc osa s’aventurer dans la zone dangereuse pour le protéger. À la tombée de la nuit, craignant une embuscade, les troupes Tay Son se retirèrent. Cette nuit-là, épuisé, Nguyen Phuc Anh s’endormit en posant la tête sur les genoux de Nguyen Huynh Duc. Profondément touché par une telle loyauté, le seigneur lui accorda le nom dynastique Nguyen, le considérant comme un membre de la famille impériale. C’est à partir de ce moment qu’il porta officiellement le nom de Nguyen Huynh Duc.
En 1783, il affronta les forces Tay Son à Dong Tuyen mais fut vaincu et capturé avec environ cinq cents hommes. Le commandant Tay Son, Nguyen Hue, impressionné par sa force et son habileté militaire, l’intégra à ses rangs. Nguyen Huynh Duc accepta, à la condition expresse de ne combattre que les troupes Trinh et de ne jamais s’opposer aux forces du seigneur Nguyen.
En 1786, il accompagna Nguyen Hue dans la campagne du Nord contre les Trinh, puis fut nommé vice-général sous les ordres de Nguyen Van Due. Ce dernier, proche de Nguyen Nhac, supportait mal d’être subordonné à Nguyen Hue. Tirant parti de cette rivalité, Nguyen Huynh Duc proposa un stratagème consistant à feindre un retour par un itinéraire secret vers Quy Nhon afin de se rallier à Nguyen Nhac. Trompé, Nguyen Van Due conduisit plus de cinq mille soldats à travers la forêt. En chemin, Nguyen Huynh Duc profita de l’occasion pour se rendre à Van Tuong, puis gagner le Siam (Thaïlande). Lorsqu’il y arriva, Nguyen Phuc Anh était déjà retourné à Gia Dinh. Malgré la volonté du roi du Siam de le retenir, il refusa catégoriquement et chercha par tous les moyens à retourner servir le seigneur Nguyen.
En 1799, il fut promu Commandant de l’Aile droite, dirigeant les troupes lors de la prise de Phan Ri puis de Thi Nai (Binh Dinh). L’année suivante, il mena l’assaut contre la citadelle de Quy Nhon, avant d’être chargé de la défense de Dinh Tuong. Lorsque Nguyen Phuc Anh s’empara de Phu Xuan, Nguyen Huynh Duc fut de nouveau nommé gouverneur militaire de Quy Nhon, un poste stratégique de première importance.
Carrière sous le règne de Gia Long
En 1802, Nguyen Phuc Anh monta sur le trône impérial sous le nom de règne Gia Long. Nguyen Huynh Duc reçut le titre de Quan cong, en reconnaissance de ses mérites exceptionnels dans la restauration de la dynastie Nguyen.
En 1810, il fut nommé Gouverneur général de Bac Thanh, cumulant la fonction de Commissaire impérial et Commandant de l’Avant-garde. En 1816, il retourna dans le Sud pour occuper le poste de Gouverneur général de Gia Dinh, administrant l’ensemble du Nam Bo conjointement avec le vice-gouverneur Trinh Hoai Duc.
Le 9 septembre de l’année Ky Mao (27 octobre 1819), Nguyen Huynh Duc mourut en fonction, à l’âge de soixante-et-onze ans. Sa dépouille fut inhumée dans sa terre natale, et il fut honoré dans le temple des Trung Hung cong than à la capitale Hue.
En la douzième année du règne de Minh Mang (1831), la cour lui conféra à titre posthume le titre de Kien Xuong Quan cong. Il eut quatre fils, tous engagés dans la carrière militaire, dont deux devinrent gendres impériaux, scellant des liens directs avec la famille royale de Gia Long — preuve durable du prestige et de la position éminente de la lignée Nguyen Huynh au sein de la dynastie Nguyen.
Tombeau et culte
Aujourd’hui, dans sa région natale de Long An, subsistent le temple et le tombeau de Nguyen Huynh Duc, soigneusement entretenus par sa descendance. Le sanctuaire, couvert de tuiles vernissées vertes, fut reconstruit en 2000 d’après les plans de l’architecte Nguyen Ba Lang, ancien directeur de l’Institut d’Archéologie de Saigon.
On y conserve un portrait rituel peint en 1802, une pirogue monoxyle de 3,4 m de long, 1,8 m de large et 0,14 m d’épaisseur, ayant appartenu au général, ainsi que trois ensembles d’armes cérémonielles, des parasols et quatre paires de sentences parallèles louant ses mérites, offertes par l’empereur Gia Long. Au fond du sanctuaire se trouve un autel portant une grande inscription calligraphiée par l’empereur Tu Duc en 1854. Le temple conserve également un coffret laqué rouge renfermant huit édits et décrets impériaux, ainsi qu’un court message honorifique offert par le roi du Siam en 1789 et une cloche de commandement en bronze accordée par Gia Long en 1819.
À proximité s’élève le mausolée, datant de l’époque Nguyen, ombragé de frangipaniers centenaires. Devant la tombe se dresse une stèle de pierre de 1,56 m de haut et 0,95 m de large, transportée depuis Hue. La sépulture, de forme rectangulaire, mesure 3,4 m sur 2,7 m pour 0,3 m de haut. À l’arrière, un grand écran orné du texte Tho Phan Minh complète l’ensemble, protégé par de solides murs en latérite.
En 1993, l’ensemble du site fut classé monument historique national par le ministère de la Culture et de l’Information (décision no 534-QD/BT du 11 mai 1993).
Mémoire
Le nom de Nguyen Huynh Duc a été attribué à de nombreuses rues :
- une rue dans le quartier Khanh Hau, ville de Tan An, province de Long An ;
- une rue dans le quartier Vinh Thanh, ville de Rach Gia, province de Kien Giang ;
- une rue dans les quartiers 2 et 3 de la ville de My Tho, province de Tien Giang ;
- une rue dans le quartier 1 de la ville de Vinh Long.
Avant 1985, Ho Chi Minh-Ville comptait deux rues portant son nom. L’ancienne rue Nguyen Huynh Duc de Saigon correspond aujourd’hui à la rue Tran Tuan Khai (district 5), tandis que celle de l’ancienne province de Gia Dinh est devenue la rue Huynh Van Banh (district de Phu Nhuan). Fait notable, ces deux rues furent renommées le même jour, le 4 avril 1985. Avant 1976, le district 5 comptait également un quartier Nguyen Huynh Duc, correspondant aujourd’hui aux quartiers 5 et 6.
Références
- Nguyễn Quang Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
- Huỳnh Minh, Kiến Hòa xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, trang 118.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006.
- Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Đồng Tháp, trang 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (toàn tập). Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.
Tiếng Trung
阮黄德(Nguyen Huynh Duc,1748–1819)
身世
阮黄德(Nguyen Huynh Duc)早年名为黄祥德(Huynh Tuong Duc,黃祥德)。后来因屡建大功于朝廷,获赐国姓“阮”,自此以“阮黄”之名行世,用以象征君主对一位学识与才能兼备之功臣所给予的特殊恩宠。他生于芹椋高地(Giong Cai En),隶属长庆村,定远州,旧龙湖营(今属西宁省庆后坊)。
其家族为世代辅佐阮主的武将世家。祖父黄洲(Huynh Chau),父亲黄良(Huynh Luong),皆从军效命,忠心辅佐阮主,并同受封为该队。1731年,父子二人随调遣使张福永(Truong Phuoc Vinh)参与平定萨卒之乱。叛乱迅速被镇压,致使真腊国王震恐,遂请降,并将巴占美沙(Peam Mesar,即美拖)与龙忽(Longhor,即永隆)二地献予阮福朱(Nguyen Phuc Chu)。
为便于新得土地之统辖与防御,阮主下令设立定远州,建置龙湖营,任命官员治理,并迁入更多越人流民开垦田土、拓展村落。在此背景下,其家族选择留驻此南方荒僻之地,一面承担军事职责,一面安居立业。正是这一边陲环境,孕育并锻造了他对开疆拓土事业的深厚情感,使其日后以一位战功显赫的武臣身份登上历史舞台。
辅佐阮福映
阮黄德素以仪表堂堂、体魄强健、力大过人而闻名,当时众人皆视其为虎将,足以列身猛将之林。
1781年,他加入杜清仁(Do Thanh Nhon)麾下的东山军。后来虽主将为阮福映所诛,但阮黄德之才能与气节仍受器重,未被排斥出军中。
壬寅年(1782),他受封为前军,自此命运与仕途便与阮主紧密相连。曾有一次,阮福映为西山军追逼至定祥,陷入险地,随从诸人皆畏惧不敢回援,唯独阮黄德孤身返入险境,护卫阮主脱身。其时天色已暗,西山军疑有伏兵,遂自行退却。是夜,阮福映因疲惫不堪,竟枕其膝而熟睡。阮主深感其罕有的忠勇,遂赐以国姓,视同宗亲。自此,他正式以阮黄德之名载于史册。
1783年,他在东宣与西山军交战失利,与约五百名部属一同被俘。西山将领阮惠(Nguyen Hue)见其体力非凡、用兵有方,遂加收录。阮黄德应允归附西山,但明确约定:只与郑军作战,绝不与阮主之军为敌。
1786年,他随阮惠北征河内讨伐郑氏,随后被任命为阮文悦(Nguyen Van Due)的副将。阮文悦为阮岳(Nguyen Nhac)心腹,不甘屈居阮惠之下。阮黄德洞悉其心态,遂献策佯装走捷径回归仁顺投奔阮岳,以图脱身。阮文悦信以为真,率五千余人穿林而行。途中,阮黄德乘机转往万象,继而渡至暹罗(Xiêm La,即泰国)。待其抵达时,阮福映已返嘉定。虽暹王欲留之,他仍毅然拒绝,执意设法回国继续辅佐阮主。
1799年,他升任右军营掌管,率军攻占潘里,继而进取市耐(平定)。次年,又领兵攻下归仁城,旋即受命镇守定祥。阮福映攻取富春后,他再被派镇守归仁城,扼守极为重要的战略要地。
嘉隆朝为官
1802年,阮福映即皇帝位,建元嘉隆。阮黄德获封郡公,以表彰其在中兴阮氏基业中的卓著功勋。
1810年,他被任命为北城总镇,兼钦差掌前军。至1816年,再返南方,出任嘉定总镇,与协总镇郑怀德(Trinh Hoai Duc)共同治理整个南部地区。
己卯年九月初九(即1819年10月27日),阮黄德在任内去世,享年七十一岁。灵柩葬于故里,并入祀顺化京城中兴功臣庙。
至明命十二年(1831),朝廷追赠其为建昌郡公。他育有四子,皆从武职,其中两人更成为驸马,与嘉隆皇族直接联姻,足证阮黄一族在阮朝中历久不衰的地位与声望。
陵墓与祀奉
今于隆安省阮黄德故里,尚存其祠庙与陵墓,均由族人妥善维护。祠殿覆以青色琉璃瓦,为其家族于2000年依阮伯凌(Nguyen Ba Lang)原西贡考古研究院院长——之设计图所建。
祠内珍藏一幅绘于1802年的传神画像,一块长3.4米、宽1.8米、厚0.14米的独木板,皆为其生前遗物。殿内另存三套卤部(兵器仪仗)、伞盖,以及嘉隆帝御赐的四副楹联,颂扬其功绩。正殿后方设有神龛,悬挂嗣德帝于1854年御题的大字匾。殿中还保存一只朱漆木盒,内藏历代阮帝所颁八道诏、制、敕、命。尤为珍贵者,有1789年其出使暹罗时获暹王所赐之短纪,以及1819年嘉隆帝赐予的铜制庆令。
距祠不远处,为建于阮朝时期的阮黄德陵墓,园内多古老鸡蛋花树。墓前立有一通自顺化运来的石碑,高1.56米、宽0.95米。墓冢呈长方覆丘形,长3.4米、宽2.7米、高0.3米。墓后立有大型屏风,刻《寿分铭》。整个陵区以坚固的蜂窝石墙围护,其内共有九副楹联、一篇铭文,以及一座高三米的蜂窝石屏风,浮雕大树荫蔽双鹿之纹样。
1993年5月11日,越南文化信息部依第534-QĐ/BT号决定,将该遗址整体认定为“国家级历史遗迹”。
纪念
阮黄德之名被用于以下街道名称:
- 隆安省新安市庆后坊一条道路;
- 坚江省柿街市永清坊一条道路;
- 前江省美拖市第二坊与第三坊的一条道路;
- 永隆省永隆市第一坊的一条道路。
1985年以前,胡志明市曾有两条道路以阮黄德命名:旧西贡都城的阮黄德路,今为第五郡陈俊凯路;旧嘉定省的阮黄德路,今为富润郡黄文炳路。尤为巧合的是,这两条同名道路皆于1985年4月4日同日更名。此外,1976年以前,第五郡尚设有阮黄德坊,今为第五郡第五与第六坊辖地。
参考资料
- Nguyễn Quang Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
- Huỳnh Minh, Kiến Hòa xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, trang 118.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006.
- Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Đồng Tháp, trang 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (toàn tập). Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.