Nguyễn Khắc Nhu (1882 – 1930)

Nguyễn Khắc Nhu (1882 – 1930)

Thông tin cơ bản

Bối cảnh lịch sử

Thử đặt câu hỏi, nguyên nhân và động cơ nào thúc đẩy sự ra đời của Việt Nam Quốc dân đảng (VNQD đảng)? Trước nhất là do ảnh hưởng từ Trung Quốc: Từ cuối thế kỷ XIX, các học thuyết chính trị tư sản phương Tây đã du nhập vào Trung Quốc và từ đó giới trí thức cấp tiến đã tiếp thu để trước tác những sách lược cứu nước. Chẳng hạn, Tôn Dật Tiên đã viết “Tam dân chủ nghĩa”; Khang Hữu Vi viết “Đề nghị cải cách”, “Đại đồng thư”…; hoặc Nghiêm Phục đã dịch số tác phẩm của Montesquieu v.v… phổ biến trong quần chúng. Những sách này đã vào nước ta qua đường buôn của Hoa kiểu tại Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng… và có ảnh hưởng sâu sắc đến trí thức Việt Nam thời bấy giờ. Từ nhận thức cách mạng đã biến thành hành động cách mạng. Năm 1905, nhà cách mạng tư sản Tôn Dật Tiên đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân chủ để tập hợp quần chúng, thành lập Đồng Minh Hội với chủ trương “đuổi người Mãn Thanh khôi phục Trung Quốc”.

Ngày 10/10/1910, các sĩ quan, binh lính trong quân đội nhà Thanh đóng tại thành phố Vũ Xương, do được giác ngộ cách mạng vùng dậy khởi nghĩa và chiếm được thành phố. Làn sóng khởi nghĩa chống triều đình nhà Thanh đã lan rộng khắp cả nước. Ngày 1 tháng giêng năm 1912 tại thành phố Nam Kinh, Tôn Dật Tiên tuyên thệ nhận chức Tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân quốc. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa này đã truyền vào Việt Nam. Tên tuổi các ông Tôn Văn, Hoàng Hưng, Hồ Hán Dân v.v… và cái chết oanh liệt của 72 nhân sĩ ở Hoàng Hoa Cương đã gieo vào tâm khảm người Việt – nhất là trong giới trí thức trẻ- nhiều cảm tình và niềm kính phục. Rồi phong trào Ngũ tứ (4/5/1919), phong trào Tân Văn hóa và nhất là cuộc đại cách mạng 1923 – 1925 “như một con gió lốc thổi vào Việt Nam trong lúc giai cấp tư sản vừa thức dậy. Học thuyết Tôn Văn và chủ nghĩa Tam dân đã mở cho các nhà cách mạng cấp tiến Việt Nam một phương trời mới”.

Bấy giờ, cuối năm 1925, tại ngôi nhà số 6 đường 96 khu Nam Đồng (nay là đường Trúc Bạch) có ba trí thức trẻ yêu nước mới ngoài đôi mươi là Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm và Nhượng Tống lập nhóm Nam Đồng thư xã. Nhóm này chuyên sáng tác, dịch thuật các tác phẩm như Cách mạng Trung Hoa, Lịch sử Tôn Dật Tiên, Chủ nghĩa Tam dân v.v… ra tiếng Việt, in trên giấy xấu, bán giá bình dân để tuyên truyền trong công chúng. Hòa nhịp với việc làm này là những bài cổ xúy tinh thần ái quốc trên tờ Thực nghiệp dân báo đã gây được tiếng và tạo được thiện cảm trong thanh niên.

Lui tới Nam Đồng Thư Xã ngoài sinh viên trường Cao đẳng Thương mại như Nguyễn Thái Học, Hồ Văn Mịch… hoặc sinh viên trường Cao đẳng Công chánh như Phó Đức Chính… còn có nhiều sinh viên học sinh khác. Họ gặp nhau để bàn luận về tình hình chính trị đang sôi động trong và ngoài nước: cụ Phan Châu Trinh về nước hăng hái di diễn thuyết, hô hào quốc dân khắp nơi; cuộc vận động đòi thả cụ Phan Bội Châu từ Bắc lan rộng vào Nam cũng như những bài nói của cụ Phan Châu Trinh như Đạo đức luân lý Đông Tây và quân trị, dân trị từ Nam truyền ra Bắc. Trước đó, năm 1924 chàng thanh niên Phạm Hồng Thái đã ném bom giết hụt Toàn quyền Merlin ở Sa Điện (Quảng Châu) đã đánh thức cơn mê ngủ của đồng bào. Trong lúc này vua bù nhìn Khải Định ở Trung Kỳ lại tăng thuế để làm lễ “Tứ tuần đại khánh” và chuẩn bị đón con là Bảo Đại từ Pháp về. Báo chí tiến bộ trong Nam kỳ lại rộ lên những bài viết vạch tội Khải Định và dịch đăng bức thư Bảy tội đáng chém của cụ Phan Châu Trinh gửi cho Khải Định, hồi sang Pháp. Những tờ báo in bài này dù bị cấm lưu hành, nhưng vẫn dội ảnh hưởng ra Bắc.

Có thể nói, thanh niên Việt Nam của thế hệ này rất thích đọc sách của nhóm Nam Đồng Thư Xã. Ngoài ra, còn có thể kể thêm sách của Quan Hải Tùng Thư ở Trung Kỳ do Đào Duy Anh và Trần Thị Như Mân chủ trương. Còn ở Nam Kỳ, ngoài nhóm La Lutte của Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm thì còn có sách của nhóm Nữ Lưu Thư Quán do Phan Thị Bạch Vân chủ trương. Về báo chí chính trị tiến bộ thì có những tờ như L’Argus Indochinois xuất bản tại Hà Nội, Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng xuất bản ở Huế, Cloche Fêlée bằng Pháp ngữ của Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn v.v…

Do ảnh hưởng từ các sách báo này và nhất là qua những lần thảo luận chính trị tại Nam Đồng Thư Xã đã thúc đẩy Nguyễn Thái Học viết hai bức thư gửi cho Varenne – Toàn quyền Đông Dương, đòi cải thiện dân sinh, dân chủ. Ngoài ra, anh còn gửi kèm theo dự án giúp đỡ dân nghèo thoát khỏi cảnh bùn lầy nước đọng.

Hai lá thư tâm huyết ấy đều không được phúc đáp.

Sự ra đời của Việt Nam quốc dân Đảng

Không thể ngồi chờ dân chủ từ sự “bố thí” của chính quyền thực dân, Nguyễn Thái Học cùng nhóm Nam Đồng thư xã – những tín đồ của chủ nghĩa Tam dân – quyết định vận động thành lập VNQD đảng. Sau những hội nghị sơ bộ, ngày chính thức thành lập đảng được tổ chức vào ngày 25/12/1927. Về tổ chức thì đảng này lấy chi bộ làm đơn vị căn bản, hạn định mỗi chi bộ là dưới 19 người. Sở dĩ có con số này vì theo luật lệ lưu hành của chính quyền Pháp bấy giờ, nếu cuộc hội họp nào trên 19 người thì phải xin phép, (tất nhiên, về nguyên tắc thì như vậy, chứ thật sự có những cuộc họp chỉ dăm ba người cũng bị thực dân đàn áp, bắt bớ). Trên chi bộ là huyện bộ, rồi đến tỉnh bộ hoặc thành bộ. Trên những tỉnh bộ, hành bộ là kỳ bộ. Cao nhất là tổng bộ toàn quốc. Mỗi chi bộ có bốn ban: tuyên truyền; tổ chức; tài chính và trinh thám. Nhưng ở cấp kỳ bộ và tổng bộ lại có tám ban: tuyên truyền huấn luyện; tổ chức; kinh tế tài chính; trinh thám; tư pháp; ám sát; quân sự và giám sát.

Ảnh hưởng của VNQD đảng lan rộng rất nhanh, không gói gọn trong một vài tỉnh phía Bắc mà nó còn vào tận Trung kỳ và nhất Nam kỳ. Trong công tác tuyên truyền và phát triển đảng, VNQD đảng đã bí mật ra tờ Hồn cách mạng, in bằng thạch bản; phái đại biểu Hồ Văn Mịch, Nguyễn Ngọc Sơn, Phạm Tiềm vào Nam tiếp xúc với Nguyễn An Ninh (nhóm Thanh niên Cao vọng), Nguyễn Đình Kiên (đảng Tân Việt); phái Chu Dưỡng Bình sang Quảng Tây liên hệ với nhà chức trách địa phương ủng hộ cho hoạt động của đảng; phái Đặng Đình Điển vào Huế liên hệ với cụ Phan Bội Châu v.v… Và VNQD đảng ngay từ khi ra đời đã làm được một việc mà các đảng trước đó chưa làm được: “Một địa hạt hầu như độc quyền của VNQD đảng hồi ấy là những binh lính trong hàng ngũ quân đội Pháp. Đối với hai đảng Thanh Niên và Tân Việt binh lính chỉ mới được tuyên tuyền ít nhiều, chưa có tổ chức. Trái lại VNQD đảng vừa thành lập đã bắt tay vào ngay việc tổ chức các chi bộ ở trong quân đội Pháp. Do đó không bao lâu, đảng có một số trung kiên trong hàng ngũ lính khố đỏ và pháo binh của Pháp, nhất là ở Hải Phòng và Kiến An”.

Trong thời điểm này, tại vùng Bắc Ninh, Bắc Giang cũng vừa hình thành tổ chức có tên gọi “Việt Nam dân quốc” theo chủ trương bạo động do nhà nho Nguyễn Khắc Nhu, tức Xứ Nhu lãnh đạo. Âm mưu bạo động đang tiến hành thì sự việc vỡ lỡ, vì trong lúc chế tạo bom do sơ ý nên bom nổ khiến hai người chết, giặc Pháp tung mẻ lưới hốt gọn nhiều người. Trước tổn thất này, Nguyễn Khắc Nhu đã đưa các đồng chí trong nhóm “Việt Nam dân quốc” gia nhập VNQD đảng và ông trở thành một trong những nhân vật chủ chốt của đảng.

Nguyễn Khắc Nhu sinh năm 1882 tại xóm Ao Vối, làng Song Khê thuộc huyện Yên Dũng, Bắc Giang (nay Hà Bắc) trong gia đình nhà nho nghèo. Năm lên 12 tuổi, cha mất thì cậu Nhu được bà nội cho đi cắt cỏ chăn trâu tại nhà cụ Tú Bảng, nhờ vậy cậu có điều kiện học lóm chữ của thánh hiền. Dăm năm sau, một lần cậu ra chùa chơi, sư cụ thấy cậu đỉnh ngộ, thông minh nên nhận làm tiểu, vừa làm việc vặt trong chùa vừa được học thêm chữ. Nhưng công việc này không lâu dài, chỉ độ nửa năm sau thì mọi việc thay đổi. Ngày kia, có một phường chèo đi qua làng, ông trùm thấy cậu đang mò cua bắt ốc nên cảm thương và xin bà nội cậu cho cậu đi theo phường chèo. Những chuyến lưu diễn này, cậu thường được giao đóng vai nữ và ấn tượng khó phai nhất là một lần được diễn tại đồn Phồn Xương của cụ Đề Thám. Danh tiếng của người anh hùng ròng rã đánh Pháp gần ba chục năm trời đã để lại trong tâm khảm của cậu Nhu niềm kính phục sâu sắc. Nhưng rồi, cậu cũng không đi theo phường chèo nữa vì bấy giờ đã 15, 16 tuổi rồi, cậu nghĩ muốn nên danh phận trong xã hội phải có chữ, chữ của mình chưa đầy lá mít thì làm sao sau này có thể làm được việc lón? Thế là cậu trở về làng, ra chùa sống chung với sư cụ như lúc trước. May mắn, do sư cụ thương tình nên cậu được gửi đến học tại chùa Lạc Gián – cách Song Khê độ 5 cây số – để nhà sư nơi đây có trình độ học vấn cao hơn dạy dỗ. Nhờ vậy, qua năm sau cậu đã có đủ kiến thức đi thi và đậu khóa sinh.

Sau khoa thi nhà sư này lại đã gửi cậu đến học tại trường của cụ Cử Đường, vốn là người tâm giao với các bậc hiệt kiệt như Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế… và từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Những tháng ngày theo học với cụ Cử Đường đã thật sự khai tâm mở trí cho Nguyễn Khắc Nhu không chỉ về kiến thức mà còn về tinh thần yêu nước, thương dân.

Năm 1903, Nguyễn Khắc Nhu đã ngoài 21 xuân, được cụ CửĐường giao một nhiệm vụ quan trọng. Lúc này, trên bước đường đi tìm người đồng tâm, đồng chí bàn bạc công cuộc cứu nước, cụ Phan Bội Châu đã ra Bắc và tìm đường lên đồn Phồn Xương diện kiến “danh ông Đề Thám vang lừng núi sông”. Để tránh tai mắt của bọn mật thám, thì người đưa cụ Phan đi phải thông thạo đường ngang ngõ tắt, địa hình rừng núi… Nguyễn Khắc Nhu được chọn vì trước đây ông đã từng theo phường chèo lên biểu diễn trên đó. Trong mấy ngày xuyên rừng lội suối, Nguyễn Khắc Nhu đã được cụ Phan giáo dục về đường hướng cứu nước. Theo cụ, phải khởi nghĩa võ trang thì mới có thể đuổi được giặc Pháp ra khỏi non sông, muốn vậy thì phải chế tạo vũ khí, tập hợp, cổ vũ quần chúng, phải cử người đi học quân sự ở nước ngoài v.v… Sau chuyến đi trót lọt này, trở về làng, Nguyễn Khắc Nhu dù tiếp tục đi học, đi thi và vẫn nhớ như in trong óc những lời dạy của cụ Phan.

Hướng đi cách mạng

Trong khoa cử ngày trước mấy tỉnh gần nhau họp thành một xứ, học trò mỗi xứ muốn thi Hương thì trước đó phải qua kỳ thi sát hạch, ai đậu đầu thì được gọi là Đầu xứ hoặc Xứ. Nguyễn Khắc Nhu do thi đậu đầu nên từ đó mọi người gọi là ông là Xứ Nhu. Nhưng sau đó trong những lần thi Hương, ông đều trượt. Lúc này phong trào Đông du do cụ Phan khởi xướng đã lan rộng từ Nam chí Bắc, cũng như nhiều thanh niên có chí khí ông quyết không theo khoa cử nữa mà tìm đường ra nước ngoài để học tập quân sự. Năm 1907, ông cùng 17 thanh niên yêu nước bí mật vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc), nhưng chuyến đi này không thành công.

Trở về làng, Nguyễn Khắc Nhu chọn nghề dạy học để chờ thời cơ. Không phải về nhà mở trường tư dạy học mà ông phải qua một kỳ thi tuyển, để vào dạy trường của nhà nước. Theo quy chế ban hành từ tháng 8/1871 thì nhà nước đã đặt trường hàng tổng, mỗi tổng chọn lấy từ 2 đến 6 người để chuyên dạy học sinh trong tổng, gọi là “Tổng sư”. Sau khi thi đậu, được bổ đi làm Tổng sư tại làng Thanh Liệt (huyện Lạng Giang), ông có làm câu đối tự trào:

Tay không việc quan mà cụ Tống,
Miệng không niệm Phật cũng ông sư.

Tất nhiên, nghề dạy học không phải là mục tiêu cuối cùng mà ông đeo đuổi, ông bộc bạch nỗi lòng qua bài thơ:

Thầy xứ, hơi thấy xứ
Một thầy, một lũ trò con
Khi ngồi, lúc đứng đã chồn
Hết bài Quốc ngữ lại dồn chữ
Nho Miệng giáng nghĩa to to, nho nhó
Tay xếp bài số số, khuyên khuyên
Ngoài trông có vẻ tự nhiên
Trong thì ắt hẳn có phen chẳng thường

Câu thơ cuối đã thổ lộ niềm tâm sự thầm kín của một nhà nho bất đắc chí, đang muốn làm “một cái gì đó” để thoát ra cảnh tù túng, đơn điệu, nhàm chán:

Buổi học xong rồi, cảnh vắng teo,
Trỗi lên, ngồi xuống, lại nằm mèo.
Miệng thèm sờ rượu, be hôi rích,
Giọng khát tìm trà, lọ mốc meo.

Trong khi đó, khắp nơi đã nổ ra những cuộc bạo động quyết liệt của Việt Nam Quang phục Hội, cuộc khởi nghĩa của chí sĩ Trần Cao Vân với vua Duy Tân… đã khiến lòng ông như lửa đốt:

Thôi thôi sớm liệu đường lui tới,
Lần thần rồi đây cũng chết vùi.

Một nhà giáo có thiên lương như thế, không thể không dạy cho học trò tinh thần ái quốc. Năm 1922, một viên thanh tra học chính Pháp đến thăm trường, y đã hoạnh họe hỏi ông tại sao dạy không theo sách giáo khoa? Tại sao trên tấm bản đồ thế giới treo trong lớp học lại có viết câu đối chữ Nho (Trần Lê Văn dịch):

Trên vách treo bản đồ,Tổ quốc non sông đâu đó nhí;
Trong nhà tôn Nho học, con cháu đất nước nối dòng chăng?

Không một lời giải thích, phân trần Nguyễn Khắc Nhu đã nộp đơn xin nghỉ dạy và trở về làng cũ. Thời kỳ này, ngoài việc đứng ra kêu gọi người dân trong làng cùng góp công, góp sức cải tạo môi trường sống như đào giếng, đả phá hủ tục, mê tín dị đoan… thì ông còn bày tỏ quan điểm chính trị trên các báo Thục nghiệp dân báo, An Nam tạp chí, Hữu Thanh… và tiếp tục giao du với những người cùng chí hướng. Qua một liên lạc viên tín cẩn, ông đã xin ý kiến của cụ Phan Bội Châu, lúc cụ đang bị giam lỏng tại Huế: “Với tình hình trước mắt chúng ta nên hành động như thế nào để đưa phong trào cách mạng lên cao?”. Năm 1926, có hai người bán quế từ Nghệ An đến làng Song Khê, sau dăm ngày thăm dò, hai người này mới cho biết họ là người do cụ Phan cử đến để trả lời câu hỏi của ông. Theo ý của cụ, trước mắt nên làm như kiểu Đông Kinh Nghĩa Thục, là đào tạo nhân tài và gây ảnh hưởng dần dần trong quần chúng, chờ thời điểm thuận lợi mà hành động quyết liệt…

Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của cụ Phan, ông đã nhanh chóng thành lập một hội lấy tên là “Quốc học dục tài”. Để hội hoạt động công khai và thu hút được cổ đông, ông đã chọn ông Nguyễn Hữu Lan – một công chức ở sở Bưu điện Hải Phòng làm Hội trưởng. Nhưng khi lá đơn xin thành lập hội gửi lên Thống đốc Bắc kỳ không những bị bác mà ngay cả ông Lan cũng bị đổi lên tận Tuyên Quang! Như vậy kế hoạch lập hội “Quốc học dục tài” đã bị thực dân bóp chết ngay từ trong trứng nước. Không nản chí, Nguyễn Khắc Nhu quyết tâm lập một tổ chức bí mật có tên “Việt Nam dân quốc” với mục đích đánh Pháp bằng lực lượng võ trang. Và như ta đã biết, sau đó Việt Nam dân quốc đã tự nguyện gia nhập vào VNQD đảng.

Sự việc này diễn ra vào đầu năm 1928 đã làm cho VNQD đảng lớn mạnh lên và có những thay đổi lớn trong đảng. Nếu VNQD đảng với nhóm Nam Đồng Thư Xã mà nòng cốt bao gồm những nhà văn, nhà báo, tư sản thành thị chủ yếu đấu tranh công khai trên báo chí, nghị trường thì việc gia nhập của Việt Nam Dân Quốc đã làm VNQD đảng nghiêng hẳn về phía khởi nghĩa vũ trang và thu hút thêm đông đảo những người chân lấm tay bùn ở nông thôn v.v…

Phong trào chống sưu thuế

Cuối năm 1929 nhận thấy bản điều lệ đầu tiên của đảng còn sơ sài, Nguyễn Khắc Nhu thay mặt Tổng bộ VNQD đảng dự thảo một bản chương trình điều lệ lần thứ hai, trong đó có cả kế hoạch kiến thiết quốc gia sau khi giành độc lập. Bản dự thảo này được Trung ương thông qua và gửi xuống tận chi bộ thảo luận để có một quyết định cuối cùng. Công việc này đang tiến hành thì có một bước ngoặt lớn trong hoạt động của VNQD đảng.

Trong công cuộc khai thác nguyên liệu ở Đông Dương, thực dân Pháp rất chú trọng đến nguồn lợi từ cây cao su. Sau khi đánh chiếm Việt Nam, năm 1877 lần đầu tiên một người Pháp là Pierre đã đem hạt giống cao su từ Singapore về, lập vườn ươm tại vườn Bách thảo (Sài Gòn) để trồng thử nghiệm nhưng không thành công. Đến năm 1879, Toàn quyền Paul Doumer cho lập hai trung tâm nghiên cứu trồng cao su tại Thủ Dầu Một và Nha Trang, và đã đạt được ý muốn. Từ đó, bọn tư bản Pháp đã hùn vốn để lập một số công ty khai thác đồn điền cao su ở Nam kỳ và sang tận Cao Miên.

Đã có đồn điền thì phải có công nhân, chúng đã lập ra nhiều cơ sở mộ phu cao su tại Trung kỳ, Bắc kỳ để lùa nông dân bần cùng vào Nam kỳ. Trong số những tên mộ phu ở Bắc kỳ, tàn bạo nhất vẫn là Bazin. Hắn dụ dỗ nông dân đói nghèo vào đồn điền với những lời hứa hẹn tốt đẹp, nhưng sự thật sau đó họ phải sống kiếp bần cùng hơn cả thú vật và chết không một manh chiếu bó xác! Những câu ca dao lưu truyền trong các đồn điền cao su đã tố cáo:

Cây rừng đè chết mạng người
Đắng cay tủi nhục kiếp người công tra
Cao su đi dễ khó về
Trai đi bỏ xác, gái về còn xương
Cây su xanh tốt xanh tươi
Mỗi cây bón một xác người công nhân
Hận thù trời đất khôn cầm
Càng tươi dòng mủ, càng bầm ruột gan

Trước tội ác của thực dân, các đảng cách mạng đã can thiệp bằng nhiều cách, họ viết báo tố cáo sự bóc lột tàn bạo của bọn mộ phu; rải truyền đơn kêu gọi dân phu biểu tình, đình công; khuyên nông dân chớ nghe lời phỉnh dụ của chúng mà bỏ xác nơi rừng thiên nước độc… Riêng VNQD đảng không thỏa mãn với những cách đấu tranh trên, họ cho rằng phải hành động quyết liệt hơn nữa thì may ra mới thay đổi được thực trạng và đây cũng là một cách để gây thanh thế cho đảng. Vì thế, Tổng bộ VNQD đảng quyết định phải giết tên buôn người Bazin.

Chiều 30 tết (9/2/1929) trong tiếng pháo đì đùng đón xuân, Bazin ngồi trên chiếc xe hơi do tài xế đưa về đến ngôi nhà số 110 phố Huế (Hà Nội). Lúc hắn vừa bước xuống xe thì có hai thanh niên đi đến. Cả hai người đều mặc Âu phục, đầu đội mũ nỉ rất thanh lịch nhanh nhẹn bước lại, lấy phong thư trong túi áo ra và lễ phép:

Thưa ngài có người gửi lá thư chúc Tết…

Ai gửi nhỉ? Bazin nhíu mắt ngẫm nghĩ và khi liếc mắt nhìn thấy chỗ gửi ghi Hãng buôn Bạch Thái Bưởi thì liền đưa tay nhận lấy. Lập tức, người thanh niên đứng sau rút súng ra bắn chính xác vào đầu hắn. Tiếng súng nổ đanh hòa lẫn trong tiếng pháo… Bazin ngã gục xuống đất, hắn chết không kịp ngáp! Lá thư chúc Tết kia thật ra là bản cáo trạng mà VNQD đảng đã dành cho tên buôn người chất chồng tội ác! Người thực hiện những phát súng thần kỳ này là anh Nguyễn Văn Viên.

Vụ giết Bazin đã tạo được một tiếng vang lớn trong dư luận, ai nấy đều hả hê trước hành động xuất quỷ nhập thần của một đảng cách mạng. Nguyễn Khắc Nhu đã viết bài thơ:

Nặng lòng ưu ái khó làm thinh, 
Dội máu nam nhi rửa bất bình.
Cướp nước, chém cha quân Phú Lãng, 

Cháy thành, chết mẹ chú Bazin.
Gian nan những xót người trong hội, 
Tâm sự nào ai kể với mình.
Hỡi hỡi anh em cùng gắng sức, 
Phen này quét sạch lũ hôi tanh.

Khởi nghĩa và hy sinh

Nhưng việc làm táo bạo này cũng đã đẩy VNQD đảng vào một tình thế hết sức bất lợi. Thực dân Pháp mở một chiến dịch khủng bố rất dữ dội. Hàng loạt cơ sở tổ chức yêu nước dù không liên quan đến vụ giết Bazin cũng đã bị phá vỡ, nhiều đảng viên VNQD đảng bị bắt và anh Viên cũng sa lưới. Để giữ khí tiết của một người anh hùng, anh đã chọn lối thoát cuối cùng là dùng vải thắt cổ chết trong tù!

Hội đồng Đề hình đã xử hàng trăm án tù và 6 người bị án tử hình vắng mặt. VNQD đảng tổn thất nghiêm trọng. Trong cuộc càn quét khốc liệt này, các yếu nhân như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Ký Con… đã trốn thoát. Thế nhưng, không nao núng, VNQD đảng tiếp tục dấn sâu vào vào các vụ khác như ám sát bọn chó săn hoặc những tên hèn nhát phản đảng, nhận tiền của mật thám để tìm bắt các đồng chí…

Thực dân Pháp càng điên tiết, tiếp tục lùng sục bắt bớ những người yêu nước. Đứng trước tình thế này, VNQD đảng bàn với nhau không thể – ngồi yên để cho chúng đến bắt, mà phải dốc hết lực lượng để đánh một trận cuối cùng, cho dù “không thành công cũng thành nhân”. Ngày 17/9/1929, hai ông Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu đã triệu tập các ủy viên quân sự về dự hội nghị tại Lạc Đạo (một địa điểm trên đường Hà Nội – Hải Phòng, giáp ranh địa phận Bắc Ninh và Hưng Yên) để xác định phương thức hoạt động của đảng. Tại đây, có hai chủ trương trái ngược đã nổ ra. Một phái đồng ý tiến hành bạo động và một phái cho rằng nên cải tổ lại đảng. Theo nhà sử học Trần Huy Liệu: “Mấy người có mặt trong cuộc hội nghị này thuật chuyện lại rằng: mặc dầu lúc đó có hai chủ trương khác nhau nhưng cuối cùng, vẫn không có một biểu quyết rõ ràng. Và có thể nói là không thảo luận nữa. Vì uy thế của hai nhà lãnh tụ Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu đã lấn át cả hội nghị. Một đại biểu của phái cải tổ vừa lên tiếng đã suýt bị bắn ngay. Kết quả là chủ trương bạo động được quyết định. Phái cải tổ chỉ có thể phản đối một cách tiêu cực là nằm yên không tham dự” (SĐD – tr. 38). Sau hội nghị này, VNQD đảng lập bản kế hoạch tổng công kích với những điểm chính như: cùng một lúc đánh vào những đô thị lớn và những nơi điểm yếu quân sự của Pháp; vũ khí giết giặc là bom, đạn do mình chế tạo và tịch thu được của giặc; lực lượng chiến đấu là những binh lính trong quân đội Pháp và những đảng viên; quân kỳ trong cuộc khởi nghĩa là nửa đỏ, nửa vàng; quân trang là quần áo ka ki vàng, đội mũ lưỡi trai, đi giày cao su, đeo băng vàng ở cánh tay có ghi dòng chữ “Việt Nam cách mạng quân”… Song song với việc tuyên truyền rộng rãi trong hàng ngũ đảng, vận động binh lính, chế tạo bom, đạn thì VNQD đảng còn tiến hành những cuộc ám sát những kẻ phản đảng, những chó săn mật thám. Những vụ này do Ban ám sát – mà người đứng đầu Ký Con Đoàn Trần Nghiệp thực hiện đã tạo được những tiếng vang dữ dội…

Trước tình hình ngày càng khẩn trương, ngày 8/12/1929, VNQD đảng đã triệu tập hội nghị bất thường tại Võng La thuộc Sơn Lũng, Sơn Dương (Phú Thọ) gồm các ủy viên quân sự bàn việc xúc tiến phát động khỏi nghĩa. Có một điều bất ngờ không ai lường trước là tên Nguyễn Thành Dương, tức Đội Dương, y đi lính cho Pháp, làm đội trưởng, đóng tại sân bay Bạch Mai và được giác ngộ vào đảng, nhưng nay đã phản đảng! Lúc hội nghị vừa khai mạc, y đã nổ súng bắn Nguyễn Khắc Nhu – người chủ trì hội nghị. Ông Nhu nhanh trí nằm lăn ra giả chết. Y quay súng sang bắn Phó Đức Chính. Dù bị thương ở chân, nhưng ông Chính cũng chạy thoát ra ngoài, may mắn được một người đàn bà mới đẻ trong làng đem giấu trong ổ rơm. Bọn mật thám đang bí mật bao vây bên ngoài, nghe tiếng súng liền vội ùa vào, nhưng bị lực lượng bảo vệ đảng chống trả quyết liệt! Nhờ vậy, các ông Nguyễn Thái Học, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Văn Liên… có thời gian chạy thoát. Ít ngày sau, bố của Đội Dương đã bị Nguyễn Văn Nho – em ruột Nguyễn Thái Học – dùng súng bắn chết tại ngõ Hồng Phúc; còn Đội Dương bị Ký Con bắn thủng ruột khi y từ sở mật thám đi ra!

Ngày 26/1/1930, VNQD đảng đã tổ chức hội nghị đại biểu toàn quốc tại làng Mỹ Xá thuộc phủ Nam Sách (Hải Dương). Tại hội nghị khẩn cấp này, Nguyễn Thái Học đã quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa. Căn cứ vào thực lực, đảng đã phân công các yếu nhân lãnh trách nhiệm chỉ huy như sau: Nguyễn Thái Học khu Phả Lại, Hải Dương; Thanh Giang Nguyễn Văn Khôi khu Yên Bái; Phó Đức Chính khu Sơn Tây; Nguyễn Khắc Nhu khu Hưng Hóa, Lâm Thao; Vũ Hồng Khanh khu Hải Phòng, Kiến An; Ký Con khu Hà Nội…

Hội nghị ấn định ngày 10/2/1930 là ngày tổng khởi nghĩa, nhưng sau đó, do giặc Pháp phát hiện ra mấy ngàn tờ hịch kêu gọi khỏi nghĩa nên Nguyễn Thái Học quyết định hoãn lại đến ngày 15/2/1930. Nhưng trên đường làm nhiệm vụ, liên lạc viên của ông bị bắt nên lệnh hoãn đã không đến tay các cấp chỉ huy khác. Vì sự chỉ đạo không thống nhất và thiếu sự phối hợp nên cuộc tổng khởi nghĩa đã không nổ ra đồng loạt như dự định, hầu hết các nơi đều tiến hành vào đêm 9 rạng ngày 10/2. Nơi nổ phát súng đầu tiên và quyết liệt nhất là Yên Bái, do đó, sự kiện này được các nhà viết sử gọi chung là “Cuộc khởi nghĩa Yên Bái”.

Với nhiệm vụ được phân công, sáng ngày 9/2/1930 Nguyễn Khắc Nhu đã triệu tập các cán bộ phụ trách đánh Hưng Hóa, Lâm Thao họp tại nhà ông đồ Thúy để ra huấn lệnh, và bí mật phân phát vũ khí gồm bom, súng trường, súng lục, mã tấu… cho các nghĩa quân. Họ này được chia làm hai toán quân, một toán dưới sự chỉ huy của ông Phạm Nhuận có nhiệm vụ đánh phủ lỵ Lâm Thao, và một toán do ông Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy đánh đồn Hưng Hóa. Cuộc khởi binh này sẽ nổ ra cùng lúc với các toán quân khác đánh vào Yên Bái. Sau khi thắng trận cả ba toán sẽ hội quân tại Hưng Hóa, theo lối Trung Hà vượt qua sông phối hợp với toán quân của Phó Đức Chính để đánh dứt điểm đồn Thông (Sơn Tây).

Vì do một sự nhầm lẫn nào đó, nên một nửa số quân kéo về Hưng Hóa không kịp đến điểm tập trung. Theo nhà sử học Trần Huy Liệu thì: “Trước giờ khởi sự họ phải tập trung tại một địa điểm gần đồn. Nhưng trong cuộc hành quân có một trở ngại xẩy ra ngoài dự định. Một trong hai toán quân kể trên muốn đến được địa điểm hội quân và đánh đồn, phải qua sông Hồng Hà. Vì không chuẩn bị trước, toán quân này đến nơi mới tìm đò qua sông. Không ngờ kẻ được giao đi tìm thuyền lại là một tên hèn nhát, thừa cơ trốn mất. Đến gần sáng toán quân này vẫn không qua sông được, đành giải tán” (SDD – tr.54)

Đồn lính khố xanh Hưng Hóa, trước đây vốn có một số binh lính đã được giác ngộ và họ sẽ là lực lượng làm nội ứng cho nghĩa quân. Nhưng do sự đề phòng của thực dân nên số quân này đã bị đổi đi nơi khác. Khi kéo quân đến, Nguyễn Khắc Nhu ra mật hiệu nhưng không thấy động tĩnh nào cả. Lúc bấy giờ vào ba giờ sáng, thấy đã có hiệu lửa nổi dậy của quân Phạm Nhuận ở Lâm Thao, Nguyễn Khắc Nhu buộc ra lệnh tấn công vào đồn, mặc dù số quân còn thiếu nhiều. Một số bom do VNQD đảng sản xuất được làm bằng vỏ xi măng, chỉ có một ít bằng vỏ gang, thuốc nổ lại không tốt nên không đủ sức phá hoại cũng như gây thiệt hại cho quân giặc.

Lúc này, Đồ Thúy – chỉ huy phó của đội quân – đã đọc bài Hịch kêu gọi binh lính ủng hộ cách mạng. Nguyễn Khắc Nhu cũng nhảy lên bờ tường kêu gọi sang sảng anh em lính khố xanh hãy quay súng bắn vào giặc và trở về hàng ngũ cách mạng để phụng sự Tổ Quốc. Trả lại cho lời kêu gọi ấy từ, trong đồn đạn bắn ra như vãi thóc. Nguyễn Khắc Nhu hạ lệnh xung phong nhưng nghĩa quân vẫn không thể vào đồn. Cuộc tấn công diễn ra trong vòng bốn mươi phút. Thương vong của nghĩa quân mỗi lúc một tăng lên, Nguyễn Khắc Nhu đành cho rút quân để sang sông nhập với cánh quân của Phạm Nhuận đã làm chủ được Lâm Thao.

Tại đây, tên tri phủ Đỗ Kim Ngọc đã chạy thoát được, còn lính lệ thì rút lên lô cốt phòng thủ. Quần chúng địa phương nổi lên như sấm động: “Hoan hô VNQD đảng” và nhập vào dòng thác của nghĩa quân đi đánh phá khắp nơi. Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh tịch thu toàn bộ súng đạn, thiêu hủy toàn bộ công văn và cho treo cờ VNQD đảng lên nóc phủ đường. Phủ lỵ Lâm Thao hoàn toàn thuộc về quân khởi nghĩa. Nguyễn Khắc Nhu kêu gọi dân chúng tập hợp lại để nghe ông diễn thuyết. Ông hô hào quần chúng đoàn kết chống thực dân để hoàn thành sứ mạng cứu quốc. Mọi người vui sướng hát vang một ca khúc cách mạng dựa theo giai điệu bài La Marseillaise – quốc ca của nước Pháp – do chính ông soạn nội dung:

Đầy đường hùm beo, đồng tâm cùng bước!
Dưới ách cường quyền, mấy ai ngồi yên?
Phất cờ tự do, đuổi quân đế quốc
Quyết sống mái! Gan cho vững! Chí cho bền!
Trên đường vinh quang, kìa trông người đua chen
Anh em đâu? Mau cùng đứng lên!
Chị em đâu? Mau cùng đứng lên!
Thể cùng đem xương máu, xây đắp nhân quyền
Lắp súng, anh em tiến quân!
Tuốt gươm, lắp súng…
Tiến lên, đồng tiến lên…
Ta phấn đấu tới cùng!

Tiếng hát vang dội trong ngày hội của quần chúng. Ngửa mặt nhìn lên trời đen thẳm, Nguyễn Khắc Nhu có cảm giác như đêm nay từng ngôi sao kia sáng hơn, lấp lánh hơn… Tuy mới có được thắng lợi này và được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, ủng hộ, nhưng Nguyễn Khắc Nhu đã nhìn thấy địa thế của Lâm Thao trống trải, không có lợi cho quân cách mạng khi có cuộc phản công của địch. Do đó, ông có ý định cho rút quân ra ngoài, nhưng Phạm Nhuận cứ muốn ở lại rồi tính sau. Ý kiến chưa thống nhất thì khoảng mười giờ sáng, phó công sứ Chauvet đã đem lực lượng đến tấn công. Hai bên nổ súng. Cuộc quyết chiến dữ dội. Tên trung tá Chauvet bị một nghĩa quân trước đây từng đi lính khố đỏ bắn trúng vành tai, suýt chết.

Cuộc chiến đấu đã diễn ra không cân sức, nghĩa quân càng lúc càng bị áp đảo. Nguyễn Khắc Nhu bị thương ở đùi, không chạy được. Các đồng chí dìu ông đi, nhưng ông không đồng ý vì sợ làm chậm trễ cuộc rút quân. Ông đặt hai quả bom xuống đất, rút chốt an toàn, và nằm yên trên bom để tự sát. Uy lực của bom quá yếu nên ông không chết, chỉ bị thủng ngực và bụng, máu túa ra đầm đìa. Bọn giặc ùa đến bắt trói ông và giải về nhà lao Hưng Hóa.

Trên đường đi ông đã lợi dụng lúc đi sát bờ sông nhảy xuống sông Hồng tự tử lần thứ hai, nhưng giặc Pháp lại vớt ông lên. Tại nhà giam mặc dù bị tra tấn tàn nhẫn nhưng ông vẫn liên tục chưởi mắng quân cướp nước. Tên cảnh sát trưởng Riner gọi ông là quân cướp của giết người.

Ông trợn mắt thét:

Đồ khốn nạn! Giữa chúng tao và chúng mày thì chúng mày mới là quân giết người!

Tên phó công sứ Chauvet khôn khéo hơn, hắn mở giọng mật ngọt nhằm mua chuộc ông và hỏi khéo:

Tại sao mày làm loạn?

Ông khẳng khái đáp:

Tại sao gọi là làm loạn? Tôi là người Việt Nam, tôi có bổn phận phải bảo vệ đất nước để giành độc lập. Vậy hợp với lẽ phải và nhân đạo.

Câu trả lời không chút do dự và đanh thép của ông khiến hắn không nói được câu nào nữa. Hắn tống ông vào ngục. Nửa đêm về sáng ngày 11/2/1930 nghĩ mình trước sau rồi cũng bị giặc Pháp chém đầu, nên tuy chân tay bị trói nhưng ông vẫn dồn tàn lực đập đầu vào sàn xà lim tìm cái chết mà bảo toàn danh tiết. Tương tự, một đồng chí của ông là Phó Đức Chính, sau khi kết án xong, tên chủ tịch Hội đồng để hình hỏi có chống án không? Phó Đức Chính cười đáp:

Đời người ta làm có một việc, hỏng cả một việc sống nữa mà làm gì?

Lúc 5 giờ 30 sáng ngày 17/6/1930 tại Yên Bái, đế quốc Pháp đưa 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc dân Đảng ra hành hình. Tất cả đã hy sinh trong tư thế những người anh hùng. Phó Đức Chính bị xử thứ 12. Ông đòi chúng đặt nằm ngửa để nhìn lưỡi dao máy chém. Phó Đức Chính chỉ kịp hô “Việt Nam vạn tuế” thì lưỡi dao tàn bạo của đế quốc đã hạ xuống. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái dù bị giặc Pháp nhanh chóng dìm trong biển máu, nhưng nó đã tạo tiếng tiếng vang oanh liệt trong tâm thức người Việt Nam và rất có ý nghĩa trong cuộc trường chinh đấu tranh giải phóng dân tộc. Về sau, trong tác phẩm “Lịch sử nước ta”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết:

Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu…

Và bấy giờ ngay trên đất Pháp, nhà thơ cộng sản Louis Aragon cũng đã thốt nên những lời đanh thép: “Yên Bái – đây là điều nhắc nhở ta rằng không thể bịt miệng một dân tộc, không thể khuất phục họ bằng lưỡi chém của đao phủ!”.

Thực dân Pháp thật sự hoảng sợ trước tinh thần bất khuất, quyết vùng dậy quét sạch ách thống trị, vì thế chúng đã đàn áp khốc liệt. Ngày 14/2/1930 Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier ra Nghị định thành lập Hội đồng Đề hình xét xử những vụ án liên quan đến cuộc khởi nghĩa của VNQD đảng. Trong các phiên tòa diễn ra từ ngày 27/2/1930 đến ngày 30/1/1931, chúng đã kết án tử hình hơn 50 chiến sĩ và bắt hàng ngàn người đày ra Côn Đảo hoặc Guyane. Không những thế, thực dân còn sử dụng 5 máy bay ném 57 quả bom 10 kg và xả súng triệt phá làng Cổ Am – nơi có nhiều cơ sở hoạt động của VNQD đảng. Trong bức điện gửi cho các công sứ Bắc kỳ, thống sứ Bắc kỳ Robin đã cho biết mục đích của hành động man rợ này: “Làng Cổ Am, tỉnh Hải Dương đã bị phi đội từ Hà Nội đến ném bom. Bản chức yêu cầu các ngài tuyên truyền rộng rãi việc ném bom ấy và nhấn mạnh thêm rằng các làng nào chống cự lại Pháp thì cũng sẽ bị triệt hạ một cách không thương tiếc như làng Cổ Am”.

Nhưng lịch sử đã chứng minh không, không một bạo lực nào có thể khuất phục được ý chí của người yêu nước. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái, vai trò của chính trị VNQD đảng đã kết thúc, “ngọn cờ phản đế, phản phong, giải phóng dân tộc đã chuyển dần qua tay giai cấp vô sản” (Lê Duẩn – Một vài đặc điểm cách mạng Việt Nam).

Ngày nay, tại công viên Yên Hòa (Yên Bái), Nhà nước ta đã xây dựng Khu tưởng niệm và nơi yên nghỉ của các lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Khu mộ này có diện tích 300m², hai ngôi mộ của Nguyễn Thái Học và các lãnh tụ VNQD đảng được bao quanh bằng 17 cột trụ nối liền với nhau bởi một vòng tròn khuyết. 17 cột trụ là tượng trưng cho Nguyễn Thái Học và 16 đồng chí của ông bị thực dân Pháp xử trảm. Vành tròn khuyết ở trên tượng trưng cho sự thất bại nhưng oanh liệt của cuộc khởi nghĩa và câu nói nổi tiếng của Nguyễn Thái Học: “Không thành công, cũng thành nhân”. Bên cạnh khu lăng mộ là nhóm tượng đài khắc họa chân dung Nguyễn Thái Học và 4 yếu nhân khác của VNQD đảng: Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Ngô Hải Hoàng và Nguyễn Thị Giang.

Cái chết của Nguyễn Khắc Nhu vẫn sống mãi cùng sử xanh. Một đồng chí của ông đã có câu đối viếng (Nguyễn Khắc Đạm dịch):

Vì dân quyên sinh, vì nước quyên sinh, vì đảng nghĩa quyên sinh, thể chẳng tham sinh nhìn giặc nước;
Lòng ông không chết, danh ông không chết, tinh thần ông không chết, quyết đem cái chết giục đồng bào.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.  

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Khắc Nhu

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)