Con người
Trời thu. Mây bay thấp. Nắng dịu. Dinh quan Tuần phủ mấy hôm nay mở tiệc khao vọng, rộn rịp khách vào ra ăn uống, hát xướng. Sau bao tuần rượu chúc tụng, ngật ngưỡng trong dinh, Tuần phủ Nguyễn Bá Trác đưa tay vuốt râu, cười đắc chí. Thế đấy! Bao nhiêu năm bôn ba làm cách mạng, nay trở về tưởng đâu tù mọt gông thế mà lại được ăn trên ngồi trốc. Phải khôn ngoan thế nào mới được như thế chứ? Trác tự Tiêu Đẩu, thuở nhỏ học chữ Hán, có thi Hương và đậu cửnhân khoa Bính Ngọ (1906). Gặp lúc cụ Phan Bội Châu hô hào phong trào Đông Du, Trác đã xuất dương sang Nhật và sau khi chính phủ Nhật giải tán du học sinh và trục xuất các nhà cách mạng nước ta, Trác được vào học lớp cán bộ quân sự ở Quảng Tây. Thế nhưng, về sau Trác lại quay về cộng tác với Tây! Nhờ có nhiều “công lao” nên Trác được chúng bổ làm Tá lý bộ Học ở Huế, rồi làm Tuần phủ Quãng Ngãi. Nhân dịp “vinh thăng”, Trác mở tiệc khao mời trong làng ngoài quận đến dự rất đông để khoe mẻ. Tất nhiên trong số quà cáp đến mừng Trác còn có nhiều thơ phú của bạn bè cũ. Rượu vào lòi ra. Tiếng nói cười rôm rả. Một ca nhi õng ẹo đứng lên ngâm mấy câu “lẩy kiểu” của một thực khách vốn là bạn cũ tặng chủ nhân:
Kể từ lạc nước bước ra
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung
Giang hồ quen thói vẫy vùng
Rày xem phỏng đã cam lòng hay chưa?
Tiếng ngâm vừa dứt, mặt Trác đang tươi rói bỗng tái ngắt, xám xịt. Ai đó đã đánh trúng tim đen bản chất hai mặt, lá phải lá trái của Trác. Cuộc liên hoan nhạt nhẽo dần và tự động giải tán không kèn không trống! Trác không hề biết rằng, cũng trong lúc ấy, cách đó không xa, tại làng Tân Hội, có một người cộng sản đang say sưa hô hào quần chúng đứng lên làm cuộc cách mạng để đổi đời. Giọng nói da diết của anh âm vang như tiếng sóng bên sông sông Trà Khúc… Và hắn cũng hoàn toàn không ngờ rằng chính anh sẽ là người khiến hắn phải mất ăn mất ngủ.
Chàng thanh niên ấy là Nguyễn Nghiêm, sinh năm 1903 tại làng Tân Phong, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) – vùng đất từng tự hào với đặc sản “Cá bống sông Trà/ Mạch nha Thi Phổ”. Anh là con trai của cụ Nguyễn Tuyên, đậu tú tài và tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Chính thái độ sống của cha đã ảnh hưởng đến nhân cách của anh. Năm 1908, cụ Tuyên đứng vào hàng ngũ của những người nông dân chống sưu thuế nên bị thực dân Pháp kết án chín năm tù, đày ra Côn Đảo. Vì thế ngay từ thuở nhỏ anh đã có tư tưởng ghét Tây.
Con đường cách mạng
Năm 1926, anh cùng với Trương Quang Trọng, Nguyễn Thiệu lập ra Hội Công ái, rồi gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chíHội. Đây là tổ chức do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập vào tháng 6/1926 tại Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 5/1929, Trương Quang Trọng cùng với Nguyễn Sĩ Sách, Nguyễn Thiệu, Võ Mai đại diện cho kỳ bộ Trung kỳ sang Hương Cảng tham dự đại hội lần thứ nhất của Hội. Ở thời điểm này, các tổ chức Đảng Cộng sản của Việt Nam đã bắt đầu hình thành. Nhưng khi trở về nước Trương Quang Trọng bị địch bắt, các đồng chí cốt cán khác cũng phải vào Nam ra Bắc lánh mặt. Các cơ sở bí mật cũng bị chúng đánh hơi và khủng bố dữ dội. May mắn, Nguyễn Nghiêm đã thoát được. Bí mật vận động quần chúng yêu nước góp tiền mua chiếc ô-tô chở khách, anh làm tài xế chạy tuyến đường Đà Nẵng – Nha Trang để tìm cách bắt liên lạc với những người cùng chí hướng.
Bấy giờ, Phan Thái Ất là phái viên của Xứ ủy Trung kỳ được giao nhiệm vụ bắt liên lạc với các cơ sở cách mạng ở các tỉnh miền Nam Trung bộ. Nhiều lần đi xe của anh Nghiêm, anh Ất nhận xét người tài xế thông minh, sáng dạ, vui tính nên cũng có cảm tình. Nhưng vì công tác bí mật nên anh Ất cũng chưa thố lộ một điều gì cả. Mãi đến tháng 3/1930, được lệnh bám trụ tại Quảng Ngãi để gây dựng lại cơ sở, anh Ất mới quyết định giác ngộ anh Nghiêm vào Đảng.
Được lời như cởi tấm lòng. Đó cũng là mơ ước bấy lâu mà anh Nghiêm đã mong đợi. Từ đây, với uy tín của mình, anh Nghiêm đã vận động thêm khá nhiều người lao khổ đứng vào hàng ngũ của Đảng. Hình ảnh một thanh niên có gương mặt đôn hậu, da trắng, môi son, dong dỏng cao, thường mặc áo dài thâm, đội mũ trắng, đi guốc mộc đã đi vào trí nhớ yêu mến của dân cày. Tháng 5/1930, anh là người đầu tiên được cử làm bí thư tỉnh Đảng bộ Quảng Ngãi.
Phong trào quần chúng
Để có điều kiện cho tổ chức hoạt động, anh đã bán phần đất riêng của gia đình được 600 đồng, mua một chiếc xe đạp cho bộ phận giao thông liên lạc và xây dựng được bốn tờ báo của tỉnh là Sống chung, Dân cày, Bạn gái, Tiến lên. Không chỉ là người diễn thuyết giỏi, khiêm tốn, hòa nhã mà Nguyễn Nghiêm còn có khả năng làm thơ. Anh rất có ý thức trong việc dùng sáng tác văn học để tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho quần chúng. Bài thơ Cổ động đấu tranh của anh đã thắp lên niềm tin trong nhân dân Quảng Ngãi từ những tháng ngày đen tối nhất:
Dân Việt Nam đang lúc trầm luân
Ách nô lệ ngày lần thêm nỗi khổ
Đế quốc Pháp mượn danh “bảo hộ”
Đè nén ta cực khó trăm đường
Hút máu me, rồi gặm đến xương
Dân chúng chịu lầm than khôn xiết kế!
Lòng căm tức quyết dời non lấp bể
Đem thân ra mà luyện đá vá trời
Cờ chỉ huy phất phới khắp nơi nơi
Xông pháo đạn quyết đòi quyền lợi lại
Chẳng quản trẻ, già, trai, gái
Họa lớn này là cái họa chung
Hè cùng nhau đứng dậy đùng đùng
Nương dưới bóng cờ hồng xông lướt tới!
Khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra ở hai huyện Nam Đàn, Thanh Chương thì tại vùng đất “Gái lòng son không bằng tô don Vạn Tượng”, Nguyễn Nghiêm cũng đã phát động quần chúng hưởng ứng theo. Mở đầu cho cao trào cách mạng ở Quảng Ngãi trong thời kỳ 1930 – 1931 là cuộc biểu tình rầm rộ vào đêm 8/10/1930 của hàng ngàn quần chúng phủ Đức Phổ, Mộ Đức. Những con người bình dị… đã xông vào đốt phá phủ đường làm bọn quan lại sợ hãi bỏ chạy. Các cây lớn ở hai đầu đường cái quan đi vào phủ đều bị đốn ngã, các tảng đá lớn được khiêng ra ngáng đường thành chiến lũy kiên cố. Tại đây, Nguyễn Nghiêm đã treo cờ đỏ búa liềm tung bay ngạo nghễ!
Để đè bẹp phong trào, thực dân Pháp huy động lực lượng hùng hậu đến đàn áp. Tỉnh ủy đã nhanh chóng hội ý để quyết định chia Quảng Ngãi làm hai phân khu: Nguyễn Nghiêm phụ trách phía Nam sông Trà Khúc, còn Phan Thái Ất phụ trách phía bắc sông. Cuộc chiến đấu kéo dài nhiều ngày. Tuần phủ Nguyễn Bá Trác đã dẫn đường cho chúng thẳng tay trừng trị bất cứ trẻ, già, trai, gái nào đã tham gia biểu tình. Trang sử bi thảm và hào hùng của nhân dân Quảng Ngãi còn ghi lại có hơn một trăm người bị giết, hàng ngàn người bị tù đày… Riêng những người cầm đầu, chúng ra lệnh truy nã gắt gao. Ngày 24/2/1931, Nguyễn Nghiêm sa vào tay giặc tại làng Nhu Năng, phủ Tư Nghĩa. Hôm ấy, anh có mặt tại nhà ông Giám Tộ, bị một kẻ phản bội dẫn Pháp đến vây bắt. Anh bị giam ở nhà lao Quảng Ngãi. Bấy giờ, Nguyễn Bá Trác có đến tận nhà tù để dỗ dành, mua chuộc nhưng thất bại. Y nhổ toẹt bãi trầu đỏ lòm như máu xuống sàn xà lim rồi nói:
Anh còn trẻ người non dạ nên không biết trước kia cha anh và tôi là người cùng có chí lớn. Đâu phải tôi không yêu nước, nhưng vận nước chưa đến, đại sự chưa thành thì mình phải chờ thời cơ. Chẳng hạn, như tôi về làm việc với nhà nước Bảo hộ cũng là một cách chờ thời cơ. Anh nên noi gương tôi mà thức thời. Ai cấm anh làm cách mạng? Anh còn trẻ, cứ đợi dăm ba năm nữa thời cơ đến bấy giờ cũng chưa muộn…
Không để cho y nói hết câu, Nguyễn Nghiêm cắt ngang:
Thôi thì, nói dông dài cũng chẳng qua ông muốn biết tổ chức Đảng của tôi chứ gì? Nói thật, vô ích thôi. Tôi sẽ không khai với ông bất cứ một điều gì đâu!
Trác hậm hực bỏ đi.
Trác hậm hực bỏ đi. Rồi những ngày sau, y lại mò đến, cũng giọng điệu đó, y nhẹ nhàng dỗ dành, khuyên lơn nhưng đều không đạt kết quả như mong muốn. Biết không thể mua chuộc được khí phách của người yêu nước, chúng lại đem ngón nghề tra tấn ra đe dọa. Không hình phạt dã man nào mà chúng không áp dụng. Cuối cùng, sáng ngày 23/4/1931, vừa mở cửa ngục thì đập vào mắt chúng là bài thơ của anh viết bằng máu trên tường:
Cuộc đời cách mạng chẳng mấy thu,
Sải bước thân thiên chết mặc dù.
Noi gương kẻ trước thờ non nước,
Tiếp bước người sau rửa hận thù.
Lá cờ giai cấp bền tay phất,
Lưỡi kiếm anh hùng cố điểm tu.
Rồi đây bão táp vùi tay giặc,
Việt Nam độc lập đẹp muôn thu.
Biết khí tiết của anh như vậy thì không bạo lực nào có thể khuất phục được, chúng lập tức đưa anh ra tòa. Trác ngồi ghế chánh án. Anh bị kết án tử hình!
Rạng sáng ngày 24/4/1931, lúc mặt trời chưa nhô lên, bọn giết người đã có mặt ở bờ sông Trà Khúc. Chúng huy động quần chúng đến chứng kiến giây phút chém đầu Nguyễn Nghiêm để khủng bố tinh thần họ. Sau những “thủ tục” lằng nhằng, Nguyễn Bá Trác hỏi anh có trăn trối lại điều gì không? Anh không thèm đáp. Giây lát sau, anh ngửa mặt lên trời đọc bài thơ tuyệt mệnh – như nhắn nhủ lại với dân cày, các đồng chí đã từng cùng mình vào sinh ra tử:
Tử sanh sanh tử là gì?
Đem thân ra trận mà thi mới hào
Đền nợ nước với máu đào
Đã vì nghiệp cả sá nào tình riêng
Đời còn lắm nỗi truân chuyên
Nước non ly loạn đâu yên việc nhà
Tình dân nghĩa nước bao la
Phất cao cờ Đảng xông ra chiến trường
Thân dầu thị nát, xương tan
Giống nòi sống mãi non sông huy hoàng
Lòng ta chan chứa nhiệt thành
Dẫu rằng ngã xuống đâu đành nằm yên
Biến thành hồn nước thiêng liêng
Hòa trong sông núi xông lên diệt thù
Đôi lời nhắn bạn chinh phu
Tử sanh há dễ mờ lu chí hùng
Lưỡi gươm sắc lẹm của đao phủ chưa kịp hạ xuống, anh đã cất tiếng hét vang động cả trời xanh:
Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!
Như tiếng sét nổ ngang trời, tên đao phủ chuyên nghiệp bỗng run lẩy bẩy, hắn cầm cán gươm không vững. Không thể lấy lại bình tĩnh để làm tròn phận sự, lại nghe tiếng thúc giục của bọn quan trên, hắn càng luống cuống. Phải mất mười mấy nhát gươm hắn mới chém được đầu người cộng sản trung kiên. Khí thiêng nay đã về trời…
Bất chấp sự đe dọa của thực dân, khắp nơi đã làm lễ truy điệu Nguyễn Nghiêm. Một đồng chí của anh là Trần Kinh Luân, sinh năm 1896, người xã Phổ Cường, huyện Phổ Đức (Quảng Ngãi) có làm bài văn truy điệu anh mà nhiều người còn nhớ mãi:
Nhớ lúc còn nằm trong ngục thất, vẫn tranh thủ tuyên truyền binh lính, nhắc nhở anh em; Đến khi ra chốn pháp trường, vẫn ung dung vĩnh biệt cõi trần, ngâm thơ giã bạn. Người không còn, danh tiếng vẫn còn, còn mãi với Trà Giang, Bút Lĩnh. Một người xướng, ngàn vạn người tiếp ứng, quyết phục thù nối chí ngày mai; Một kẻ ngã, ức triệu người đứng lên, thể xé thịt phanh thây chúng nó.
Than ôi!
Hạc bay bổng lên non
Ngọc chìm sâu xuống bể!
Nhưng niềm mơ ước cháy bỏng trong tâm can của Nguyễn Nghiêm chỉ gần 15 năm sau đã trở thành hiện thực. Cuộc cách mạng tháng Tám do đồng chí của anh lãnh đạo đã lật đổ ách thống trị gần 100 năm của quân cướp nước. Còn số phận của Tuần phủ Nguyễn Bá Trác thì sao? Bấy giờ, nhân dân quyết định bắt y phải đền tội, phải trả nợ máu đã vay! Hiện nay, tại Quảng Ngãi có trường học và con đường được mang tên người cộng sản Nguyễn Nghiêm – bất tử ở tuổi 28.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.