Khái quát
… Năm 1925, Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội được thành lập ở Quảng Châu. Hội rất tích cực tổ chức các lớp huấn luyện, đưa thanh niên Việt Nam sang học, rồi sau khi được huấn luyện cẩn thận lại gửi về nước. Nhiều người gọi là “sinh viên đỏ” bị bắt ở biên giới và bị kết án tù dài hạn. Nhưng nhà trường vẫn tiếp tục rất có hiệu quả… Trong tư tưởng của những người đứng ra tổ chức thì Hội này nhằm làm cơ sở cho một Đảng lớn hơn và tương lai đã chứng minh điều đó…
(Nguyễn Ái Quốc)
Cuối năm 1926, sau khi theo học xong lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, Nguyễn Công Thu (sinh năm 1894, người xã Vũ Trung, huyện Vũ Thư – Thái Bình) được giao nhiệm vụ về nước lập đường dây đưa thanh niên yêu nước đi Quảng Châu và chịu trách nhiệm xây dựng tổ chức chi bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tại Hà Nội. Sau một thời gian ngắn, chi bộ đầu tiên của đất ngàn năm văn vật đã ra đời tại một địa điểm ở làng Dịch Vọng (Từ Liêm) – gồm 11 người, trong đó có Nguyễn Phong Sắc. Chi bộ này ngày càng phát triển và thu hút khá đông thanh niên tình nguyện gia nhập. Để sự chỉ đạo tập trung thống nhất, tháng 3/1927 Kỳ bộ Bắc kỳ được thành lập, rồi tháng 6/1927 Tỉnh bộ cũng được thành lập.
Bấy giờ, trên địa bàn Hà Nội các tổ chức chính trị khác như Việt Nam Quốc dân Đảng, Tân Việt Đảng cũng đã hoạt động và tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng. Nhiệm vụ bức thiết của những người mác-xít trong Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội lúc này là đấu tranh chống lại những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp và tay sai của chúng, chống lại những ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và tiểu tư sản, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào trong phong trào cách mạng gắn chặt với việc xây dựng cơ sở của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội trong phong trào công nhân và nông dân, đặt nền tảng cho các tổ chức cộng sản sau này.
Thân thế và gia đình
Nguyễn Phong Sắc tên thật là Nguyễn Văn Sắc (còn có tên là Nguyễn Đình Sắc), bí danh là Thịnh, sinh ngày 1/2/1902 tại làng Bạch Mai, con trai út của ông bà Nguyễn Đình Phúc và Thành Thị Tửu. Dấu ấn khó phai trong những ngày thơ ấu của anh là hành động yêu nước của cha. Từ năm 1907, ông Phúc tham gia trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và bị thực dân Pháp bắt đày Côn Đảo. Sau năm năm trở về từ địa ngục trần gian, ông Phúc tiếp tục truyền dòng máu yêu nước và cách mạng cho con trai mình.
Năm lên mười, Nguyễn Phong Sắc theo học với cậu ruột là ông giáo Ròn, ba năm sau, anh tiếp tục theo học trường tư thục Công Ích, rồi vào học trường Bưởi. Kết thúc bốn năm học, anh đã đậu đầu khi thi lấy bằng Thành chung.
Quá trình giác ngộ cách mạng
Từ năm 1924, Nguyễn Phong Sắc thôi cuộc đời học sinh và xin vào làm ở Sở tài chính Đông Dương. Một đồng sự với anh là nhà thơ Tú Mỡ có viết bài thơ Bốn cái mong của thầy phán:
Làm nghề thầy phán với thầy thông,
Sống ở trên đời có bốn mong.
Mong tháng chóng qua, tiền chóng lĩnh,
Mong giờ qua hết, việc mau xong.
Mề đay mong được dăm mười chiếc,
Lương bóng mong tăng sáu bảy đồng.
Hãy tạm thời nay mong thế thế,
Còn bao mong nữa xếp bên lòng.
Đó là tâm lý phổ biến của lớp thanh niên có học thức, ra làm việc với Pháp:
Mặt mũi khôi ngô, hình dong chững chạc, quần là ống sớ, áo vận khuy vàng, khăn lượt vành dây, ô che cán bạc; Bảnh bao lắm mốt, trời nắng trời mưa, giày nọ giày kia… Tiếng Lang sa thoắng trơn nước chảy, những “uẩy” cùng “nông”; Câu Hán tự dốt đặc cán mai, đọc “tộ” hóa “tác”…
Tuy nhiên, trong số ấy, có người không lấy đó làm sự đắc ý rằng đã thành đạt trên đời. Nguyễn Phong Sắc là người như thế. Trong những ngày đầu đến Sở, gia đình anh đã thuê hẳn một người phu xe để hằng ngày phục vụ anh. Nhưng chỉ được dăm ba ngày, anh quyết không chễm chệ ngồi trên xe cho phu kéo nữa. Hỏi tại sao thì anh đáp:
Thời buổi này, chúng ta chỉ là những kẻ nô lệ. Tôi nô lệ, anh cũng nô lệ. Anh kéo xe cho tôi ngồi, điều đó có nghĩa là kẻ nô lệ kéo xe cho người nô lệ. Tôi thấy ngậm ngùi cho thân phận của anh lẫn của tôi – thân phận của con dân mất nước…
Rồi, càng làm việc tại Sở, Nguyễn Phong Sắc càng thấy ngày tháng trôi qua quá đơn điệu, cuộc đời mòn mỏi trong những công việc vô vị – hoàn toàn không phù hợp ý nguyện với mình. Anh đã kết bạn với Hồ Trọng Hiếu (sau này là nhà thơ trào phúng Tú Mỡ), Trịnh Bá Bích, Trần Quang Huyến… để cùng nhau tâm tình về thế sự. Trong số này, anh Huyến đã là hội viên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Cuối năm 1926, anh Huyến cùng với các anh Nguyễn Danh Đới, Dương Văn Mùi đã giác ngộ cho Nguyễn Phong Sắc về ý thức cách mạng và anh quyết định xin gia nhập vào Hội.
Hoạt động cách mạng
Thời kỳ đầu
Ngày tháng trôi qua cho đến lúc xảy ra một sự việc đã khiến anh thay đổi nếp sống:
Hai buổi ung dung u bàn giấy, sổ to sổ nhỏ, bầy liệt bày la; Mấy giờ chễm chệ ư ghế mây, mục đỏ mục đen, viết chì viết chác.
Nhà thơ Tú Mỡ có kể lại:
Một tên sếp người Pháp chỉ vì không vừa ý trước cử chỉ của một nữ nhân viên phục vụ người Việt Nam, y mắng chị ta là “đồ con lợn”. Sắc nghe biết chuyện này, anh giận lắm, liền đến gặp tên sếp, phản đối lời nói thô bỉ của y. Tên sếp cậy thế “nước mẹ” mắng lại Sắc. Y còn dọa sẽ đánh anh nếu anh cãi lại nó.
Về nhà, Sắc buồn ủ rũ. Cầm bát cơm lên ăn nhưng không sao nuốt nổi. Từ đấy, hàng ngày đến Sở, người ta thấy anh ít ngồi vào bàn làm việc mà cứ thẫn thờ đi lại vòng quanh sân. Tên Péronse thấy vậy mới mời anh vào và hỏi vì sao mà buồn? Không ngần ngại, Nguyễn Phong Sắc trả lời là người Pháp xúc phạm đến danh dự người Việt Nam, vì vậy mà buồn. Péronse lúc ấy đang là quyền giám đốc Sở thay tên Nô-rét (M. Nores) đang về Pháp công cán, thấy Sắc than văn như vậy, y không những không “dỗ dịu” với anh, mà còn cậy quyền, cậy thế nói rằng làm sai người ta mắng là phải. Sắc bực lắm. Anh trở vội vào bàn làm việc, lấy giấy bút ra viết đơn xin thôi việc.
Tin Nguyễn Phong Sắc thôi việc làm xôn xao khắp Sở Tài chính. Người ta đóng cửa phòng lại bàn tán rất ghê. Nhiều người không cắt nghĩa nổi tại sao một công chức cao cấp như thế lại đùng đùng xin thôi việc? Chỉ có những người bạn chí cốt của anh mới hiểu được nỗi lòng của anh và càng khâm phục anh.
Rời Sở tài chính, Nguyễn Phong Sắc bắt đầu thâm nhập nhiều nơi để tìm hiểu đời sống của người lao khổ, rồi xin dạy học ở trường tư thục Thăng Long.
Phong trào “vô sản hóa”
Từ năm 1928, phong trào vận động quần chúng tham gia các tổ chức cách mạng đang phát triển mạnh mẽ. Nguyễn Phong Sắc cùng các đồng chí bắt đầu in tài liệu, truyền đơn… Thực hiện chủ trương của đại hội Kỳ bộ Thanh niên, nhiều hội viên đã tích cực tham gia “vô sản hóa”. Nguyễn Thị Nghĩa làm công nhân ở nhà máy gạch Năm Diệm; Nguyễn Thị Lựu làm công nhân nhà máy bia Hô-men; Khuất Duy Tiến, Mai Lập Đôn xuống Nam Định xin làm công nhân thợ máy; Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Phong Sắc đi kéo xe tay v.v…
Đây là một chủ trương mà theo Lê-nin:
Chỉ khi nào cùng lao động với công nhân và nông dân, người ta mới trở nên một người cộng sản chân chính được. Phải làm cho mọi người thấy rằng đoàn viên của Đoàn thanh niên đều là người có học thức và đồng thời cũng biết lao động… Không lao động, không đấu tranh thì kiến thức sách vở về chủ nghĩa cộng sản, lượm lặt được trong các tài liệu, tác phẩm về chủ nghĩa cộng sản sẽ không có một chút giá trị nào.
Chính từ chủ trương “vô sản hóa” đã thúc đẩy phong trào công nhân tiến lên một bước rất đáng kể, nhiều cuộc bãi công của công nhân đã nổ ra khiến thực dân phải kinh khiếp. Bấy giờ, những người lãnh đạo Kỳ bộ Bắc kỳ và Tỉnh bộ Hà Nội đã có được nhận thức mới để đi đến kết luận:
Phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng lớn mạnh, số hội viên Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội đưa vào hoạt động ở các nhà máy, thôn xã ngày càng đông, tổ chức cơ sở của thanh niên ngày càng phát triển, sự giác ngộ giai cấp của quần chúng, hội viên được nâng cao, xu hướng cộng sản chủ nghĩa ngày càng rõ rệt.
Trước tình hình đó, Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội không còn đủ sức lãnh đạo nữa. Cần phải có một tổ chức chặt chẽ hơn, có cương lĩnh rõ ràng hơn, phương hướng hoạt động đúng đắn hơn, với cơ sở quần chúng rộng rãi hơn mới có thể đáp ứng được những đòi hỏi của phong trào, lãnh đạo phong trào đi theo con đường cách mạng vô sản”.
Vai trò trong việc thành lập tổ chức cộng sản đầu tiên
Từ nhận thức này, tháng 3/1929, những hội viên tích cực nhất đã bí mật họp tại nhà số 5D Hàm Long (Hà Nội) thành lập tổ chức cộng sản đầu tiên. Chi bộ này gồm 8 người là Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Kim Tôn, Dương Hạc Đính và Nguyễn Phong Sắc.
Rồi trong hai ngày 28 – 29/3/1929, hội nghị lần thứ hai đã diễn ra tại đồn điền Kim Đài, huyện Tùng Thiện (nay thuộc Sơn Tây). Mọi người đồng ý giao cho bốn đại biểu là Ngô Gia Tự, Trần Văn Cung, Dương Hạc Đính, Kim Tôn nhiệm vụ phải đấu tranh thành lập Đảng Cộng sản khi tham dự đại hội thanh niên toàn quốc sắp tổ chức tại Hương Cảng (Trung Quốc). Trong khi đó, đại biểu kỳ bộ Trung kỳ là Nguyễn Sĩ Sách, Nguyễn Thiệu, Trương Quang Trọng, Võ Mai; đại biểu kỳ bộ Nam kỳ là Phạm Văn Đồng, Châu Văn Liêm, Trần Văn Phồng (Công); đại biểu chi bộ ở Thái Lan là Võ Tòng cũng được kỳ bộ những nơi này cử đi dự đại hội.
Ngày 1/5/1929 diễn ra đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đến dự có ba đại biểu của Tổng bộ là Lê Hồng Sơn, Lê Duy Điếm, Lâm Đức Thụ. Nhưng vấn đề mà đại biểu kỳ bộ Bắc kỳ đưa ra thảo luận không được đại biểu tại đại hội tán thành. Ý kiến bất đồng chủ yếu là ở phương pháp tiến hành, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản. Do đó, đại biểu kỳ bộ Bắc kỳ bỏ đại hội ra về – riêng Dương Hạc Đính ở lại.
Ngày 17/6/1929 tại nhà số 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội), đại biểu các tổ chức cộng sản mới được tổ chức ở các tỉnh Bắc kỳ đã tiến hành cuộc họp quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Đặt tên Đảng như vậy, vì họ thống nhất nhận định:
Đông Dương là thuộc địa của thực dân Pháp, nên ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia cùng có một kẻ thù chung, có mối quan hệ gắn bó về địa lý nên công cuộc cách mạng ba nước không thể tách rời. Với nhiệm vụ đó, Đảng Cộng sản phải gánh vác trách nhiệm trước nhân dân ba nước Đông Dương.
Như vậy, chi bộ 5D Hàm Long và Đông Dương Cộng sản Đảng là những tổ chức cộng sản đầu tiên ở trong nước được thành lập tại Hà Nội.
Ngày 21/7/1929, sau khi tham dự Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lâm thời họp tại nhà Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Cung và Võ Mai được phân công phụ trách Trung kỳ; Trần Tư Chính (tức Bàng Thống) vào hoạt động ở Nam kỳ để phát triển cơ sở Đảng.
Hoạt động ở Trung kỳ và vai trò trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh
Khi mới đến Vinh, Nguyễn Phong Sắc – giữ chức bí thư kỳ bộ Trung kỳ – vào làm lao công trong nhà máy Trường Thi, lấy bí danh Thịnh. Trong thời gian này, anh đã có những đóng góp tích cực để chuyển các đảng viên Đảng Tân Việt, hội viên Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở đây trở thành đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng và thành lập Tổng Nông hội Nghệ An – do anh Phan Thái Ất làm bí thư; Tổng Công hội Nghệ An do anh Cát Sửu, công nhân nhà máy diêm Bến Thủy làm bí thư; Tổng Sinh hội Nghệ An do anh Nguyễn Tiềm, học sinh trường Quốc học Vinh làm bí thư.
Từ ngày 3/2/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay trong thời điểm này, Nguyễn Phong Sắc đã triệu tập kỳ bộ Đông Dương Cộng sản Đảng ở Trung kỳ, Đông Dương Cộng sản liên đoàn ở Nghệ An và Hà Tĩnh họp tại Vinh để thành lập Phân cục trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ở Trung kỳ, do anh làm bí thư. Chính những nhân tố tích cực này sẽ làm nên một cao trào cách mạng lừng lẫy mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá:
Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc khởi nghĩa vĩ đại làm chấn động nền thống trị của chế độ thực dân và phong kiến hồi năm 1930 – 1931, mở đầu phong trào cách mạng đưa đến những thắng lợi huy hoàng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Lãnh đạo phong trào đấu tranh năm 1930
Theo kế hoạch đã định trước, ngay từ đêm 28/4/1930, hàng ngàn tờ truyền đơn đã được rải rộng khắp các nhà máy, trường học, công sở, trại lính… kêu gọi quần chúng lao khổ đứng dậy hưởng ứng ngày Quốc tế Lao động. Thực dân Pháp chưa kịp trở tay thì trong đêm 29/4/1930, lá cờ đỏ búa liềm đã tung bay ngạo nghễ trước dinh công sứ và trên cột cờ thành Vinh. Rồi rạng sáng ngày 1/5/1930:
Tại thành phố Vinh – Bến Thủy, 1.200 nông dân các làng Yên Dũng, Lộc Đa, Đức Thịnh (Hưng Nguyên), An Mậu, Đức Lộc, Song Lộc (Nghi Lộc) siết chặt hàng ngũ dưới sự lãnh đạo của các đảng viên cộng sản theo đường từ Cửa Hội – Vinh kéo vào thành phố, phối hợp với công nhân các nhà máy biểu tình đưa yêu sách lên công sứ Nghệ An, đòi ngày làm 8 giờ, tăng tiền lương, giảm sưu, giảm thuế.
Nhận được tin đó, Phạm Hữu Văn, tri phủ Hưng Nguyên liền đưa lính đến chặn đoàn biểu tình ở Quán Lau. Đoàn biểu tình vẫn tiến được vào thành phố, nhưng khi đến cổng nhà máy Trường Thi thì tất cả công nhân bị lính vây hãm trong nhà máy. Đoàn biểu tình lại theo đường số 1 kéo xuống các nhà máy ở Bến Thủy. Công sứ Pháp huy động mười ô tô chở đầy lính khố xanh đến đàn áp. Mặc dù vậy, hàng ngũ đoàn biểu tình vẫn siết chặt thêm và hát vang bài Quốc tế ca.
Đoàn biểu tình ngày một đông, khí thế cuộn dâng như thác đổ. Giặc Pháp xua lính xuống ngã ba Bến Thủy, lập thành hàng rào trước cổng các nhà máy, nhưng công nhân vẫn tràn ra… Tên giám binh Pháp hô lính bắn, song mũi súng của lính lại chĩa thẳng lên trời. Bọn chỉ huy và chủ nhà máy diêm nổ súng làm sáu người chết và mười người bị thương, trong đó có đồng chí Nguyễn Đôn Nhăn, một đảng viên cộng sản, người đã xông lên tát vào mặt tên giám binh và cướp súng của hắn, bẻ làm đôi. Đoàn biểu tình buộc phải đánh trả lại quân thù…
Cuộc biểu dương lực lượng lở trời lở đất này đã tiếp tục lan rộng đến nhiều nơi khác trong cả nước, mà đỉnh cao là cuộc biểu tình ở Hưng Nguyên (Nghệ An) nổ ra ngày 12/9/1930. Có nơi đã giành được chính quyền, dựng nền Xô Viết công nông dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng.
Sự đàn áp của thực dân Pháp
Khiếp đảm trước sự lớn mạnh như thác đổ, sóng dậy của quần chúng lao khổ, thực dân Pháp đã đàn áp đẫm máu. Chúng đã hai lần sử dụng máy bay để ném bom ngăn chặn các đoàn biểu tình Hưng Nguyên: 214 người bị tàn sát dã man và hàng trăm người bị thương. Nhưng thân phận bần cùng ấy đã quyết đổ dòng máu nóng để ươm mầm tự do cho ngàn đời sau. Trong bài Văn tế truy điệu liệt sĩ trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã viết những dòng thống thiết:
Nghĩ tới tụi quan trường thêm héo ruột, bán nòi buôn giống, cốt cầu cạnh quan cao bổng hậu, thân tự do cam chịu ách cúi lòn; Trông ra đế quốc những căm gan, róc thịt moi xương, ngón tham tàn thuế nặng sưu cao, ôm súng đạn phỉnh phờ công bảo hộ. Chói lọi bấy tấm gương ái quốc, bốn mặt phong trào xô đẩy, công nông binh đều tay vỗ dậy, trống biểu tình đánh dội núi sông vang; Mới mẻ thay mảnh đất Việt Nam, một vùng không khí mịt mù, Trung Nam Bắc khắp mặt reo hò, cờ cách mạng cắm đầy đất đỏ.
Những ngày cuối đời
Trước cao trào cách mạng và Xô Viết Nghệ Tĩnh đang bị đàn áp, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Ban chấp hành Trung ương triệu tập Hội nghị lần thứ hai tại Sài Gòn dưới sự chủ tọa của đồng chí Trần Phú. Nguyễn Phong Sắc đi xe lửa vào Nam. Họp xong, tháng 3/1931, khi từ Sài Gòn ra Vinh để tiếp tục đi Hà Nội, Hải Phòng phổ biến Nghị quyết Trung ương Đảng thì anh bị sa vào tay giặc. Do có kẻ phản bội nên ngày 3/5/1931, bọn mật thám đã mai phục ở ga Hàng Cỏ và sau đó bắt anh tại khách sạn Nam Lai. Dù tra tấn dữ dội, nhưng vẫn không khai thác được thông tin nào, chúng quyết định xử bắn người cộng sản kiên cường. Đó là lúc 5 giờ sáng ngày 25/5/1931, Nguyễn Phong Sắc mới tròn 28 xuân.
Thương tiếc một người “công danh xem tựa dép nát”, một đồng chí của anh là Hồ Văn Minh bấy giờ đang bị giam trong nhà lao Ban Mê Thuột đã viết bài Văn truy điệu Nguyễn Phong Sắc:
Nhớ đồng chí xưa!
Vững chí trung kiên; bền gan tiến thủ
Áng công danh xem bằng dép nát
Phó mặc phường hám lợi bôn ba
Trường cách mạng nhận rõ khuôn vàng
Cùng vô sản tiến lên chính lộ
Máu nhiệt thành một niềm cương quyết, gióng trống đại đồng, phất cờ xã hội, lấy đấu tranh đòi lại tự do;
Tài mạo hiểm trăm trận xông pha, diệt quân tư bản, đánh đổ Nam triều, giành quyền lợi về bên đa số.
Hiện nay, tại Hà Nội có trường học và tại Vinh có đường phố được mang tên Nguyễn Phong Sắc.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.