Khái quát
Mỗi lần nghe nhắc đến Hưng Yên, ta không thể không nhắc đến đặc sản nhãn lồng, nó nổi tiếng đến độ nhà bác học Lê Quý Đôn từng hạ bút khen ngợi: “Mỗi lần bỏ vào miệng thì tận trong răng lưỡi đã nảy ra vị thơm tựa như nước thánh trời cho”. Tại vùng đất này, sáng ngày 30/1/2005, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cùng nhân dân Hưng Yên đã tổ chức an táng hài cốt và dựng nhà bia tưởng niệm nhà yêu nước Nguyễn Thiện Thuật tại quê nhà là thôn Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào sau khi tiến hành chuyển hài cốt của cụ từ Trung Quốc về. Trong lịch sử trường chinh chống xâm lược Pháp dưới triều Nguyễn, cụ là một trong những nhà cầm quân tài ba, võ tướng dũng lược.
Nguyễn Thiện Thuật sinh năm 1844 tự Mạnh Hiếu, con trai trưởng của ông bà cụ Nguyễn Tuy, hiệu Quảng Phường, đỗ Tú tài năm 1842, làm nghề dạy học và mẹ họ Phạm. Cụ giáo Nguyễn Tuy sinh được 6 người con gồm 2 gái, 4 trai – trừ một con trai mất sớm còn ba anh em trai đều tham gia cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do con trai trưởng Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo.
Sinh trưởng trong một gia đình nho học nghèo, có tài văn võ nổi tiếng khắp trong làng ngoài huyện, ngay từ nhỏ Nguyễn Thiện Thuật đã nổi tiếng học rất giỏi. Năm 1870, cụ đậu Tú tài và ý thức về vận mệnh đất nước đã hình thành trong tâm trí. Năm 1873, khi danh tướng Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết lúc giữ thành Hà Nội, cụ có làm bài thơ điếu:
Quân thân nặng nghĩa, nhẹ thân mình,
Thua được bàn chỉ việc dụng binh.
Trăm trận gian nan mà chẳng chết,
Một hòa tạm bợ lại quyên sinh.
Cửa trời đã đốn người quân tử,
Bộ ngọc khôn trông mặt lão thành.
Danh vọng thế mà lâm cảnh thế,
Quả trời chẳng muốn để tròn danh.(Khương Hữu Dụng dịch)
Rõ ràng cái chết vì nghĩa của người anh hùng đã ảnh hưởng sâu sắc đến cụ.
Làm quan
Năm 1874 vì có công dẹp giặc ở phủ Kinh Môn (Hải Dương) nên cụ được cử làm Bang biện phủ ấy. Năm 1876 cụ đậu Cử nhân, giữ chức tri phủ Từ Sơn (Bắc Ninh), làm quan thanh liêm, công minh, có tài cai trị. Năm 1879 cụ giữ chức Tán tương quân vụ giúp Hoàng Kế Viêm đánh giặc Tàu Ô cướp phá các vùng biên giới. Năm 1881, cụ lại giữ chức Hương Hóa sơn phòng chánh sứ kiêm Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây. Vì vậy đương thời thường gọi cụ là Tán Thuật hoặc Tán Đông (vì cụ ở tỉnh Đông). Gọi Hải Dương là tỉnh Đông do vị trínó nằm về phía Đông kinh thành Thăng Long.
Trong thời gian “giữa biên thùy rạch mũi Can Tương”, nhân cách của cụ được ghi nhận: lúc đất nước đang bị giày xéo dưới gót giày xâm lược của bọn “mắt xanh mũi lõ” cụ bất tuân mệnh lệnh của triều đình, mà hành động theo nhận thức của một trí thức. Năm 1882, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2, Tổng đốc Hoàng Diệu không bảo vệ được thành bởi nhiều lẽ, trong đó có lý do trước đó triều đình không chấp thuận cho ngài tăng cường phòng bị Hà Nội! Lúc đó, khâm phục tấm gương hy sinh oanh liệt của người anh hùng, Tán Thuật từ Sơn Tây cho rút quân về Đông Triều để bảo toàn lực lượng. Mặc cho triều đình buộc các lực lượng kháng chiến phải “án binh bất động”, nhưng tại đây, cụ vẫn chiêu mộ nghĩa quân cùng với Lưu Vĩnh Phúc.
Tạ Hiện, Cai Kinh (tức Hoàng Đình Kinh)… tiếp tục kháng chiến Pháp. Ngoài ra, cụ còn thường liên lạc với Đinh Gia Quế – lãnh tụ của nghĩa quân Bãi Sậy, phát triển lực lượng nghĩa quân ở vùng đồng bằng. Một đòn bất ngờ đối với giặc Pháp là ngày 12/11/1883, Nguyễn Thiện Thuật đã chỉ huy nghĩa quân tấn công tỉnh lî Hải Dương bao vây địch, nhưng lực lượng còn non yếu, cụ phải cho lui quân.
Cuối năm 1883, sau khi ký hiệp ước Harmand, triều đình lại tiếp tục nhượng bộ thực dân Pháp. Vua Tự Đức ra lệnh bãi binh ở Bắc Kỳ và đòi các quan lại phải về kinh đợi mệnh lệnh mới, nhưng Tán Thuật vẫn không tuân theo, cụ dẫn quân lên Hưng Hóa (Tuyên Quang) phối hợp cùng với Nguyễn Quang Bích giữ thành. Tháng 3/1884 thành Hưng Hóa thất thủ, một số tướng lĩnh nhận lệnh về kinh, nhưng cụ cùng với các tướng lĩnh khác vẫn cương quyết ở lại lấy máu rửa nhục non sông. Sau khi thành Lạng Sơn thất thủ vào tháng 3/1885, cụ trốn sang Long Châu (Trung Quốc) tiếp tục chuẩn bị lực lượng chiến đấu.
Khởi nghĩa Bãi Sậy
Sống trên đất khách quê người, tâm trí của Tán Thuật lúc nào cũng ngóng về Tổ quốc. Và điều kiện thích hợp đã đến, tháng 7/1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, nhận được tin này, cụ trở về nước thành lập căn cứ Bãi Sậy, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp, tiếp tục sự nghiệp của họ Đinh (lúc này Đinh Gia Quế đã mất). Vua Hàm Nghi phong cho cụ là “Bắc kỳ hiệp thống quân vụ đại thần gia chấn trung tướng quân”, nên nhân dân còn gọi cụ là quan Hiệp thống. Nghe tiếng tăm của cụ, các tướng lĩnh tài giỏi theo về rất đông và đồng lòng cử cụ làm tổng chỉ huy tối cao. Từ đây, các thủ lĩnh chống Pháp đang hoạt động manh mún, lẻ tẻ đã tự nguyện tập hợp dưới cờ nghĩa của cụ.
Đại bản doanh của cuộc kháng chiến dưới quyền chỉ huy của Tán Thuật đặt ở chiến khu Bãi Sậy – một vùng lau sậy thuộc các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên cũ. Từ đây, Tán Thuật lãnh đạo nghĩa quân dùng chiến thuật đánh du kích, lấy ít đánh nhiều, lúc ẩn lúc hiện, dàn binh phục kích…
Phát triển lực lượng
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến những trận đánh liên quan trực tiếp đến vai trò cầm quân của Tán Thuật.
Sau khi tổ chức lại đội ngũ, trận đánh đầu tiên của nghĩa quân là tấn công thành Hải Dương vào đêm 28 rạng ngày 29/9/1885 do Tán Thuật chỉ huy. Đánh hơi được sự trỗi dậy của lực lượng kháng chiến, quân Pháp canh phòng cẩn mật và chận đánh từ nhiều ngả đường nên nghĩa quân không thể tiến được vào sâu hơn. Tuy vậy, trong trận đụng độ quyết liệt này, quân Pháp đã bị giết khá nhiều, phải cầu cứu viện binh đến giải vây.
Vài ngày sau, nghĩa quân lại chuẩn bị mở cuộc tấn công khác. Khi phát hiện một lực lượng lớn tập trung ở Mao Điền – cách Hải Dương 15km về phía tây, quân Pháp tập trung binh lực cản phá trước. Do vậy nghĩa quân phải tạm thời hoãn lại kế hoạch, nhưng chỉ vài ngày sau lại ra quân. Lối đánh du kích tài tình, thoắt ẩn thoắt hiện đã đẩy giặc Pháp vào tình trạng mất ăn, mất ngủ. Vì thế, từ tháng 9 cho đến tháng 12/1885, trung tướng Négzierie phải huy động binh mã hùng hậu tấn công trực tiếp vào chiến khu Bãi Sậy, nhưng không thu một kết quả nào đáng kể. Trên các chiến tuyến dưới quyền chỉ huy của các thủ lĩnh, nghĩa quân đã chủ động bẻ gẫy các cuộc tấn công của đối phương. Đối đầu với lực lượng của Tán Thuật sau Négzierie, còn có thêm nhiều tướng lĩnh khác khác nhưng chúng đều thừa nhận đã thất bại cay đắng.
Không thể để cho quân “phiến loạn” ngày càng thắng thế, giặc Pháp đã áp dụng những thủ đoạn đê tiện nhất, con bài chính trị được chúng sử dụng đắc lực trong giai đoạn này là Tổng đốc Việt gian Hoàng Cao Khải. Y được vua bù nhìn Đồng Khánh và quan thầy Pháp giao đặc trách việc đàn áp khởi nghĩa Bãi Sậy. Để không phụ lòng khuyển mã, y lệnh tay sai tìm mồ mả bố mẹ của Tán Thuật quật lên trả thù, nhưng nhân dân tin yêu người anh hùng nên ra sức bảo vệ! Sĩ phu Hưng Yên có viết câu đối đập vào mặt Khải. Thoạt nghe qua ta thấy nhẹ như không, nhưng ngẫm lại từng câu chữ thâm thúy biết chừng nào: Ông ra Bắc là may, chức Đinh được tước Quận công, bốn bể không nhà mà nhất nhỉ! Ông về Tây cũng tiếc, trong triều đình, ngoài chính phủ, một lòng với nước có hai đâu?
Trong các vị thủ lĩnh ở chiến khu Bãi Sậy, ta phải kể đến vai trò của Lãnh Giang (tức Nguyễn Thiện Dương) – em ruột của Tán Thuật. Ngày 11/11/1888, ông chỉ huy một đội quân thiện chiến phục kích toán quân của trung sĩ Filippi trên đường từ Kẻ Sặt về đồn Ghềnh. Bị tấn công bất ngờ, giặc chết như rạ, phải chờ viện binh đến tiếp cứu. Trong lúc giao tranh chẳng may Lãnh Giang trúng đạn hy sinh. Cái chết của ông là một tổn thất lớn cho phong trào đang lúc lớn mạnh. Để trả thù cho người anh hùng, hơn 400 nghĩa quân đã thực hiện một kế hoạch táo bạo. Bấy giờ, nhằm tiêu diệt nguồn lương thực của đối phương, Hoàng Cao Khải và lãnh binh Ney – trưởng đồn Đường Hào – đã huy động dân phu đến cắt lúa, phá hoại hoa màu trên địa bàn kháng chiến. Nghĩa quân sau khi trà trộn vào đám dân phu này, đợi thời cơ thuận lợi bất ngờ nổ súng tấn công. Khải suýt bị bắt, còn tên lãnh binh Ney bị giết tại chỗ.
Trận đánh này càng tạo thêm thanh thế của nghĩa quân Bãi Sậy. Cùng lúc các thủ lĩnh khác cũng tạo nên nhiều trận đánh vang dội. Trong bài Vè Tán Thuật, nhân dân khen ngợi:
Một lòng theo ngọn cờ đào
Thề cùng bạch quỷ có tao không mày
Quân nghĩa dũng đêm ngày luyện tập
Sức hùng cường giao chiến càng hăng
Những phường mũi lõ tóc quăn
Một rằng thất đởm, hai rằng thất kinh
Mẹo thao lược tài tình lắm vẻ
Xuất quân như xuất quỷ nhập thần
Khi xa khi lại như gần
Khi chơi hóa thật, khi đông hóa đoài
Khi giả cách làm trai thợ gặt
Khi giấu mình giả bắt tôm cua
Lừa cho giặc phải sa cơ
Godar vũ dũng cũng thua sức này
Trận đại thắng cũng lầy huyện Khoái
Tướng Négzierie thất bại một phen
Giang sơn riêng dải Hưng Yên
Những mong đại cục chu tuyền bõ công…
Trước sự thắng thế này, lập tức, giặc Pháp tiến hành nhiều chiến dịch lớn nhằm đánh bật gốc căn cứ Bãi Sậy. Thời gian cao điểm là từ tháng 3 đến tháng 8/1889, do Hoàng Cao Khải và Lê Hoan đưa đường dẫn lối. Bọn chúng huy động hàng ngàn quân, trong đó có ba binh đoàn cơ động do Négzierie, Donnier và Godar chỉ huy. Những trận đánh bất phân thắng bại diễn ra suốt một thời gian dài.
Tan rã phong trào
Trước sự thắng thế này, lập tức, giặc Pháp tiến hành nhiều chiến dịch lớn nhằm đánh bật gốc căn cứ Bãi Sậy. Thời gian cao điểm là từ tháng 3 đến tháng 8/1889, do Hoàng Cao Khải và Lê Hoan đưa đường dẫn lối. Bọn chúng huy động hàng ngàn quân, trong đó có ba binh đoàn cơ động do Négzierie, Donnier và Godar chỉ huy. Những trận đánh bất phân thắng bại diễn ra suốt một thời gian dài. Cuối cùng, do không tương quan lực lượng và yếu thế về vũ khí nên nghĩa quân ngày một thất thế. Một số thủ lĩnh kháng chiến bị giết hoặc ra hàng nên căn cứ Bãi Sậy ngày một tan rã. Để không bị đẩy vào bước đường cùng, Tán Thuật giao quyền cho em ruột Nguyễn Thiện Kế (tức Hai Kế) và Đốc Tít (còn gọi Đốc Tích, tức Nguyễn Đức Mậu) tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu, còn cụ sang Trung Quốc cầu viện. Theo ghi chép điền dã của nhóm biên soạn Tổng tập văn học Việt Trái đạn cam của nghĩa quân Bãi Sậy, lúc cụ lên đường sang Trung Quốc thì Đốc Tít – thủ lĩnh của phong trào kháng chiến ở Hai Sông (thuộc huyện Kinh Môn- Hải Dương) và Thủy Nguyên (Hải Phòng) là người bí mật đưa tiễn cụ. Suốt quãng đời còn lại ở Trung Quốc, Tán Thuật nương nhờ tại nhà của chiến tướng Lưu Vĩnh Phúc, thường liên lạc với Tôn Thất Thuyết lúc này cũng đang sống lưu vong và một số đồng chí khác để bàn việc nước.
Trong khi đó, ở nhà dồn dập những báo đến tin không vui: ông Nguyễn Chi Tuyển – con trai trưởng của cụ bị giặc bắt và xử tử ở Bần Yên Nhân; con trai thứ Nguyễn Chi Thường bị giặc bắt đày ra Côn Đảo và chết ở đó. Nghe tin đau xót này, cụ chỉ nói:
Chết như thế xứng đáng là con của tôi.
Nói “cứng” như thế, chứ trong lòng cụ cũng ruột xót gan bào, khóc con bằng câu đối:
Đoạn đầu đài nọ, tiễn tướng trẻ về trời, xót thay muôn dặm tôi xa, khóc con cơn gió táp;
Uống máu hội này, cùng cụ Hoàng trong mộng, còn đó một người em ruột, giữ nước buổi gian nguy.(Bản dịch Hoàng Tạo)
Trong câu đối này, Tán Thuật nhắc “cụ Hoàng” tức Hoàng Hoa Thám đang dấy binh ở Yên Thế; “người em ruột” tức Nguyễn Thiện Kế (Hai Kế). Buồn việc nhà một, nhưng cụ buồn việc nước đến mười, bởi phong trào kháng chiến trong nước ngày càng bị đàn áp đẫm máu. Trước đây, cụ tin Trung Quốc có thể giúp được ít nhiều, nhưng cuối cùng cụ ngao ngán nhận ra “người Thanh sợ Pháp như sợ cọp”! Cùng trong một cảnh ngộ, nếu Tôn Thất Thuyết, ngày ngày ra bờ Tả giang cầm gươm chém đá cho hả giận, thì Tán Thuật tìm quên trong thuốc phiện. Sau này, chí sĩ Phan Bội Châu xuất dương, lúc đến Trung Quốc có đến Sa Hà (Quảng Châu) thăm cụ và lão tướng Lưu Vĩnh Phúc. Nghe thế hệ đi sau trình bày về kế hoạch cứu nước qua chương trình Duy tân hội và được đọc quyển Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu, cụ Tán Thuật cảm thấy như bầu nhiệt huyết của thời tuổi trẻ lại cuồn cuộn dậy sóng. Bỗng cụ đứng phắt dậy cầm lấy bàn đèn đập nát và từ đó trở về sau cụ không bao giờ hút nữa! Còn lão tướng Lưu Vĩnh Phúc, dù đã ngoài bảy mươi xuân nhưng dáng người vẫn còn quắt thước, khi nghe nhắc đến tội ác của giặc Pháp cũng đập bàn hét lớn:
Tả! Tả! Tả!
Thái độ đó đã khiến chí sĩ Phan Bội Châu cảm động ứa nước mắt và càng nung nấu quyết tâm tìm đường cứu nước.
Đánh giá
Trong khi đó, ở quê nhà, nghĩa quân còn lại ở Bãi Sậy dù không hùng mạnh như trước, nhưng lực lượng do Hai Kế và và Đốc Tít chỉ huy vẫn kiên cường chiến đấu mãi đến tháng 8.1892 mới kết thúc. Hai Kế hiệu Nễ Giang, còn gọi Huyện Nẻ, Huyện Móm, là anh rể của thi sĩ nổi tiếng Tản Đà, ngoài tài cầm quân còn có thêm tài làm thơ trào phúng nữa. Sau khi đậu cử nhân, ông được bổ làm tri phủ, nhưng do căm ghét và phản ứng thái độ hống hách, ăn đút lót của quan trên nên ông bị cách chức, dù vậy, về sau cũng được bổ làm huấn đạo Hoàn Long, tri phủ huyện Tùng Thiện (Sơn Tây). Ông đã làm khá nhiều thơ trào phúng, châm biếm rất sâu sắc. Với Việt gian Lê Hoan, người đã từng tham gia càn quét cuộc khởi nghĩa Yên Thế của anh hùng Đề Thám, ông có những vần thơ như tát vào mặt:
Tổng đốc miền Đông ngỡ đứa nào,
Lê Hoan thôi lại tụi Hoàng Cao…
Cậu hầu ngày trước, tay còn tráp,
Ông lớn bây giờ, ngực đã sao!
Rể, được thượng Trần thêm xứng đáng,
Giặc, nhờ Đề Thám có huân lao.
Tướng tinh nay đã quay đầu lại,
Đôi mắt trừng trừng ngược mũi đao!
Với bài thơ trên ta thấy, Hai Kế xếp Lê Hoan và Hoàng Cao Khải vào chung một rọ, dù ngực đeo bắc đẩu bội tinh nhưng y xuất thân chỉ là tên lính hầu cắp trắp, điếu đóm! Riêng câu cuối cho biết, không rõ Hoan bị bệnh gì mà lúc hấp hối cứ nằm ngửa mặt, mắt nhìn trừng trừng lên sàn nhà và mãi… sáu tháng sau mới chầu trời! “Ác giả ác báo” chăng? Hai Kế còn để lại tác phẩm Đại viên thập vịnh (10 bài vịnh 10 vị quan lớn), Tiểu viên tam thập vịnh (30 bài vịnh 30 vị quan nhỏ)… Ngoài ra ông còn viết bài Phú tài bàn rất phổ biến. Trong dòng thơ trào phúng cận đại Việt Nam, sau Tú Xương là Hai Kế.
Đội Văn – thủ lĩnh kiên cường của chiến khu Bãi Sậy Trong trận chiến đấu ngày 12/4/1892 tại Hà Bắc, nghĩa quân Bãi Sậy thiệt hại nặng. Hai Kế bị bắt ở chợ Sơn (Tiên Sơn – Bắc Ninh). Biết ông là người có tài, có uy tín với nghĩa quân, giặc Pháp dùng mọi thủ đoạn dụ ông cộng tác với chúng, nhưng ông khảng khái chống lại. Chúng đày ông ra Côn Đảo, mãi khi tuổi ngoài 70 xuân mới được tha về. Dù bị quản thúc, sống cảnh bần hàn nhưng ông rất khẳng khái, thường cởi trần, mặc quần lá tọa ngao du trong làng và làm thơ trào phúng. Bọn cai lệ rất kính nể, thường lân la nghe ông kể chuyện hào hùng của một thời đánh giặc. Riêng Phạm Văn Thụ, người cùng làng, làm quan triều Nguyễn, trọng khí phách và cũng vì tình riêng nên thường cho người đến biếu quà nhưng ông không nhận. Năm 1937, Hai Kế mất, thọ 88 tuổi. Rõ ràng, anh em cụ Tán Thuật đã sống trọn vẹn khí phách của một con dân mất nước. Khi đánh giá về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, hầu hết các nhà nghiên cứu sử học nước nhà đều ghi nhận đây là một trong những cuộc khởi nghĩa chống Pháp lớn nhất trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XX. Cụ Tán Thuật – linh hồn của cuộc khởi nghĩa mất ngày 25/5/1926. Phần mộ của cụ được đặt trên quả đồi thuộc hương Quan Kiều, ngoại vi thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Bia mộ khắc dòng chữ “Việt Nam Cố tướng quân Nguyễn Công Thiện Thuật chi mộ”. Năm 1990, Việt kiều ở Trung Quốc đã di chuyển phần mộ cụ về đồi Đại Lĩnh, phía nam thành phố Nam Ninh, cùng khu vực nghĩa trang của bộ đội, thương binh Việt Nam sang Trung Quốc điều trị và mất tại đây. Hiện nay, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và nhân dân Hưng Yên đã được đưa hài cốt của cụ về yên nghỉ thiên thu trong lòng đất Mẹ.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 5 – Danh nhân quân sự Việt Nam, Nxb Trẻ.