Nguyễn Trung Trực (1838 – 1863)

Nguyễn Trung Trực (1838 – 1863)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ. Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ. Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

Hình ảnh và khí phách nghĩa quân ngày đầu chống Pháp tại miền Nam hiện lên rất rõ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ Đồ Chiểu. Chỉ là những nông dân chân lấm tay bùn, chưa tập luyện việc binh, chưa quen trận mạc, nhưng khi giặc đến, họ đồng lòng tự giác đứng lên chiến đấu dũng cảm. Nào được trang bị “bao tấu” (bao đựng mã tấu), “bầu ngòi” (bầu chứa ngòi súng hỏa mai) và cũng chẳng cần “trống kỳ” (trống điểm từng đoạn thời gian), “trống giục” (tiếng trống thúc tiến quân)… họ vẫn hăng hái chiến đấu bằng lòng yêu nước và căm thù giặc “liều mình như chẳng có”.

Qua đoạn văn tế này, ta có thể nhìn thấy được hình ảnh của anh hùng Nguyễn Trung Trực trong hàng ngũ của những nghĩa quân vô danh. Ông không phải là vị tướng của triều đình, từng hưởng bổng lộc mà chỉ là người nông dân bình thường sống bằng nghề làm ruộng và chài lưới.

Thân thế

Sử nhà Nguyễn thời đó đã bỏ sót hoặc chỉ lướt qua tiểu sử của không ít anh hùng đã hoạt động kháng Pháp, nhất là sau Hiệp ước 1862, bởi họ đã chống lệnh bãi binh của triều đình khi tiếp tục dấy binh đánh giặc. Dù vậy, nếu chính sử đương thời không ghi lại tỉ mỉ, cụ thể thì công đức của họ vẫn được nhân dân, được hậu thế tìm tòi ghi lại.

Về năm sinh và nguyên quán của “người chài lưới” Nguyễn Trung Trực đã được làm rõ trong Hội thảo khoa học “Nguyễn Trung Trực, thân thế và sự nghiệp” do Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang tổ chức từ ngày 7 đến ngày 8/10/1988, nhân 120 năm ngày ông hy sinh.

Hội thảo này đã bước đầu khẳng định: Dòng họ Nguyễn Trung Trực đời thứ nhất ở Xóm Lưới, xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát (Bình Định), đời thứ hai vào lập nghiệp ở miền Nam. Nguyễn Trung Trực sinh khoảng năm 1835 đến 1838 tại Bình Nhựt, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xã Bình Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) trong một gia đình nông dân nghèo.

Về tên gọi, lúc ông mới sinh, gia đình gọi Nguyễn Văn Lịch hoặc Chơn; khi đánh giặc, ông mới lấy tên Nguyễn Trung Trực và được triều đình phong cho chức quyền Quản binh nên còn gọi Quản Lịch.

Bối cảnh lịch sử Nam Kỳ trước khi Nguyễn Trung Trực khởi nghĩa

Nguyễn Trung Trực đã trưởng thành trong giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử nhưng cũng đầy khí phách hào hùng: Ngày 25/2/1861 đại đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương trúng đạn trọng thương, quân triều đình rút về Biên Hòa; cuối tháng 3/1861, Pháp tấn công Định Tường, Trần Xuân Hòa bị giặc bắt đã cắn lưỡi tự vẫn, quân triều đình rút về Vĩnh Long… Sau khi thắng thế về quân sự, người Pháp tấn công về mặt văn hóa: ngày 21/9/1861 Phó thủy sư Đô đốc Charner ký nghị định mở trường Trung học Pháp – Việt đầu tiên ở Nam kỳ mang tên Trường Bá Đa Lộc nhằm đào tạo cán bộ văn hóa đầu tiên của thực dân Pháp; tờ Le Bulletin Officiel de l’Expédition de la Cochinchine (Công báo của cuộc viễn chinh xứ Nam kỳ) dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thống đốc Nam kỳ…

Nhằm chống lại sự bình định của người Pháp, nhân dân Nam kỳ dấy lên phong trào tình nguyện ứng nghĩa, góp gạo nuôi quân: Tháng 9/1861, Trương Định chiêu mộ nghĩa binh chống Pháp ở Gia Định; tháng 10/1861, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dũng sa vào tay giặc bị án chém; ngày 9/12/1861 Pháp đánh chiếm đảo Côn Lôn và qua năm sau chúng ra Nghị định thiết lập nhà tù Côn Đảo…

Tinh thần chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ

Lướt qua biên niên này, ta thấy công cuộc chiến gìn giữ từng tấc đất của Tổ quốc cam go biết chừng nào. Vận mệnh của dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc. Lòng dân thuở ấy ra sao? Họ căm thù giặc, quyết tâm chống giặc như trong bài văn tế của Cụ Đồ Chiểu đã phản ánh:

Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương; vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mua ngã gió. Sống làm chỉ theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Hai chiến công hiển hách của Nguyễn Trung Trực

Trong những ngày đen tối này, Nguyễn Trung Trực đã làm nên hai chiến công rực rỡ nhất, chói lọi nhất trong trang sử ngày đầu đánh Pháp tại Nam kỳ. Chiến công này ta có thể thấy được qua hai câu thơ hào sảng của nhân sĩ Huỳnh Mẫn Đạt (1807 – 1883):

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

Thái Bạch dịch:

Lửa bừng Nhật Tảo râm trời đất,
Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần.

Trận đốt tàu Espérance ở Nhật Tảo (10/12/1861)

Lúc bấy giờ, chiếc tàu vũ trang “Espérance” (Hy Vọng) do trung úy hải quân Parfait chỉ huy đang neo tại làng Nhật Tảo (Long An), nhằm khống chế các hướng hoạt động của nghĩa quân. Giặc Pháp tự hào đây là một “căn cứ nổi” lợi hại nhiều mặt: một pháo đài di động được bố phòng cẩn mật để tấn công và yểm trợ, một phương tiện thuận lợi trong việc điều động và vận chuyển binh lính, quân nhu; lại còn được sử dụng như một đơn vị “dưỡng quân” nữa. Do nó có thể thực hiện vai trò “chiếm đóng” và “bình định” như thế nên lực lượng nghĩa quân đề ra mục tiêu phải đánh phá chiến thuyền Espérance bằng mọi giá.

Nhìn thấy “con quái vật bằng sắt” ấy, lòng dân từng ngày căm hờn:

Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Nhưng làm thế nào để tiêu diệt nó?

Kế hoạch tập kích bằng đoàn ghe cưới

Địa hình trên sông Nhật Tảo thoáng đãng, không có cỏ cây lau sậy che khuất nên giặc dễ dàng phát hiện đối phương, dẫu từ xa. Nếu liều lĩnh dùng thuyền tiếp cận mục tiêu, chúng sẽ nhổ neo chạy ra xa, rồi dùng hỏa lực bắn trả lại, như thế ta sẽ gánh lấy thương vong. Vậy phải dùng mưu. Sau khi được các bô lão trong làng hiến kế, quyền Quản binh Nguyễn Trung Trực nhanh chóng triển khai kế hoạch. Ông giao cho phó quản binh Huỳnh Khắc Nhượng, Võ Văn Quang, quản toán Nguyễn Học, lương thần Hồ Quang Chiêu chuẩn bị một đoàn quân cảm tử, võ nghệ tinh nhuệ, bơi lội giỏi, trang bị đầy đủ mã tấu, gươm đao và những chiến thuyền chứa đầy chất phóng hỏa để sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Sáng ngày 10/12/1861, từ tàu Espérance, giặc Pháp đã phát hiện trên dòng sông có nhiều đoàn ghe cưới. Trên chiếc ghe đi đầu có người đàn ông mặc áo rộng, đầu bịt khăn đen, đứng bên cạnh là người phụ nữ xinh đẹp, mặc áo dài, đội nón. Ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy chú rể khăn đóng áo dài chính là Nguyễn Trung Trực. Đoàn ghe lướt sóng đi về phía chiến tàu Espérance. Tiếng trống, tiếng hát của gần trăm con người làm náo động cả một khúc sông. Giặc Pháp thích thú quan sát lễ rước dâu trong đám cưới của người dân bản xứ mà trước đây chúng chưa từng thấy. Chẳng mấy chốc, đoàn ghe cưới cập sát be tàu của chúng và dừng lại. Một vị bô lão trịnh trọng đứng dưới ghe nói vọng điều gì đó. Dù vậy, chúng cũng hiểu là họ nghiêm trình việc cưới và ra dấu muốn dâng cho chúng một ít lễ mọn. Thấy thế, bọn lính Pháp thòng thang dây xuống để những người đại diện đám cưới leo lên thuyền. Tất nhiên chú rể Nguyễn Trung Trực và những nghĩa quân thiện chiến đã không bỏ qua cơ hội này.

Lên được tàu Espérance, sau những lời xã giao, chú rể giả vờ khúm núm trước mặt bọn lính Pháp. Bỗng tên chỉ huy phó kêu rú lên, y loạng choạng ngã xuống bong tàu. Máu tuôn xối xả. Đó là lúc lưỡi dao bén giấu trong tay áo thụng của chú rể đâm thẳng vào ngực y! Lập tức một trận đánh giáp lá cà do các cảm tử quân đã giành thế chủ động tấn công trước. Các nghĩa quân từ dưới ghe cũng nhanh chóng leo lên tàu hỗ trợ. Người dùng búa sắt phá tàu, kẻ đâm ngang chém dọc. Bị đánh bất ngờ, bọn giặc Pháp không thể trở tay kịp, bỏ mạng khá nhiều. Trong lúc này, các ghe thuyền chứa đầy rơm, thuốc nổ của nghĩa quân cũng đã áp sát “con quái vật khổng lồ”. Khi các nghĩa quân nhảy xuống sông tìm cách thoát thân thì các thuyền ghe này cũng phóng hỏa. Cả một khối lửa khổng lồ bủa vây tàu chiến Espérance và đốt cháy nó trong nháy mắt.

Lửa sáng rực trên dòng sông Nhật Tảo.

Chiến công hiển hách này đã làm rúng động hàng ngũ quân viễn chinh. Chúng không thể ngờ trước một trận đánh quả cảm, đầy mưu trí lại diễn ra như thế. Riêng tên trung úy chỉ huy Parfait thoát chết, vì y đi công tác. Để trả thù, y ra lệnh đốt cháy cả thôn Nhật Tảo. Về phía ta, vua Tự Đức rất hả hê trước chiến thắng này, đã thưởng tiền cho nghĩa quân rất hậu, 4 người bị chết trận được cấp tiền tuất gấp hai, chẩn cấp cho những nhà bị giặc đốt cháy… Có thể nói, trận Nhật Tảo đã mở đầu cho một loạt trận đánh các tàu tuần tiễu khác trên trên vàm sông ở Nam kỳ.

Nhận chức Quản cơ và tiếp tục kháng chiến

Sau khi triều đình ký Hòa ước năm 1862, Nguyễn Trung Trực được lệnh ra Huế nhận chức Quản cơ. Mặc dầu Hòa ước đã ký, nhưng ông vẫn phối hợp với các lực lượng kháng chiến tổ chức nhiều trận đánh vang dội khác ở Tân An, Gò Công, Cần Giuộc… Những cuộc dấy binh lan rộng khắp Nam kỳ đã khiến giặc Pháp không hài lòng, chúng buộc triều đình nhà Nguyễn có thái độ dứt khoát, phải nghiêm chỉnh chấp hành Hòa ước đã ký. Chính vì thế, vua Tự Đức hạ lệnh bãi binh. Vậy những thủ lĩnh đã có công đánh ngoại xâm thì triều đình xử sự như thế nào cho hợp lý? Ta biết, Trương Định được phong làm Lãnh binh An Giang hoặc Nguyễn Trung Trực được phái về Hà Tiên giữ chức Thành thái úy, tức quan giữ thành v.v… là cũng không ngoài mục đích để họ thôi hoạt động trong vùng địch tạm chiếm.

Nhưng khi Nguyễn Trung Trực đến nhận chức này thì Hà Tiên không còn là đất của triều đình nữa. Số là ngày 20/6/1867, giặc Pháp đã đánh chiếm thành Vĩnh Long, hai ngày sau, chúng đánh chiếm Châu Đốc, tỉnh thành tỉnh An Giang và bốn ngày sau chúng đánh chiếm luôn tỉnh thành Hà Tiên mà không tốn một viên đạn, không gặp sự kháng cự đáng kể nào. Như thế, toàn bộ 6 tỉnh Nam kỳ trở thành lãnh địa của Pháp. Rõ ràng, triều đình Huế lúc bấy đã không nhìn thấy dã tâm của kẻ ngoại xâm muốn nuốt gọn nước ta bằng mọi giá. Bởi trong thâm tâm, vua tôi nhà Nguyễn vẫn ảo tưởng sẽ giành lại được đất đã mất bằng con đường ngoại giao, thương lượng, bồi thường chiến phí…. Do ảo tưởng như thế nên nhà vua mới xuống lệnh bãi binh và chính thái độ ươn hèn này đã giúp cho giặc Pháp thực hiện âm mưu nhanh chóng hơn.

Khởi nghĩa Kiên Giang

Trước tình thế oái oăm này, Nguyễn Trung Trực cho rút quân về Hòn Chông, cách Hà Tiên chừng 15km, xây dựng căn cứ kháng chiến để đợi thời cơ. Tại đây, ông đã liên hệ mật thiết với các lãnh tụ nghĩa quân địa phương và vận động nhân dân, kể cả người Hoa, người Khmer cùng tham gia đánh giặc cứu nước. Địa bàn hoạt động do ông chỉ huy ngày càng mở rộng từ Cà Mau đến Hà Tiên, Phú Quốc và lấn sang vùng Núi Sập (An Giang)… Khi lực lượng đã vững mạnh, Nguyễn Trung Trực quyết tâm đánh chiếm đồn Kiên Giang do tên đại úy Sauterne chỉ huy.

Về vị trí quân sự, ông nhận định Rạch Giá thuộc địa hình rừng rậm, biển bao bọc nếu bị đánh, giặc sẽ không có nhiều đường chạy thoát và cũng như đường tiếp viện. Nếu chúng liều lĩnh tiếp viện bằng đường kinh đào từ núi Sập thì hai bên lại rậm rạp, thuận lợi cho việc bố trílực lượng phục kích. Với suy nghĩ như thế, ông đã lập nên chiến công “Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần”, hiển hách không kém gì trận đốt tàu Espérance đã diễn ra. Sau này, ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Kiên Giang đánh giá: “Đây là cuộc khỏi nghĩa lớn nhất ở Nam bộ ngay sau Nam kỳ lục tỉnh bị giặc chiếm cho tới cuộc khởi nghĩa Nam kỳ 1940, nó có tiếng vang rất lớn lúc bấy giờ và mãi về sau này”.

Theo truyền thuyết dân gian, khi các tướng lĩnh muốn tấn công sớm hơn, nhưng Nguyễn Trung Trực vẫn chưa đồng ý, vì thế cô Ba Đỏ và nhiều người khác nói khích là ông không có… trứng dái! Cách nói này có thể ta thấy buồn cười, nhưng đó là lời ăn tiếng nói bình dị của dân gian, chứ không thô tục. Ý họ nói ông là đàn bà, nhút nhát. Nhưng không, chi tiết này cho ta thấy ông là người trầm tĩnh, quyết đoán và không phiêu lưu trong dụng binh. Vì lúc ấy, ông thấy thời cơ và việc luyện tập chưa chu đáo nên không thể khỏi sự sớm hơn. Hơn nữa “biết người biết ta trăm trận trăm thắng” là điều không thể khinh suất.

Trước khi hành động, ông đã cho người tìm hiểu cách bày binh bố trí của giặc trong đồn Săn Đá. Vào một chiều nọ, nhạt nắng, những tên lính viễn chinh chợt sửng sốt khi thấy một người thiếu nữ Việt lai Khmer rất duyên dáng xuất hiện trước đồn. Nàng tên Thi Ba Do, nhưng mọi người thường gọi cô Ba Đỏ. Nàng bán hàng rong và có giọng rao rất ngọt ngào, truyền cảm. Dù không hiểu lắm, nhưng âm điệu ngân nga của tiếng rao ấy cũng khiến chúng mê đắm. Nhờ vậy, nàng có điều kiện tiếp cận với chúng và quan sát cách bố trí trong đồn. Những thông tin ghi nhận được, nàng đều báo cáo ban chỉ huy nghĩa quân. Hơn nữa nàng còn giác ngộ được nhiều người lính Việt đang làm tay sai cho giặc, trong đó có Quản Cầu. Công việc đang diễn ra tốt đẹp, có tên Lượm vì tham sống sợ chết đã ra đầu hàng giặc và cho biết nghĩa quân chuẩn bị tấn công Rạch Giá. Lập tức, nàng bị bắt cùng với các một vài người khác, nhưng chúng vẫn chủ quan, cho rằng đối phương không dám manh động trong thời gian này.

Không thể chần chừ, đêm 16/6/1868 Nguyễn Trung Trực quyết định khỏi binh. Nghĩa quân được tổ chức thành hai mũi tiến công, từ Hòn Chông tiến theo đường biển và từ Tà Niên tiến ra theo đường bộ. Dưới quyền chỉ huy tài tình của ông, lúc 4 giờ sáng trời còn tối như mực, nghĩa quân bí mật đột nhập vào đồn. Ngay tại chòi canh, hai tên lính đang ngủ gà ngủ gật đã bị giết trước tiên. Ngay lập tức họ lao vào đồn dù chỉ được trang bị gươm giáo, cùng lúc lính khố đỏ nội ứng cũng phối hợp nhịp nhàng. Bị tấn công bất ngờ, quân Pháp cũng cầm cự chống trả quyết liệt, nhưng bị vây sát quá khiến chúng không thể phát huy được hỏa lực, phải rút chạy ra phía Rạch Giồng. Lường trước tình huống này nên nghĩa quân tổ chức mai phục tại đây và giết chết không còn một mống! Nghĩa quân đốt cháy đồn cùng dinh tỉnh trưởng và hoàn toàn làm chủ tỉnh thành Rạch Giá. Trong trận đánh này, tên đồn trưởng, 5 sĩ quan cùng 67 binh lính phải đền tội. Ngay cả tên tỉnh trưởng “Chánh Phèn” – nhân dân gọi như thế vì y có bộ râu vàng hoe như lông chó phèn – ngủ trong đồn cũng chung số phận.

Sáng hôm sau, hay tin nghĩa quân thắng trận, Huyện Hiến và tất cả hương chức làng sở tại đều đến trình diện. Nguyễn Trung Trực khoan hồng cho họ và kêu gọi phải giúp đỡ lương thực cho nghĩa quân. Biết kẻ thù sẽ đem viện binh phản công, ông động viên nhân dân địa phương đắp hai đập ngăn sông tại Tà Kên và Núi Sập, nhằm khống chế con đường độc đạo mà chúng sẽ hành quân. Đúng như dự đoán, hai ngày sau, ngày 18/6 toàn bộ lực lượng quân Pháp đang đóng quân ở Vĩnh Long được điều động đến Rạch Giá. Cùng đi với tên chỉ huy trung tá Ansart còn có những tên Việt gian khét tiếng như Tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương), Đội Tấn (Huỳnh Tấn), Phủ Lộc (Trần Bá Lộc). Những con chó săn đưa đường dẫn lối cho đại binh hùng hổ tiến công, nhưng dọc đường hành quân, chúng đã bị nghĩa quân phục kích đánh nhiều trận dữ dội. Vì thế, mãi đến chiều ngày 21/6 chúng mới đặt chân đến chợ Rạch Giá. Nghĩa quân dũng cảm đối đầu, nhưng cũng không thể cầm cự lâu dài trước hỏa lực và lực lượng hùng hậu hơn gấp nhiều lần. Trong lúc nguy khốn này, phó tướng Lâm Văn Ky tình nguyện cầm cự với giặc để Nguyễn Trung Trực dẫn quân rút lui theo đường biển về Hòn Chông.

Bị bắt và hy sinh

Để dập tắt ngọn lửa kháng chiến, tên quan tư Bouchet Rivière chỉ huy chiến thuyền Goenland đến Phú Quốc kBị bắt và hy sinhhảo sát tình hình, rồi trở vào giao tên chó săn Huỳnh Tấn chỉ huy 125 tên lính “mã tà” đến từ Gò Công đổ bộ lên đảo. Tấn trước đây từng hoạt động dưới trướng của Lãnh binh Trương Định, sau phản bội dẫn giặc vào chiến khu “Đám lá tối trời” để bắt người anh hùng này thì bây giờ y lại tiếp tục đi vây bắt Nguyễn Trung Trực. Do thông thuộc địa hình địa vật và có hỏa lực hùng hậu nên y đã thắng thế. Khi nghĩa quân rút lên núi cố thủ, mọi đường tiếp tế lương thực, vũ khí đều bị y khống chế hoàn toàn. Không lẽ phải chết dần chết mòn ư? Nghĩ thế, Nguyễn Trung Trực tập hợp lực lượng lại và bảo:

Giặc Pháp căm thù tôi và muốn bắt tôi, chi bằng tôi ra hàng để anh em được bình yên trở về.

Ai nấy nắm áo ông và khóc ròng:

Úy không nên làm như vậy. Chúng tôi thể cùng sống cùng chết với Úy.

Ông vẫn cương quyết:

Giặc không giết được ta, nhưng lương thực đã cạn rồi thì ta cũng chết nơi xó rừng này thôi. Chết như thế có ích gì? Giặc bắt được tôi thì mừng lắm, chắc chúng không làm hại đến anh em. Nếu thương tôi, anh em cố gắng sống mà lo rèn binh luyện kiếm để tiếp tục báo quốc.

Sau đó, Nguyễn Trung Trực viết lá thư cho Tấn, đại ý, nếu người Pháp không giết hại các nghĩa quân thì ông sẽ tự mình ra nộp mạng. Tấn mừng rú như nhận được vàng. Y đồng ý. Bắt được người anh hùng mới ngoài 30 xuân, Tấn cùng tên quan tư Bouchet Rivière vội vã ông đưa xuống tàu vào Rạch Giá để đi Sài Gòn. Trong lúc tàu chạy, Tấn mặt dày mày dạn đã trơ trẻn khuyên Nguyễn Trung Trực nên hợp tác với người Pháp, không chỉ an toàn tính mạng mà còn được hưởng vinh hoa phú quý. Nhổ toẹt một bãi nước bọt khinh bỉ, ông đáp khí khái:

Tôi chỉ muốn có một chức thôi, ông có giúp cho tôi được không?

Tấn khấp khởi mừng thầm và lắng tai nghe. Ông gằn giọng:

Đó là được giao một chức gì mà tôi có quyền chém đầu hết lũ giặc Tây!

Thoạt nghe thế, Tấn hoảng sợ co rúm người lại. Giây lát sau, y thét lên như thú hoang trúng đạn:

Thân phận như chim trong lồng, cá trong chậu mà còn dám nói chuyện đánh Tây được sao?

Ông nhếch mép:

Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì nước Nam mới hết người đánh Tây!

Câu nói nổi tiếng này là khí phách, là tâm thế của một người anh hùng “ngoài cật chỉ một manh áo vải” và cũng phản ánh quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm của cả một dân tộc bất khuất, không chịu cúi đầu nô lệ.

Từ đó cho đến lúc về đến Sài Gòn, Nguyễn Trung Trực không há miệng trả lời bất cứ câu hỏi nào của Tấn nữa. Đến khám lớn Sài Gòn, chúng tiến hành thẩm vấn, qua bản hỏi cung do Piquet ghi lại, ta thấy ông trả lời rành mạch và có nguyện vọng được chết ngay mặc dù lúc đó Tấn xin ân xá cho ông. Không phải Tấn thương yêu gì ông mà y chỉ muốn lập công thêm một lần nữa, đã chiêu dụ được một anh hùng kháng chiến cộng tác với “tân trào” để sau đó, cũng cầm quân đàn áp phong trào kháng chiến giống như thân phận chó săn của y. Việc làm của Tấn tất nhiên được sự gợi ý của Đô đốc Nam kỳ Ohier, nhưng người anh hùng không đội trời chung với giặc đã từ chối “đặc ân” này.

Không thể lay chuyển được ý chí sắt đá của một con người bền chí lấy máu rửa nhục non sông, giặc Pháp quyết định giết Nguyễn Trung Trực. Để uy hiếp tinh thần của nhân dân, từ Sài Gòn chúng đưa ông về Kiên Giang. Ngày 27/10/1868, từ tòa bố (nay UBNB tỉnh) ông bị dẫn đến pháp trường. Nghe tin, hàng ngàn người dân đã đến vĩnh biệt ông. Theo truyền thuyết, cảm động nhất là bà con từ Tà Niên – nơi nổi tiếng về nghề dệt chiếu – đã mang tới những chiếc chiếu hoa cạp điều trải suốt đoạn đường mà ông bước ra pháp trường để trở thành người thiên cổ. Điều thú vị là lúc bị xử chém, ông đã quỳ trên chiếc chiếu có hình chữ “thọ” đỏ rực như son.

Uy thế lừng lẫy của ông đã khiến không một đao phủ nào dám vung đao. Tất cả đều thoái thác nhiệm vụ. Cuối cùng giặc Pháp cùng bọn Việt gian bắt tên đao phủ Bòn Tưa phải chém ông. Trước lúc thi hành nhiệm vụ, để thêm can đảm tên này đã phải nốc rượu say mèm, nhưng khi bước đến trước mặt ông bỗng hắn run lập cập, mặt mày tái mét không còn một giọt máu. Hắn quỳ xuống, xá ông ba xá xin tha tội và hỏi ông có nguyện vọng gì? Nguyễn Trung Trực chỉ xin uống trái dừa tươi, uống xong ông ung dung đọc bài thơ tuyệt mạng bằng chữ Hán:

Theo việc binh nhung thuở trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm dài.
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù hận chan chan chẳng đội trời.

(Đông Hồ dịch)

Có lẽ đây là thơ của người đời sau ca ngợi cái chết oanh liệt của ông, chứ chưa hẳn ông đã đọc thơ trước khi mất. Nhưng, nhân dân vì ngưỡng mộ và khâm phục tinh thần bất khuất của ông nên đã lưu truyền một cái chết hào hùng như thế. Cũng theo truyền thuyết dân gian, khi đầu lìa ra khỏi cổ, ông đã đưa hai tay nâng lấy đầu mình để không rơi xuống đất, đặt lại trên cổ rồi cả thân và đầu mới ngã gục xuống nền đất. Ai nấy đều kinh hoàng và cảm phục. Kỳ lạ thay, lúc ấy hai tròng mắt vẫn sáng quắt, không chỉ đao phủ Bòn Tưa mà những tên lính Pháp khi nhìn thấy cũng đều kêu lên thất thanh rồi hộc máu chết tươi! Câu chuyện này nghe hoang đường, nhưng ngụ ý của dân gian là muốn ca ngợi người yêu nước dầu chết đi, nhưng tinh thần bất khuất còn sống mãi, vẫn quật ngã kẻ thù. Nhân dân Kiên Giang đã thành kính gọi Nguyễn Trung Trực là ông Soái – tướng Soái, Úy (từ chức danh Thành thủ úy Hà Tiên do triều đình phong), ông Nguyễn, cụ Nguyễn… và kiêng gọi tên thật. Nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt đã khóc thống thiết:

Thắng bại chi bàn việc tướng quân,
Người chài trụ đá khúc gian truân.
Lửa bừng Nhật Tảo râm trời đất,
Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần.
Một sớm nhẹ mình nêu tiết nghĩa,
Đôi dường trọn chữ báo quân thân.
Anh hùng cứng cổ danh thơm mãi,
Lũ chết khom lưng chết thẹn dần.

(Thái Bạch dịch)

Mảnh đất mà Nguyễn Trung Trực thọ án thuở ấy đối diện “chợ nhà lồng” Rạch Giá, lúc bấy giờ còn cây da cổ thụ, chỉ mới bị đốn năm 1947. Trên miếng đất thấm máu vị anh hùng, sau đó người Pháp xây lên Nhà Giây Thép, về sau là Ty Bưu Điện tỉnh lị.

Bất chấp sự cấm đoán của kẻ thù nhân dân đã lập đền thờ Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang, Phú Quốc và tại quê hương ông. Ngày ấy, ngay sau khi ông bị địch hành hình, nhân dân làng Vĩnh Thanh Vân đã góp của cái và công sức dựng nên ngôi đình thờ cách vàm biển Rạch Giá vài trăm mét, cạnh đền có cây đa cổ thụ, quanh năm tỏa bóng mát. Mái lợp ngói âm dương, cột bằng gỗ, vì sợ giặc Pháp phát hiện nên trong đình không có bài vị ghi tên thật của ông và người dân chỉ thẩm bảo nhau “đình ông Nguyễn”, trước cổng ngụy trang bằng tấm bảng ghi “Đình Nam Hải đại tướng quân” tức Đình thờ cá Ông. Đến năm 1964, nhân dân Rạch Giá khởi công xây dựng lại ngôi đình này và khánh thành vào ngày 24/12/1970. Trước cổng đình, có đắp nổi hai câu liễn trích từ bài thơ của Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi chiến công hiến hách của Nguyễn Trung Trực:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

Ngày nay, hằng năm đến ngày 28/8 (Âm lịch) nhân dân tổ chức lễ hội lớn trong ba ngày để tưởng nhớ ông, là nhu cầu tâm linh của đồng bào các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Ngoài ngôi đình này ở trung tâm thị xã, còn có một ngôi đình cũng thờ Nguyễn Trung Trực ở Tà Niên, lễ hội được tổ chức vào những ngày 16, 17 tháng giêng (âm lịch).

Năm 2000, tỉnh Kiên Giang đã xây dựng công viên mang tên Nguyễn Trung Trực với khoảng 2,7 tỉ đồng. Công viên này nằm trên nền “chợ nhà lồng” cũ có diện tích 3.500 mét vuông, thuộc phường Vĩnh Thanh Vân, thị xã Rạch Giá (Kiên Giang) với nhiều hạng mục chính: sân hành lễ, đường đi bộ, đài phun nước, tháp chuông và một công viên phụ chạy dọc theo bờ kè sông Bạch Đằng. Tinh thần yêu nước của Nguyễn Trung Trực sống mãi cùng sự trường tồn của non sông gấm vóc.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 5 – Danh nhân quân sự Việt Nam, Nxb Trẻ.

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Trung Trực

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)