Nguyễn Văn Hiệu (1938 – 2022)

Nguyễn Văn Hiệu (1938 – 2022)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Chiến thắng vang dội của bộ đội trong chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947 đã hình thành trên chiến trường hai vùng rõ rệt, xen kẽ nhau: vùng tự do và vùng bị giặc chiếm đóng. Nhiều gia đình ở phía Bắc gồng gánh chạy tản cư vào Thanh Hóa. Trên con đường chạy giặc Pháp xa thăm thẳm có Nguyễn Văn Hiệu. Ông sinh ngày 21/7/1938 tại thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây, trong một gia đình có truyền thống yêu nước.

Tuổi thơ và con đường học tập

Vào đến vùng tự do – quê hương của Bà Triệu – vì nhà nghèo nên ông phải nghỉ học và xin đi làm công ở xưởng dệt. Mới mười tuổi mà đã nghỉ học thì tiếc biết bao nhiêu! Đêm đêm những dân làng và bộ đội cùng nhau sinh hoạt tập thể, đâu đó cất lên tiếng hò trong trẻo:

Trai mỹ miều gắng công đèn sách
Gái thanh tân chăm mạch cửi canh
Trai thì chiếm bảng đề danh
Gái thì dệt cửi vừa lanh vừa tài

Rồi những lớp bình dân học vụ vang lên những tiếng i, tờ dù còn ngọng nghịu nhưng đằm thắm đáng yêu biết chừng nào. Dù không được đi học như bao người khác, nhưng bấy giờ cậu bé Hiệu ham học lắm, nên cũng mày mò tự học bằng cách mượn sách vở của bạn bè cùng trang lứa. Học đến đâu cậu nhớ vanh vách đến đó.

Có lần đang học bài thì ông chủ xưởng dệt sai ra chợ ở thị trấn Hậu Hiền thuê đóng chiếc bàn kê máy dệt. Đúng ngày hẹn, cậu ra thị trấn để vác bàn về. Cái bàn lớn, nặng thì làm sao cậu bé mười tuổi có thể vác nổi? Đang loay hoay mệt nhọc với mồ hôi nhễ nhại, cậu chợt nảy ra sáng kiến đưa chiếc bàn xuống dòng sông. Lợi dụng sức đẩy của lực nước để kéo xuôi chiếc bàn về nhà. Công việc nặng nhọc ấy đã kết thúc nhẹ nhàng và nhanh chóng. Đã thế, lúc bì bõm dưới dòng sông, cậu còn có thể lẩm nhẩm ôn lại bài vở.

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc kháng chiến chín năm. Cậu bé thợ dệt ngày xưa hào hứng lên Hà Nội, nộp đơn thi vào ngành vật lý của trường Đại học Sư phạm. Cậu thi đậu và sau đó lại tốt nghiệp hạng nhì nên khi ra trường được giữ lại để dạy khoa vật lý ở trường Đại học Tổng hợp. Những năm tháng nghiên cứu khoa học của Nguyễn Văn Hiệu bắt đầu từ lúc này. Năm đó ông tròn 18 tuổi.

Những năm nghiên cứu tại Liên Xô

Tháng 9/1960 ông được cử sang Liên Xô du học tại Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Đupna. Ròng rã ba năm, lĩnh vực nghiên cứu của ông là “Lý thuyết tương tác yếu của các hạt cơ bản”. Đây là vấn đề thời sự lúc bấy giờ, sau phát minh nổi tiếng của hai nhà khoa học Trung Quốc được giải thưởng Nobel 1957 là Tsung-Dao-Lee và Chen-Ning-Yang về “Sự không bảo toàn tính chẵn lẻ trong tương tác yếu”. Nhưng trước hết ta thử tìm hiểu khái niệm về “tương tác” là gì? Theo Tìm hiểu thế giới nguyên tử (NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1984) của giáo sư Nguyễn Ngọc Giao:

Là một “cái gì” làm cho trạng thái của hệ vật lý (vi mô) đang tồn tại ở một thời điểm nào đó biến thành trạng thái khác ở thời điểm tiếp theo. Là sự mở rộng của khái niệm “lực” hay “thế năng” trong vật lý cổ điển. Có tất cả bốn loại tương tác: tương tác mạnh, tương tác điện tử, tương tác yếu và tương tác hấp dẫn

Để làm được công trình mà mình đang theo đuổi, Nguyễn Văn Hiệu phải đọc rất nhiều sách và hầu hết thời gian của ông đã trôi qua trong sự tĩnh lặng của thư viện và sự nghiêm khắc của phòng nghiên cứu. Thật đáng ngạc nhiên, chỉ trong vòng vài năm mà ông đã có nhiều công trình giá trị trong lĩnh vực này, cho đến nay nhiều công trình vẫn còn được mọi người trích dẫn và sử dụng.

Các công trình nghiên cứu về vật lý hạt nhân

Nhiều lúc, ông đã đùa với các đồng nghiệp:

Trái tim tôi thuộc về tương tác yếu

đã khiến mọi người cười xòa! Dù bận rộn với công trình nhưng lúc nào ông cũng nở nụ cười đôn hậu và sẵn sàng giúp đỡ các đồng nghiệp của mình. Thế nhưng, Nguyễn Văn Hiệu không dừng lại ở đó, ông đã bắt tay vào phương hướng nghiên cứu mới: “Các tính chất của các biên độ tán xạ các hạt năng lượng cao”. Trong lĩnh vực này, ông đã chứng minh được các hệ tiếp cận của các biên độ tán xạ. Theo giải thích của ông: “tán xạ là một loại “va chạm” giữa các hạt vi mô. Nếu sau khi “va chạm” mà ta có lại các hạt cũ tất nhiên với năng lượng, xung lượng từng hạt khác đi – thì đó là tán xạ đàn tính, còn nếu như sau khi “va chạm” ta thu được những hạt mới thì đó là tán xạ không đàn tính” (tr. 196). Kết quả nghiên cứu của ông đã gây ra được tiếng vang rộng lớn đến nỗi những viện sĩ uyên bác và nổi tiếng như Bogolubov, Logunov đã mời ông cùng cộng tác luôn với nhóm Markov chung với họ.

Và như vậy là chỉ sau một năm bảo vệ luận án phó tiến sĩ, ông đã hoàn thành và bảo vệ luận án tiến sĩ. Lúc đó là tháng 5 năm 1964, ông chỉ mới 26 tuổi, giáo sư Đào Vọng Đức có nhận xét về ông:

Luôn luôn tìm tòi những cái mới, luôn luôn muốn giải quyết những vấn đề hiện tại, phức tạp nhưng rất hấp dẫn của vật lý, lý thuyết là những điểm nổi bật của anh Nguyễn Văn Hiệu.

Còn viện sĩ Markov cho rằng:

Đôi khi trong cuộc đời có người gặp may do tìm thấy một ý tưởng thiên tài dẫn đến những kết quả quan trọng, giống như tìm thấy mỏ vàng. Nhưng Nguyễn Văn Hiệu là một trường hợp khác. Như người ta thường nói, anh không ngồi đợi khoa học “bố thí” cho mình. Anh đã đạt những kết quả làm cho mọi người ngạc nhiên bằng cách lao động thật nhiều, bằng một năng lực rất lớn.

Phát minh quy luật mới trong vật lý hạt nhân

Thật vậy, sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, Nguyễn Văn Hiệu lại bắt tay vào công việc hoàn toàn mới và thả trí tưởng tượng uyên bác của mình đi về phía chân trời của khoa học: “Lý thuyết đối xứng của các hạt cơ bản”. Bằng những kết quả thu thập được, ông đã biên soạn thành quyển sách có tựa như trên. Sách xuất bản ở Liên Xô và được phổ biến rộng rãi nhiều nước trên thế giới. Đến năm 1967, ông lại hướng sự nghiên cứu vào một lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt của vật lý hạt nhân năng lượng cao: quy luật có tính chất đối xứng của các quá trình bắn phá mà kết quả là sự sinh ra rất nhiều hạt có tính đối xứng. Trong lĩnh vực này có sự cộng tác chặt chẽ của viện sĩ Logunov. Và ông gặt hái được thành công rực rỡ: phát minh một quy luật mới của vật lý hạt nhân năng lượng cao. Đó là “Quy luật bất biến kích thước của tiết diện các quá trình sinh hạt”. Rồi mười bốn năm sau, tháng chạp năm 1981 với công trình nghiên cứu này Nguyễn Văn Hiệu cùng viện sĩ Logunov được Ủy ban Nhà nước của Liên Xô về sáng chế và phát minh cấp bằng phát minh.

Những đóng góp cho khoa học Việt Nam

Mặc dù lao vào nghiên cứu nhưng tình hình chiến sự trong nước cũng là mối quan tâm của Nguyễn Văn Hiệu. Năm 1969 khi giặc Mỹ thất bại trong “chiến tranh phá hoại” thì tổng thống Mỹ Richard M.Nixon tuyên bố tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược bằng “Học thuyết Nixon”. Đó là năm mà Nguyễn Văn Hiệu trở về nước. Chao ôi! Mới đó mà đã 15 năm trôi qua – kể từ ngày chàng thanh niên hiếu học từ Thanh Hóa lên Hà Nội nộp đơn thi vào ngành vật lý tại trường Đại học Sư phạm.

Trở về nước, ông nhận nhiệm vụ Viện trưởng Viện Vật lý. Đây là công tác mà ông có nhiều đóng góp trong việc đào tạo nhiều thế hệ nghiên cứu khoa học và bản thân ông vẫn tiếp tục những công trình mà mình đang đeo đuổi. Tháng 10/1982 trong phiên họp toàn thể của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô – chủ tịch đoàn là những viện sĩ nổi tiếng như Markov, Bogoluba, Nogunov – tiến sĩ Nguyễn Văn Hiệu đã được bầu làm viện sĩ. Chúng ta thấy tên ông trong danh sách những nhà bác học có nhiều cống hiến cho khoa học như nhà vật lý Mỹ John Bardeen hai lần giải thưởng Nobel về phát minh hiệu ứng transisto và hiệu ứng siêu dẫn, Rudolf Mossbaner – Nhà vật lý cộng hòa liên bang Đức, giải thưởng Nobel về phát minh hiệu ứng Mossbaner v.v… Vinh quang cho một người khổ công tìm tòi khoa học chưa dừng lại ở đó. Những tháng ngày lao tâm khổ tứ của ông đã được ghi nhận xứng đáng. Năm 1986 ông cùng với viện sĩ Logunov được nhà nước Liên Xô trao tặng Giải thưởng Lê Nin do những công trình nghiên cứu về vật lý hạt nhân năng lượng cao. Rồi mười năm kế tiếp sau đó, 1996, ông đã được Nhà nước ta trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I).

Trong những tháng năm gần đây, giáo sư viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu vẫn không ngừng lao động. Ông tiếp tục nghiên cứu những vấn đề thuộc lý thuyết thống nhất các tương tác giữa các hạt cơ bản đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Bên cạnh những đề tài thuộc lĩnh vực lý thuyết trường lượng tử và hạt cơ bản, ông còn tiến hành các nghiên cứu trong lĩnh vực lý thuyết chất rắn… Sáng ngày 25/6/1998 tại Hà Nội, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia đã tổ chức lễ trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho ông, vì “đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc tham gia tổ chức và xây dựng nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học kỹ thuật đầu tiên, cũng như đã tham gia đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của Việt Nam”. Trên trang web của trường Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết:

Ông cũng là một trong những người đi tiên phong trong việc nhìn nhận cần có cải cách tiền lương cho ngành giáo dục. Theo ông, để đảm bảo sự công bằng cho đội ngũ những “người đứng bục” cần có các mức phụ cấp khác nhau cho những từng đối tượng làm công tác giảng dạy: phụ cấp dành cho giảng viên – thạc sĩ phải có sự khác biệt với giảng viên – tiến sĩ hoặc giáo sư. Gắn bó nhiều năm với giảng đường đại học, ông không ngừng suy nghĩ và trăn trở về các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Ông cho rằng: “Chất lượng giảng dạy phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có hai yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất. Yếu tố thứ nhất là người học muốn học và có động cơ học tập chân chính: học để hiểu biết, thành người có tài phục vụ cho xã hội và làm giàu cho bản thân. Yếu tố thứ hai là người thầy. Để học trò đạt được những mơ ước chân chính cần phải có những người thầy hết sức tâm huyết, muốn giúp cho học trò của mình đạt được điều đó.

Trong cương vị một người thầy, ông có một mong muốn thật giản dị nhưng rất thiết thực với đời sống:

Làm sao giảng dạy được cho các học trò của mình: nếu là kỹ sư trong nhà máy thì làm việc thật tốt, nếu là nhà khoa học thì có nhiều phát minh, nếu là thầy giáo thì giảng bài thật hấp dẫn và truyền thụ được nhiều kiến thức cho học trò…

Đánh giá

Có thể nói, sự nỗ lực học tập không ngừng, dám đương đầu với những vấn đề “hóc búa” của khoa học của Nguyễn Văn Hiệu xứng đáng là tấm gương sáng để thanh niên noi theo. Vấn đề vật lý hạt nhân ở nước ta vẫn còn non trẻ so với các nước tiên tiến trên thế giới, thì những đóng góp của giáo sư viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu là điều rất đáng tự hào.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Văn Hiệu

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)