Thân thế
Nguyễn Văn Nhơn (阮文仁) hay Nguyễn Văn Nhân, tục gọi là Quan lớn Sen (1753-1822), là một danh tướng của chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long) trong lịch sử Việt Nam. Ông chính là Tổng trấn đầu tiên của Gia Định Thành và là một trong Ngũ hổ tướng Gia Định.
Nguyễn Văn Nhơn sinh năm Quý Dậu (1753), quê tại làng Tân Đông, huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang xưa. Về sau, địa danh này nhiều lần thay đổi: thuộc xã Tân Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc, và ngày nay là xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Ông là con của Nguyễn Quang, được phong tước Minh Đức hầu, và bà Thị Áo.
Sinh trưởng giữa buổi binh đao, xã hội rối ren, Nguyễn Văn Nhơn thuở thiếu thời không có điều kiện theo đuổi việc học hành một cách bài bản. Tuy vậy, khi đã bước vào con đường quan lộ, đặc biệt đến lúc giữ chức lưu thủ Trấn Biên (Biên Hòa), dù tuổi đã ngoài bốn mươi, ông vẫn tự ý thức bù đắp sự thiếu hụt thuở trước, chuyên tâm trau giồi chữ nghĩa và học vấn. Điều đó cho thấy ở ông không chỉ có bản lĩnh của một võ quan trưởng thành từ thời loạn, mà còn có tinh thần cầu tiến và ý thức tự hoàn thiện của một người làm việc nước.
Sự nghiệp dưới thời Gia Long
Năm Giáp Ngọ (1774), khi vừa tròn hai mươi mốt tuổi, Nguyễn Văn Nhơn theo phò các tướng Tống Phước Hiệp và Nguyễn Khoa Thuyên, được giao giữ chức đội trưởng. Không lâu sau, ông tiếp tục theo Tống Phước Hòa, nhờ lập công trong quân vụ mà được thăng lên cai đội, chính thức bước vào hàng ngũ võ quan có chức trách.
Đến năm Đinh Dậu (1777), khi chúa Nguyễn Phúc Ánh khởi binh tại Long Xuyên (vùng Cà Mau ngày nay), Nguyễn Văn Nhơn theo tướng Dương Công Trừng, được giao nhiệm vụ trấn giữ Sa Đéc, một vị trí trọng yếu ở miền Tây Nam Bộ. Năm sau, Mậu Tuất (1778), ông được thăng chức Cai cơ, đánh dấu bước tiến quan trọng trong sự nghiệp binh nghiệp.
Năm Nhâm Dần (1782), trong một trận giao tranh ác liệt, ông bị quân Tây Sơn bắt tại Thủ Thiêm (Sài Gòn). Tuy nhiên, với ý chí kiên cường, ông tìm cách thoát thân, vượt sang Xiêm để tìm gặp chúa Nguyễn. Đúng lúc ấy, Nguyễn Phúc Ánh sai người trở về nước chiêu tập lực lượng; Nguyễn Văn Nhơn lập tức quay lại, cùng các tướng hợp binh đánh chiếm vùng Long Xuyên (Cà Mau), góp phần khôi phục thế lực cho chúa Nguyễn ở phương Nam.
Năm Ất Mão (1795), ông được bổ làm Lưu thủ Trấn Biên (Biên Hòa) một chức vụ vừa mang tính quân sự, vừa đảm trách hành chính, đòi hỏi sự cẩn trọng và năng lực điều hành. Hai năm sau, Đinh Tỵ (1797), ông được điều về Gia Định, giao việc vận chuyển lương thảo, đồng thời kiêm nhiệm công việc tại bộ Hộ, cho thấy triều đình đã tin cậy ông không chỉ ở mặt quân sự mà cả về tài quản lý tài chính, hậu cần.
Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Gia Long. Nguyễn Văn Nhơn được phong Chưởng Chấn võ quân, ban tước Nhơn Quận công, và tiếp tục giữ chức Lưu trấn Gia Định trấn cho đến năm 1805. Cuối năm ấy, khi Gia Long bình định xong Bắc Hà, Nguyễn Văn Nhơn dâng sớ điều trần gồm mười bốn khoản, đề xuất chấn chỉnh nhiều mặt chính sự và quân vụ. Bản điều trần được vua Gia Long đặc biệt khen ngợi, từ đó ông càng được tin dùng.
Năm Mậu Thìn (1808), triều đình cải tổ hành chính, chấm dứt mô hình Gia Định trấn, lập Gia Định Thành. Nguyễn Văn Nhơn được cử giữ chức Tổng trấn, trong khi Trịnh Hoài Đức đảm nhiệm Hiệp Tổng trấn. Như vậy, ông chính là vị Tổng trấn đầu tiên của Gia Định Thành, đồng thời kiêm lãnh hai trấn Bình Thuận và Hà Tiên, trực tiếp quản lý toàn bộ miền Nam cho đến năm 1812, khi bàn giao lại quyền Tổng trấn cho Lê Văn Duyệt.
Vào các năm 1819–1820, trước tình hình chính sự và quân vụ ở Nam Bộ, Nguyễn Văn Nhơn một lần nữa được triều đình triệu dụng, cử trở lại giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành, khẳng định vị thế của ông như một trọng thần nhiều lần được tin cậy giao phó việc lớn nơi biên trấn phương Nam.
Dưới thời vua Minh Mệnh
Năm Tân Tỵ (1821), dưới triều vua Minh Mạng, Nguyễn Văn Nhơn được triệu hồi về kinh đô Huế, sung giữ chức Tổng tài Quốc sử quán — một vị trí trọng yếu, thể hiện sự tín nhiệm đặc biệt của triều đình đối với một lão thần từng dày công nơi biên trấn, nay được giao phó việc san định và biên tu chính sử.
Mùa xuân năm Nhâm Ngọ (1822), ông từ trần tại kinh đô, hưởng thọ 69 tuổi. Hay tin dữ, vua Minh Mạng vô cùng thương tiếc, truyền bãi triều ba ngày, đích thân ban rượu tế, rồi mới cho đưa linh cữu ông trở về Gia Định an táng. Nhà vua còn ngự ban một đôi câu đối, lời lẽ trang trọng mà thấm đượm ân tình quân thần:
Vọng Các hiệu tùng long, trực bá đan tâm huyền nhật nguyệt;
Xuân thành bi khử hạc, do lưu chính khí tác sơn hà.
Nghĩa là:
Theo vua nơi Vọng Các, lòng son treo rạng cùng trời đất;
Bỏ mình chốn Phú Xuân, khí chính còn lưu với núi sông.
Không dừng ở đó, triều đình còn cấp cho gia quyến ông một trăm mẫu ruộng tại xã Thanh Thủy (Phú Vinh, Huế) làm tự điền, để con cháu đời sau hương khói phụng thờ. Đồng thời, ông được truy tặng nhiều mỹ hiệu trọng hậu: Dực vận đồng đức công thần, Đặc tiến Trụ quốc Thượng tướng quân, Thái bảo Quận công — những danh xưng chỉ dành cho bậc khai quốc, trung hưng đại thần có công lao và tiết nghĩa trọn vẹn.
Đến năm Giáp Thân (1824), triều đình tiếp tục cho thờ ông tại Thế Miếu và Miếu Trung Hưng Công Thần, chính thức ghi tên ông vào hàng công thần tiêu biểu của triều Nguyễn.
Năm Tân Mão (1831), Nguyễn Văn Nhơn lại được gia phong lần nữa, truy tặng tước Tráng võ tướng quân, Đô thống phủ Chưởng phủ sự, phong Kinh Môn Quận công, ban thụy hiệu Mục Hiến một thụy hiệu thể hiện trọn vẹn hình ảnh của một bề tôi vừa cương nghị nơi võ nghiệp, vừa ngay thẳng, mực thước trong đạo làm quan, để lại tiếng thơm lâu dài trong sử sách.
Lăng mộ
Khu mộ Quận công Nguyễn Văn Nhơn (dân địa phương gọi là “Lăng Quan lớn Sen”) xưa kia nằm bên bờ sông Tiền, thuộc làng Tân Đông, sau vì dòng nước đe dọa xói lở, năm 1920, di hài ông được đưa về táng tại ấp Đông Huề, xã Tân Khánh Đông, Thành phố Sa Đéc (Đồng Tháp), tại ấp Đông Qưới, xã Tân Khánh Đông, Thành phố Sa Đéc có ngôi Đình Tân Đông là nơi thờ tự Ông. Tại đây, mộ ông và vợ ông nằm song song nhau. Hàng năm, lễ giỗ ông được tổ chức vào tiết Thanh minh.
Món chè hột sen
Năm 1943, nhà báo Khuông Việt đã chép lại câu chuyện dân gian được lưu truyền như sau: “Chúa Nguyễn Ánh trong lúc bôn đào rày đây mai đó, phó thác việc hầu hạ mẹ cho tùy tướng Nguyễn Văn Nhơn. Những khi quốc mẫu mệt nhọc, thường dùng chè hột sen của Nhơn dưng lên. Lâu ngày quen miệng nên mỗi lúc cần đến món ăn bổ khỏe ấy, bà chỉ cần gọi “sen” là tự khắc có Nhơn đến. Vì thế mới có ba tiếng “quan lớn Sen” của người tặng riêng cho tướng Nguyễn Văn Nhơn”.
Chuyện dân gian có phần trùng khớp với chính sử. Sách Đại Nam Thực lục tiền biên chép, tháng giêng năm Kỷ Mùi (1799), chúa Nguyễn Ánh “lại dụ bọn Nguyễn Văn Nhơn rằng: Ta không thể hằng ngày phụng dưỡng Từ cung, bọn khanh nên cùng con ta thay mặt, cứ ba ngày một lần thăm sức khỏe cho yên lòng ngài”. Cũng trong khoảng thời gian này, quan lớn Sen đã “giúp hoàng tử giữ then khóa, vững căn bản, điều quân cấp lương không từng thiếu thốn; lại khuyên việc nông trang, nghiêm cấm uống rượu, trong hạt đều được yên ổn”.
Tư tưởng cải cách
Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi đã phong quan lớn Sen làm Chưởng Chấn võ quân, tước Nhơn Quận công, giữ chức Lưu trấn Gia Định trấn đến năm 1805. Sau khi vua Gia Long bình xong Bắc Hà, ông dâng sớ điều trần 14 khoản xin chấn chỉnh nhiều việc, như: Định lại các sắc thuế; trọng dụng người hiền; cải cách phong tục; biểu dương người trinh tiết; định phép khoa cử; chấn chỉnh nghiêm việc quan lại; phát chẩn cho dân nghèo… Về thuế má, ông tâu với vua rằng: “Các hạng lão tật của dân đồn điền, xin từ nay về sau giảm bớt thóc thuế cho 5 phần 10. Lại khe ngòi xưa nay không có thuế, gần đây bọn lại gian mưu lợi thu nộp cả, làm cho rối dân, xin tha cho”.
Về giáo dục, ông đề xuất “Trị nước thì gốc ở nhân tài, hành chính thì trước lấy giáo hóa. Vừa rồi trời gây đen tối, người ở Gia Định nghiên bút bỏ hoang. Nay non sông dựng lại, đất nước lặng trong, chính là lúc học giả được thành nghiệp. Vậy xin định lại giáo điều, khiến cho học trò có đường tiến tới để đáp lại tấm lòng thánh thượng muốn xếp qua để giảng học”. Các điều trần của ông, vua đều theo.
Năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng triệu ông về kinh đô Huế sung chức Tổng tài ở Quốc sử quán, nhưng chỉ được một năm thì ông mất. Hay tin ông qua đời, vua cho nghỉ chầu 3 ngày, sai các quan đến dụ tế và ban tặng Thái bảo, thụy là Trung Cẩn; Cho 1.000 quan tiền, 300 lạng bạc, 2 cây gấm thêu bằng kim tuyến, 3 cây gấm Tống và 30 tấm lụa.
Thực lục chính biên chép: “Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng: Nguyễn Văn Nhơn là bậc đại thần huân cựu, là người trung thành cẩn hậu. Khi trẫm được tin ốm nặng, muốn thân tới thăm, nhưng nghĩ lễ vua tôi rất nghiêm, nếu cho phép nằm thì không dám yên tâm, mà gượng dậy thì lại mỏi mệt, cho nên trẫm thường sai hoàng tử đến thăm. Nay không may qua đời, thương tiếc vô cùng. Lại nói: Nhân bình nhật ăn mặc rất tiết kiệm, nay lễ tế điện trẫm muốn làm hậu”. Rồi đặc biệt sai xuất tiền kho, ủy cho đội Thị thiện hằng ngày làm cỗ nấu để cúng. Đến hôm đám đưa về Gia Định, vua ngự giá đến nhà, thân rót rượu cúng. Cho 100 binh đội hữu sai đưa đi. Đến ngày an táng, lại nghỉ chầu một ngày.
Đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824), vua cho Chưởng hữu quân Nguyễn Văn Nhơn được thờ ở đền Trung hưng công thần và ân cấp 100 mẫu ruộng tự điền.
Gia đình
Kinh Môn Quận công Nguyễn Văn Nhơn có 3 người con trai tên là Đức, Thiện, Giai.
Đức được ấm thụ chức Kiêu kỵ đô úy. Con của Đức là Chân được tập phong tước Kinh Môn bá, gia hàm Phó Quản cơ.
Thiện lấy Mỹ Khê Công chúa Ngọc Khuê (con gái thứ 12 của vua Gia Long), được phong Phò mã đô úy, hàm Vệ úy. Con của Thiện là Uyển, được cấp cho tiền gạo và tập ấm hàm Cẩm y vệ Hiệu úy.
Giai được bổ vào hạng Anh danh, làm đến chức Cai đội.
Quận công Nguyễn Văn Nhơn còn một người con gái là Nguyễn Thị Nhậm, được gả làm Phủ thiếp cho Thiệu Trị khi nhà vua vẫn còn là Trường Khánh công. Thiệu Trị đăng cơ, bà Nhậm được phong dần đến chức Lệnh phi ở hàng Nhất giai, địa vị chỉ dưới mỗi bà Từ Dụ.
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Quang Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
- Huỳnh Minh, Kiến Hòa xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, trang 118.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006.
- Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Đồng Tháp, trang 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (toàn tập). Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Nguyen Van Nhon (1753–1822)
Origines et parcours
Nguyen Van Nhon (阮文仁), également appelé Nguyen Van Nhan, surnommé familièrement Quan lon Sen (1753–1822), fut un éminent général au service de Nguyen Phuc Anh — devenu plus tard l’empereur Gia Long — dans l’histoire du Vietnam. Il fut le premier Gouverneur général (Tong tran) de la Citadelle de Gia Dinh, et l’un des Cinq Tigres de Gia Dinh.
Nguyen Van Nhon naquit en l’année Quy Dau (1753), dans le village de Tan Dong, district de Vinh An, préfecture de Tan Thanh, dans l’ancienne province d’An Giang. Par la suite, cette région connut plusieurs changements administratifs : elle releva successivement de la commune de Tan Dong, district de Chau Thanh, province de Sa Dec, et correspond aujourd’hui à la commune de Tan Khanh Dong, ville de Sa Dec, province de Dong Thap. Il était le fils de Nguyen Quang, titré Minh Duc hau, et de madame Thi Ao.
Né dans une époque de guerres incessantes et de profond désordre social, Nguyen Van Nhon ne put, durant sa jeunesse, recevoir une formation scolaire complète et méthodique. Toutefois, lorsqu’il entra dans la carrière officielle — et plus particulièrement lorsqu’il occupa la charge de Luu thu Tran Bien (Bien Hoa) —, bien qu’ayant déjà dépassé la quarantaine, il prit conscience de ses lacunes et s’appliqua avec assiduité à l’étude des lettres et du savoir. Cela montre qu’il n’était pas seulement un officier militaire aguerri par les temps troublés, mais également un homme animé d’un esprit de progrès et d’auto-perfectionnement au service de l’État.
Carrière sous le règne de Gia Long
En l’année Giap Ngo (1774), à l’âge de vingt et un ans, Nguyen Van Nhon entra au service militaire sous les ordres des généraux Tong Phuoc Hiep et Nguyen Khoa Thuyen, et fut nommé chef d’escouade (doi truong). Peu après, suivant Tong Phuoc Hoa, il se distingua par ses mérites militaires et fut promu cai doi, intégrant officiellement le corps des officiers responsables.
En Dinh Dau (1777), lorsque Nguyen Phuc Anh leva des troupes à Long Xuyen (région correspondant aujourd’hui à Ca Mau), Nguyen Van Nhon suivit le général Duong Cong Trung et reçut la mission de défendre Sa Dec, position stratégique du Sud-Ouest. L’année suivante, Mau Tuat (1778), il fut promu Cai co, marquant une étape décisive dans sa carrière militaire.
En Nham Dan (1782), lors d’un combat particulièrement acharné, il fut capturé par les troupes des Tay Son à Thu Thiem (Sai Gon). Grâce à sa détermination, il parvint à s’évader et se rendit au Siam afin de rejoindre Nguyen Phuc Anh. Au moment où ce dernier envoyait des émissaires pour rallier de nouvelles forces, Nguyen Van Nhon rentra aussitôt au pays, unissant ses troupes à celles d’autres généraux pour reprendre Long Xuyen (Ca Mau), contribuant ainsi à la restauration de la puissance des Nguyen dans le Sud.
En At Mao (1795), il fut nommé Luu thu Tran Bien (Bien Hoa) — une fonction à la fois militaire et administrative, exigeant prudence et capacité de gestion. Deux ans plus tard, en Dinh Ty (1797), il fut transféré à Gia Dinh, chargé du transport des vivres et cumulant des fonctions au ministere des Finances (Bo Ho), preuve de la confiance que la cour plaçait en lui tant sur le plan militaire qu’administratif.
En Nham Tuat (1802), Nguyen Phuc Anh monta sur le trône et adopta l’ère Gia Long. Nguyen Van Nhon fut nommé Commandant en chef des forces militaires (Chuong Chan vo quan), reçut le titre de Nhon Quan cong, et continua d’exercer la charge de Luu tran Gia Dinh jusqu’en 1805. À la fin de cette année, après la pacification complète du Nord, il présenta un mémoire en quatorze articles, proposant des réformes touchant l’administration et l’armée. Ce mémoire fut vivement loué par l’empereur Gia Long, ce qui renforça encore la confiance impériale à son égard.
En Mau Thin (1808), à l’occasion d’une réforme administrative majeure, le système de Gia Dinh tran fut supprimé et remplacé par la Citadelle de Gia Dinh. Nguyen Van Nhon fut nommé Tong tran, assisté de Trinh Hoai Duc en qualité de Hiep Tong tran. Il devint ainsi le premier Gouverneur général de Gia Dinh, cumulant en outre l’administration des provinces de Binh Thuan et Ha Tien, et gouvernant l’ensemble du Sud jusqu’en 1812, date à laquelle il transmit la charge à Le Van Duyet.
Durant les années 1819–1820, face aux difficultés politiques et militaires en Cochinchine, la cour fit de nouveau appel à lui et le rétablit dans la fonction de Tong tran Gia Dinh, confirmant son statut de grand dignitaire en qui l’on plaçait une confiance renouvelée pour les affaires majeures des marches méridionales.
Sous le règne de Minh Mang
En Tan Ty (1821), sous le règne de l’empereur Minh Mang, Nguyen Van Nhon fut rappelé à la capitale Hue et nommé Directeur général de l’Institut national d’historiographie (Tong tai Quoc su quan), charge hautement symbolique, témoignant de la considération accordée à ce vétéran des frontières, désormais chargé de la compilation et de la révision de l’histoire officielle.
Au printemps de l’année Nham Ngo (1822), il décéda à la capitale, à l’âge de 69 ans. Informé de son décès, l’empereur Minh Mang, profondément attristé, ordonna la suspension des audiences pendant trois jours, offrit personnellement du vin sacrificiel, puis fit reconduire sa dépouille à Gia Dinh pour y être inhumée. Il composa également un distique funéraire empreint de solennité et d’affection entre souverain et sujet :
« Suivant le souverain à Vong Cac, loyauté éclatante comme le soleil et la lune ;
Mourant à Phu Xuan, l’énergie droite demeure avec les montagnes et les fleuves. »
La cour attribua en outre à sa famille cent mau de terres cultuelles à Thanh Thuy (Phu Vinh, Hue) pour l’entretien du culte ancestral, et lui conféra à titre posthume de prestigieux titres honorifiques, réservés aux fondateurs et grands restaurateurs de la dynastie.
References
- Nguyễn Quang Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
- Huỳnh Minh, Kiến Hòa xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, trang 118.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006.
- Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Đồng Tháp, trang 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (toàn tập). Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.
Tiếng Pháp
Nguyen Van Nhon (1753–1822)
Origines et formation
Nguyen Van Nhon (阮文仁), également connu sous le nom de Nguyen Van Nhan, surnommé populairement Quan lon Sen (1753–1822), fut un illustre général au service du seigneur Nguyen Phuc Anh — devenu plus tard l’empereur Gia Long — dans l’histoire du Viet Nam. Il fut le premier Tong tran (gouverneur général) de la citadelle de Gia Dinh et compta parmi les Cinq Tigres de Gia Dinh.
Nguyen Van Nhon naquit l’année Quy Dau (1753) dans le village de Tan Dong, district de Vinh An, prefecture de Tan Thanh, dans l’ancienne province d’An Giang. Ce territoire connut plusieurs changements administratifs : il releva ensuite de la commune de Tan Dong, district de Chau Thanh, province de Sa Dec, et correspond aujourd’hui à la commune de Tan Khanh Dong, ville de Sa Dec, province de Dong Thap. Il était le fils de Nguyen Quang, titré Minh Duc hau, et de dame Thi Ao.
Ayant grandi dans une période de guerres incessantes et de troubles sociaux, Nguyen Van Nhon ne put, durant sa jeunesse, suivre un enseignement régulier. Toutefois, une fois engagé dans la carrière officielle, notamment lorsqu’il exerça la fonction de Luu thu Tran Bien (Bien Hoa), bien qu’ayant déjà dépassé la quarantaine, il prit conscience de ses lacunes et s’appliqua avec assiduité à l’étude des lettres et du savoir. Cela révèle chez lui non seulement les qualités d’un officier forgé par les temps de guerre, mais aussi un esprit de progrès et un profond sens du perfectionnement personnel au service de l’État.
Carrière sous le règne de Gia Long
En l’année Giap Ngo (1774), à l’âge de vingt et un ans, Nguyen Van Nhon suivit les généraux Tong Phuoc Hiep et Nguyen Khoa Thuyen et fut nommé chef d’escouade. Peu après, sous les ordres de Tong Phuoc Hoa, il fut promu Cai doi grâce à ses mérites militaires, entrant ainsi officiellement dans le corps des officiers responsables.
En l’année Dinh Dau (1777), lorsque Nguyen Phuc Anh leva les troupes à Long Xuyen (actuelle région de Ca Mau), Nguyen Van Nhon servit sous le commandement de Duong Cong Trung et reçut la mission stratégique de défendre Sa Dec, poste clé du delta occidental. L’année suivante, Mau Tuat (1778), il fut promu Cai co, marquant une étape importante de sa carrière militaire.
En l’année Nham Dan (1782), lors d’un combat acharné, il fut capturé par les troupes des Tay Son à Thu Thiem (Saigon). Grâce à sa détermination, il parvint cependant à s’évader et à gagner le Siam pour rejoindre le seigneur Nguyen. Lorsque Nguyen Phuc Anh envoya des émissaires recruter des forces dans le pays, Nguyen Van Nhon rentra aussitôt, unissant ses troupes à celles d’autres généraux pour reconquérir la région de Long Xuyen (Ca Mau), contribuant ainsi à la restauration de la puissance des Nguyen dans le Sud.
En l’année At Mao (1795), il fut nommé Luu thu Tran Bien (Bien Hoa), fonction à la fois militaire et administrative, exigeant prudence et capacité de gouvernance. Deux ans plus tard, Dinh Ty (1797), il fut rappelé à Gia Dinh pour superviser le transport des vivres et exercer simultanément des fonctions au ministère des Finances (Bo Ho), preuve de la confiance que lui accordait la cour tant sur le plan militaire que logistique et financier.
En l’année Nham Tuat (1802), Nguyen Phuc Anh monta sur le trône et prit le nom de règne Gia Long. Nguyen Van Nhon fut nommé Chuong Chan vo quan, reçut le titre de Nhon Quan cong, et continua d’exercer la charge de gouverneur de Gia Dinh jusqu’en 1805. À la fin de cette année, après la pacification du Bac Ha, il présenta un mémoire en quatorze articles proposant de nombreuses réformes politiques et militaires. Ce mémoire fut vivement loué par l’empereur, ce qui renforça encore la confiance placée en lui.
En l’année Mau Thin (1808), lors de la réforme administrative supprimant l’ancienne entité de Gia Dinh tran au profit de la Citadelle de Gia Dinh, Nguyen Van Nhon fut nommé Tong tran, tandis que Trinh Hoai Duc occupait la fonction de Hiep Tong tran. Il devint ainsi le premier gouverneur général de Gia Dinh Thanh, exerçant également son autorité sur les provinces de Binh Thuan et Ha Tien, administrant l’ensemble du Sud jusqu’en 1812, année où il transmit la charge à Le Van Duyet.
Durant les années 1819–1820, face à la situation politique et militaire du Sud, la cour le rappela une nouvelle fois pour exercer à nouveau la fonction de Tong tran de Gia Dinh Thanh, confirmant son statut de grand dignitaire à qui l’on confiait les affaires majeures des régions frontalières méridionales.
Sous le règne de Minh Mang
En l’année Tan Ty (1821), sous le règne de Minh Mang, Nguyen Van Nhon fut convoqué à la capitale Hue et nommé Tong tai du Quoc su quan, poste éminent témoignant de la haute estime de la cour envers ce vétéran des marches méridionales, désormais chargé de la compilation et de la révision des annales officielles.
Au printemps de l’année Nham Ngo (1822), il s’éteignit à la capitale, à l’âge de soixante-neuf ans. Apprenant la nouvelle, l’empereur Minh Mang ordonna l’interruption des audiences pendant trois jours, offrit personnellement des libations funéraires, puis fit rapatrier sa dépouille à Gia Dinh pour l’inhumation. Il composa également un distique funèbre, solennel et empreint d’émotion : Vong Cac hieu tung long, truc ba dan tam huyen nhat nguyet;
Xuan thanh bi khu hac, do luu chinh khi tac son ha.
Soit :
« Suivant le souverain à la terrasse Vong Cac, le cœur loyal resplendit avec le ciel et la terre ; S’éteignant à Phu Xuan, la droiture morale demeure avec les montagnes et les fleuves. »
La cour accorda en outre à sa famille cent mau de terres rituelles dans la commune de Thanh Thuy (Phu Vinh, Hue), afin d’assurer le culte ancestral. Il reçut également de nombreux titres honorifiques posthumes : Duc van dong duc cong than, Dac tien Tru quoc Thuong tuong quan, Thai bao Quan cong, distinctions réservées aux grands fondateurs et restaurateurs de la dynastie.
En l’année Giap Than (1824), il fut admis au culte dans le The Mieu et le Mieu Trung Hung Cong Than, inscrivant définitivement son nom parmi les principaux méritants de la dynastie Nguyen. En l’année Tan Mao (1831), une nouvelle promotion posthume lui conféra le titre de Trang vo tuong quan, Do thong phu Chuong phu su, Kinh Mon Quan cong, avec le nom posthume Muc Hien, symbole d’un serviteur à la fois ferme dans les armes et intègre dans l’administration.
Sépulture
Le tombeau du Quan cong Nguyen Van Nhon, appelé par la population locale Lang Quan lon Sen, se situait autrefois sur la rive du fleuve Tien, dans le village de Tan Dong. En raison de l’érosion fluviale, en 1920, ses restes furent transférés et réinhumés au hameau Dong Hue, commune de Tan Khanh Dong, ville de Sa Dec (Dong Thap). Dans ce même lieu se trouve le Dinh Tan Dong, sanctuaire où il est vénéré. Sa tombe et celle de son épouse y reposent côte à côte. Chaque année, la commémoration de son décès est célébrée lors de la fête de Thanh minh.
L’origine du dessert au lotus
En 1943, le journaliste Khuong Viet rapporta une tradition populaire selon laquelle, durant les années d’errance de Nguyen Anh, celui-ci confia le soin de servir sa mère à son fidèle général Nguyen Van Nhon. Lorsque la reine-mère était souffrante, elle consommait fréquemment la soupe sucrée aux graines de lotus préparée par Nhon. Avec le temps, il lui suffisait d’appeler « Sen » pour que Nhon se présente, d’où le surnom affectueux de Quan lon Sen.
Cette tradition concorde partiellement avec les sources officielles. Les Dai Nam Thuc luc tien bien rapportent qu’en l’an Ky Mui (1799), Nguyen Anh déclara à Nguyen Van Nhon : « Je ne puis servir quotidiennement la Mère impériale ; vous, mes ministres, devez me remplacer et visiter son état de santé tous les trois jours afin de la rassurer. » À cette époque, Quan lon Sen « assura la protection du prince héritier, maintint les approvisionnements sans jamais manquer, encouragea l’agriculture et interdit strictement l’ivresse, assurant ainsi la stabilité de la région. »
Pensée réformatrice
Après l’accession au trône de Gia Long, Nguyen Van Nhon fut nommé Chuong Chan vo quan, titré Nhon Quan cong, et gouverneur de Gia Dinh jusqu’en 1805. Après la pacification du Nord, il présenta un mémoire en quatorze points visant à réformer l’administration : révision de la fiscalité, promotion des hommes vertueux, réforme des mœurs, valorisation de la chasteté féminine, réglementation des examens mandarinales, discipline des fonctionnaires, secours aux pauvres, etc.
Concernant l’impôt, il proposa notamment : « Que les vieillards et infirmes des colonies agricoles bénéficient d’une réduction de cinq dixièmes de l’impôt en riz ; que les ruisseaux et canaux jusqu’ici exempts de taxes ne soient plus arbitrairement imposés par des agents corrompus. »
En matière d’éducation, il affirma :
« Gouverner l’État repose sur les talents, administrer le peuple commence par l’instruction. Après les ténèbres de la guerre, aujourd’hui que le pays est pacifié, il convient d’établir des règles d’enseignement afin d’ouvrir aux étudiants une voie de progrès. » Toutes ses propositions furent acceptées par l’empereur.
Famille
Le Kinh Mon Quan cong Nguyen Van Nhon eut trois fils : Duc, Thien et Giai.
- Duc hérita du titre de Kieu ky do uy ; son fils Chan reçut le titre de Kinh Mon ba et la charge de Pho Quan co.
- Thien épousa la princesse My Khe Ngoc Khue, douzième fille de Gia Long, fut nommé Pho ma do uy, rang de Ve uy ; leur fils Uyen reçut une pension et le titre de Hieu uy de la Garde impériale.
- Giai fut admis parmi les Anh danh et atteignit le rang de Cai doi.
Il eut également une fille, Nguyen Thi Nham, donnée en concubinage princier à Thieu Tri lorsqu’il était encore Truong Khanh cong. Après l’accession au trône de Thieu Tri, elle fut progressivement élevée jusqu’au rang de Lenh phi de premier degré, immédiatement inférieur à celui de l’impératrice Tu Du.
Références
- Nguyễn Quang Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
- Huỳnh Minh, Kiến Hòa xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, trang 118.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006.
- Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Đồng Tháp, trang 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (toàn tập). Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.
Tiếng Trung
阮文仁(Nguyen Van Nhon,1753–1822)
身世
阮文仁(Nguyen Van Nhon),又名阮文人(Nguyen Van Nhan),俗称“仙大官”(Quan lon Sen),生于1753年,卒于1822年,是越南历史上辅佐阮福映(Nguyen Phuc Anh,后为嘉隆帝)的一位著名将领。他是嘉定城首任总镇,亦为“嘉定五虎将”之一。
阮文仁生于癸酉年(1753),籍贯新东村,永安县,新城府,旧安江省。其后该地行政隶属多次变更:先属新东社,周城县,沙沥省;今为同塔省沙沥市新庆东社。其父阮光(Nguyen Quang)获封明德侯,母为氏袄(Thi Ao)。
成长于兵燹频仍、社会动荡之际,阮文仁少时无条件系统求学。然步入仕途后,尤在担任镇边留守(边和)期间,虽年逾四十,仍自觉弥补早年学业之缺,潜心研习文字与学问。此举显示其不仅具备乱世中成长起来的武将素质,更具有进取精神与自我完善之国家公仆意识。
嘉隆时期之仕途
甲午年(1774),年仅二十一岁的阮文仁随宋福协(Tong Phuoc Hiep)与阮科宣(Nguyen Khoa Thuyen)诸将效力,受任队长。不久后,又随宋福和(Tong Phuoc Hoa)从军,因军功擢升为该队,正式跻身有职掌之武官行列。
丁酉年(1777),阮福映于龙川(今金瓯一带)起兵,阮文仁随杨公澄(Duong Cong Trung),奉命镇守沙沥——西南地区要地。次年戊戌(1778),升任该机,成为其军旅生涯的重要转折点。
壬寅年(1782),在一次激烈交战中,阮文仁于守添(西贡)为西山军所擒。然其意志坚毅,设法脱身,渡往暹罗以寻阮主。适逢阮福映遣人返国招集兵力,阮文仁即刻回返,与诸将合兵攻取龙川(今金瓯),为阮主在南方恢复势力立下功劳。
乙卯年(1795),阮文仁受命为镇边留守(边和)——一项兼具军事与行政性质之重职,尤需谨慎与治事能力。两年后丁巳(1797),调回嘉定,负责粮饷转运,并兼理户部事务,显示朝廷对其不仅军事才能,亦高度信赖其财政与后勤管理能力。
壬戌年(1802),阮福映即皇帝位,建元嘉隆。阮文仁受封“掌镇武军”,赐仁郡公爵,并继续担任嘉定镇留镇至1805年。是年末,嘉隆帝平定北河后,阮文仁上疏十四条,建议整顿多项政务与军务。该奏疏深得嘉隆帝嘉许,自此更受重用。
戊辰年(1808),朝廷改制,废嘉定镇,设嘉定城。阮文仁被任命为总镇,郑怀德(Trinh Hoai Duc)为协总镇。由此,阮文仁成为嘉定城首任总镇,并兼辖平顺、河仙二镇,直接统理南部全境,直至1812年将总镇职权移交黎文悦(Le Van Duyet)。
1819—1820年间,鉴于南部政务与军务形势,朝廷再次征召阮文仁,复任嘉定城总镇,彰显其作为屡受倚重之重臣,在南方边镇事务中的特殊地位。
明命朝时期
辛巳年(1821),明命帝召阮文仁回顺化京城,充任国史馆总裁——此乃极为重要之职,体现朝廷对这位长期镇守边疆之老臣的特别信任,委以校订、编修正史之重任。
壬午年(1822)春,阮文仁卒于京城,享年六十九岁。噩耗传至,明命帝深感哀悼,下令罢朝三日,亲赐祭酒,方命扶柩返嘉定安葬。皇帝并御赐一副对联,辞意庄重而情深意切:
望阁效从龙,直把丹心悬日月;春城悲去鹤,犹留正气作山河。
其意为:
随君于望阁,赤诚之心昭示天地; 殒身于富春,浩然正气长存山河。
此外,朝廷赐予其家属在清水社(富荣,顺化)自田一百亩,以供子孙世代香火奉祀。同时,追赠其多项隆重美号:
“翼运同德功臣”、“特进柱国上将军”、“太保郡公”——皆为仅授予开国、中兴大臣之尊号。
甲申年(1824),朝廷又命将其配享世庙与中兴功臣庙,正式列入阮朝功臣之列。
辛卯年(1831),阮文仁再获加封,追赠“壮武将军”、“都统府掌府事”,封“荆门郡公”,赐谥“穆宪”——此一谥号充分体现其武业之刚毅与仕德之端方,名垂史册。
陵墓
荆门郡公阮文仁之墓,民间称为“仙大官陵”。原位于前江河畔新东村,因河流侵蚀威胁,1920年迁葬至同塔省沙沥市新庆东社东惠邑。于东桂邑新东亭设有祠堂奉祀。其墓与夫人之墓并列而建。每年清明时节,当地皆举行忌辰祭祀。
莲子甜汤的传说
1943年,记者匡越(Khuong Viet)记录一则民间传说称:阮福映流亡奔走之际,将侍奉母亲之事托付给阮文仁。每当国母体倦,阮文仁常以莲子甜汤奉上。久而久之,国母一欲食此滋补之品,呼一声“莲”,阮文仁即至。由此,“仙大官”之称,遂为百姓相沿流传。
此传说与正史亦有相合之处。《大南实录前编》载:己未年(1799)正月,阮福映谕阮文仁曰:“朕不能日日奉养慈宫,卿等当与吾子代为侍奉,每三日一问安,以慰其心。”又记其“助皇子守关钥,固根本,调兵给粮未尝缺乏;又劝课农桑,严禁饮酒,境内悉得安宁”。
改革思想
阮福映即位后,封“仙大官”为掌镇武军、仁郡公,留镇嘉定至1805年。嘉隆帝平定北河后,阮文仁上疏十四条,请求整饬政务,包括:重订税制、任用贤才、改革风俗、表彰贞节、厘定科举、肃清吏治、赈济贫民等。
在税务方面,他上奏称:“屯田民中老弱残疾者,请自今以后减免税粮十分之五;又旧来溪涧无税,近为奸吏谋利强行征收,扰乱百姓,请一并豁免。”
在教育方面,他指出:“治国之本在于人才,行政之先在于教化。顷者兵乱,嘉定士子弃笔荒学;今山河再造,国泰民安,正是学者成业之时。请重订教规,使学子有进身之路,以副圣上兴学之意。”其所陈多被采纳施行。
家庭
荆门郡公阮文仁育有三子:德(Duc)、善(Thien)、阶(Giai)。
- 德承荫授骁骑都尉,其子真(Chan)袭封荆门伯,加衔副管机。
- 善娶美溪公主玉奎(My Khe Cong chua Ngoc Khue,嘉隆帝第十二女),封驸马都尉,衔卫尉。其子苑(Uyen)获赐钱粮,并承荫锦衣卫校尉。
- 阶列入英名,官至该队。
此外,阮文仁尚有一女阮氏任(Nguyen Thi Nham),嫁与绍治帝(Thieu Tri)为府妾,时绍治尚为长庆公。绍治即位后,阮氏任累封至一阶令妃,地位仅次于慈裕太后。
参考资料
- Nguyễn Quang Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
- Huỳnh Minh, Kiến Hòa xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, trang 118.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006.
- Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Đồng Tháp, trang 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (toàn tập). Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.