Thân thế
Nguyễn Văn Siêu 阮文超, ban đầu tên là Định, sau đổi là Siêu, còn gọi là Án Sát Siêu, tự: Tốn Ban, hiệu: Phương Đình. Nguyễn Văn Siêu sinh tại thôn Trung, xã Kim Lũ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì nhưng ngay từ nhỏ ông theo gia đình định cư tại Dũng Thọ, Thọ Xương, Hà Nội. Năm 13 – 14 tuổi, cậu bé Siêu đã biết treo ở phòng học câu đối (Đạo tại cổ kim vô khúc kính, thiên đa bồng tất sản cao nhân – Đạo từ xưa đến nay không phải đường tắt, trời thường sinh bậc anh tài trong chốn nhà tranh lều cỏ). Hoành phi và câu đối bộc lộ ý chí muốn thành người tài đức đã nảy nở trong người con đất kinh kì ngay từ ấu thơ. Khi thành niên, con người giàu khát vọng ấy đã theo học Tiến sĩ Phạm Quý Thích ở làng Hoa Đường, huyện Đường An, trấn Hải Dương. Nguyễn Văn Siêu “nổi tiếng học giỏi, tung hoành văn từ cổ, không chịu gò bó theo kiểu học thời tục, tiếng tăm bắt đầu vang dậy khắp nơi, vượt qua nhiều bậc danh Nho đương thời”
Sự nghiệp
Ông sinh năm Kỷ Mùi (1799) tại làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì xưa, nay thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, ham học và sớm bộc lộ tư chất hơn người.
Khi trưởng thành, ông theo học Tiến sĩ Phạm Quý Thích – một danh sĩ lớn đương thời, đồng thời có mối giao tình văn chương sâu sắc với Cao Bá Quát, dù Cao Bá Quát kém ông khoảng mười tuổi. Năm 26 tuổi, ông dự kỳ thi Hương và đỗ Á nguyên (xếp thứ hai trong số các cử nhân). Tuy nhiên, phải hơn mười năm sau, ông mới tiếp tục con đường khoa cử và đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất (1838) dưới triều vua Minh Mạng.
Sự gián đoạn khá dài trong việc thi cử của ông được sách Đại Nam chính biên liệt truyện lý giải rằng: ông chú trọng việc đọc sách để rèn luyện cổ văn và mở mang học vấn hơn là chuyên tâm vào lối học phục vụ khoa cử. Sau khi đỗ Hương tiến, ông thường từ chối tham dự các kỳ tuyển chọn tiếp theo, lui về sống ẩn dật, nuôi dưỡng chí hướng riêng. Chỉ đến hơn mười năm sau, ông mới tham gia thi và đỗ Tiến sĩ Ất khoa (tức Phó bảng). Cùng khoa với ông còn có nhiều nhân vật nổi bật khác như Phạm Văn Nghị, Nguyễn Cửu Trường, Doãn Khuê, Đinh Nhật Thận.
Ngay trong năm đỗ đạt (1838), ông được bổ nhiệm giữ chức Kiểm thảo tại Hàn lâm viện. Năm 1839, ông chuyển sang làm Chủ sự Bộ Lễ, rồi năm 1840 được thăng Viên ngoại lang. Cuối năm này, vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị kế vị. Nhận thấy học vấn và năng lực của ông, vua Thiệu Trị điều ông vào Nội các giữ chức Thừa chỉ, sau đó kiêm nhiệm chức Thị giảng, trực tiếp giảng sách cho các hoàng tử, trong đó có Nguyễn Phúc Hồng Bảo và Nguyễn Phúc Hồng Nhậm.
Tháng 8 năm 1841 (âm lịch), ông được cử làm Phân khảo tại trường thi Hương Thừa Thiên. Trong vụ việc liên quan đến việc chữa bài thi của Cao Bá Quát bị phát giác, ông bị liên lụy và chịu hình phạt trượng, đồ. Tuy nhiên, sau khi xem xét lại, triều đình giảm nhẹ, ông chỉ bị cách chức.
Năm 1847, Nguyễn Phúc Hồng Nhậm lên ngôi, tức vua Tự Đức. Hai năm sau, Nguyễn Văn Siêu được cử làm Phó sứ trong đoàn đi sứ sang Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay). Trước lúc lên đường, vua Tự Đức căn dặn ông với sự tin cậy đặc biệt, yêu cầu quan sát kỹ núi sông, phong tục và ghi chép đầy đủ trong chuyến đi. Thực hiện lời dặn ấy, khi trở về nước năm 1850, ông đã dâng lên triều đình tác phẩm Vạn lý tập dịch trình tấu thảo.
Sau chuyến đi sứ, ông được thăng làm Học sĩ tại Viện Tập Hiền. Năm 1851, ông được bổ nhiệm làm Án sát Hà Tĩnh, sau đó chuyển ra giữ chức Án sát Hưng Yên. Trong thời gian này, trước những tranh luận về chủ trương hủy đê, ông đã dâng sớ phản đối, đưa ra các luận cứ cụ thể, rõ ràng. Tuy nhiên, do lâm bệnh, ông xin chuyển nhiệm vụ rồi cáo bệnh về quê. Không lâu sau, ông lại được phục chức Thị độc Hàn lâm viện, nhưng vì tuổi tác và sức khỏe, đến năm 1854, ông chính thức xin nghỉ hưu.
Từ đó cho đến khi qua đời vào năm 1872, thọ 73 tuổi, Nguyễn Văn Siêu sống chủ yếu tại Hà Nội, dành gần hai mươi năm cuối đời cho việc dạy học và biên soạn sách. Bên cạnh sự nghiệp học thuật, ông còn để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa Thăng Long.
Sau khi về trí sĩ
Từ khi trí sĩ cho đến lúc qua đời, Nguyễn Văn Siêu sống tại Hà Nội và tiếp tục có nhiều đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực học thuật, văn hóa và xã hội. Với uy tín học vấn và tài năng văn chương, ông vẫn được triều đình trọng dụng, thường được mời tham gia soạn thảo các văn bản quan trọng trong những dịp đại lễ.
Trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, dù tuổi đã cao, ông vẫn tích cực tham gia công việc phòng thủ địa phương, góp sức bảo vệ quê hương. Nhờ những đóng góp ấy, ông được triều đình ghi nhận và ban hàm Hàn lâm viện Thị độc.
Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Siêu giữ vai trò nổi bật trong việc chấn hưng văn hóa Thăng Long. Sau khi thay Vũ Tông Phan lãnh đạo hội Hướng Thiện, ông chủ trương tôn tạo di tích, cải thiện cảnh quan và khôi phục không gian văn hóa cố đô. Tiêu biểu nhất là công trình tu sửa đền Ngọc Sơn năm 1865, với các hạng mục như Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc…, trở thành biểu tượng của đạo học và truyền thống hiếu học của dân tộc.
Ngoài ra, Nguyễn Văn Siêu còn dành tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục. Ông mở trường Phương Đình tại Hà Nội, đào tạo nhiều học trò thành đạt, đồng thời biên soạn và giảng dạy nhiều tác phẩm kinh điển, góp phần quan trọng vào việc truyền bá tri thức và hun đúc nhân tài trong giai đoạn cuối đời.
Di sản văn chương
Về sáng tác, Nguyễn Văn Siêu để lại cho chúng ta các tác phẩm sau:
Phương Đình văn loại (Văn Phương Đình phân loại)
Phương Đình thi loại (Thơ Phương Đình phân loại)
Phương Đình thi văn tập (Tập thơ văn Phương Đình)
Phương Đình tùy bút lục (Sao lục tùy bút của Phương Đình)
Phương Đình dư địa chí (Ghi chép địa dư của Phương Đình)
Ngoài ra, ông còn nghiên cứu, chú giải các sách cổ để dạy học, gồm:
Chư kinh khảo ước (Lược khảo các kinh)
Chư sử khảo thích (Khảo và chú các bộ sử)
Tứ thư bị giảng (Giảng giải đầy đủ về tứ thư)..
Con người Nguyễn Văn Siêu, danh nhân văn hoá ấy đã được người đời sau chung đúc lại bao lời ngợi ca trong hai câu mười chữ: “Nhất đại Phương Đình bút. Thiên thu kiểm thủy biên”, tạm dịch là: “Một trời ngọn bút Phương Đình, nghìn năm bên hồ Hoàn Kiếm”. Ngòi bút ấy đã hoá thành “Tháp bút” cùng “Đài nghiên” do ông tạo dựng như một công trình kiến trúc góp vào quần thể kiến trúc khu vực đền Ngọc Sơn cùng cầu Thê Húc, trấn Ba Đình, nay trở thành di tích lịch sử văn hoá quốc gia của Thăng Long – Hà Nội, của cả nước với bao nhiêu tự hào về đạo lý, truyền thống văn hiến của dân tộc và của người trí thức, hiện lên trong ba chữ “Tả thanh thiên”.
Tài liệu tham khảo
- Bùi Xuân Đính, 2005, Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
- Nguyễn Tiến Cường, 1998, Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
- Nguyễn Vinh Phúc, Bước đầu tìm hiểu Nguyễn Văn Siêu, Tạp chí Văn học, số 11/1986, tr.105-116.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Background
Nguyen Van Sieu (阮文超), originally named Dinh and later renamed Sieu, also known as An Sat Sieu; courtesy name Ton Ban; literary name Phuong Dinh. He was born in Trung village, Kim Lu commune, Khuong Dinh canton, Thanh Tri district, but from an early age moved with his family to Dung Tho, Tho Xuong, Hanoi. At the age of 13–14, young Sieu already displayed in his study a pair of parallel sentences expressing his aspiration: “Dao tai co kim vo khuc kinh, thien da bong tat san cao nhan” (The Way, from ancient times to the present, is never a shortcut; Heaven often produces great talents among humble thatched dwellings). The horizontal plaque and couplet revealed an early determination to become a person of talent and virtue, formed in this child of the imperial capital. Upon reaching adulthood, he studied under Doctor Pham Quy Thich in Hoa Duong village, Duong An district, Hai Duong tran. Nguyen Van Sieu was “renowned for his learning, ranging freely through classical literature, refusing to be constrained by conventional scholastic methods of the time; his reputation spread widely, surpassing many eminent Confucians of his day.”
Career
He was born in the Ky Mui year (1799) in Kim Lu village, former Thanh Tri district, now Dai Kim ward, Hoang Mai district, Hanoi. From childhood, he was famous for his intelligence, love of learning, and early display of exceptional ability.
As an adult, he studied under Doctor Pham Quy Thich, a leading scholar of the time, and maintained a close literary friendship with Cao Ba Quat, who was about ten years his junior. At the age of 26, he sat the Huong examination and placed second (A Nguyen). However, it was more than ten years later that he resumed the examination path and attained the Pho Bang degree in the Mau Tuat examination (1838) under Emperor Minh Mang.
The long interruption in his examination career is explained in Dai Nam Chinh Bien Liet Truyen as stemming from his focus on reading to cultivate classical prose and broaden learning rather than devoting himself to examination-oriented study. After passing the Huong examination, he often declined further selection exams and withdrew into a reclusive life to nurture his own aspirations. Only more than a decade later did he return to the examinations and pass the doctorate-level examination (Pho Bang). His cohort included other notable figures such as Pham Van Nghi, Nguyen Cuu Truong, Doan Khue, and Dinh Nhat Than.
In the very year he graduated (1838), he was appointed Kiem Thao at the Han Lam Academy. In 1839, he became Chu Su of the Ministry of Rites, and in 1840 was promoted to Vien Ngoai Lang. At the end of that year, Emperor Minh Mang died and was succeeded by Emperor Thieu Tri. Recognizing Nguyen Van Sieu’s learning and ability, Thieu Tri transferred him to the Imperial Secretariat as Thua Chi, and later concurrently appointed him Thi Giang, personally instructing the imperial princes, including Nguyen Phuc Hong Bao and Nguyen Phuc Hong Nham.
In the eighth lunar month of 1841, he was appointed examiner at the Thua Thien provincial examination. In a case involving the alteration of Cao Ba Quat’s examination paper that was discovered, Nguyen Van Sieu was implicated and subjected to corporal punishment and penal servitude. Upon review, the court mitigated the penalty, and he was only dismissed from office.
In 1847, Nguyen Phuc Hong Nham ascended the throne as Emperor Tu Duc. Two years later, Nguyen Van Sieu was appointed Deputy Envoy on a diplomatic mission to Yen Kinh (present-day Beijing). Before departure, Emperor Tu Duc entrusted him with special confidence, instructing him to carefully observe the mountains, rivers, and customs and to record everything in detail. Fulfilling this charge, upon his return in 1850 he submitted to the court the work Van Ly Tap Dich Trinh Tau Thao.
After the mission, he was promoted to Hoc Si at the Tap Hien Institute. In 1851, he was appointed An Sat of Ha Tinh, and later transferred to serve as An Sat of Hung Yen. During this period, amid debates over proposals to dismantle dikes, he submitted memorials opposing the policy, presenting clear and concrete arguments. Due to illness, he requested reassignment and then took medical leave to return home. Not long after, he was reinstated as Thi Doc of the Han Lam Academy, but owing to age and declining health, he officially retired in 1854.
From then until his death in 1872 at the age of 73, Nguyen Van Sieu lived mainly in Hanoi, devoting nearly the last twenty years of his life to teaching and compiling books. Alongside his scholarly career, he left a profound imprint on the cultural life of Thang Long.
After Retirement
From retirement until his death, Nguyen Van Sieu continued to reside in Hanoi and made significant contributions in academic, cultural, and social spheres. With his scholarly prestige and literary talent, he remained valued by the court and was often invited to assist in drafting important documents for major state ceremonies.
During the period of French colonial invasion, despite advanced age, he actively participated in local defense efforts, contributing to the protection of his homeland. In recognition of these services, the court conferred upon him the honorary rank of Thi Doc of the Han Lam Academy.
Nguyen Van Sieu also played a prominent role in revitalizing Thang Long’s cultural life. After succeeding Vu Tong Phan as head of the Huong Thien Association, he advocated the restoration of monuments, improvement of landscapes, and revival of the former capital’s cultural space. Most notably, he led the renovation of Ngoc Son Temple in 1865, including structures such as Thap But, Dai Nghien, and The Huc Bridge, which became enduring symbols of learning and the nation’s tradition of respect for education.
In addition, Nguyen Van Sieu devoted great energy to education. He founded Phuong Dinh School in Hanoi, training many successful students, while compiling and teaching numerous classical works, making an important contribution to the transmission of knowledge and the cultivation of talent in his later years.
Literary Legacy
In terms of authorship, Nguyen Van Sieu left the following works:
- Phuong Dinh Van Loai (Classified Prose of Phuong Dinh)
- Phuong Dinh Thi Loai (Classified Poetry of Phuong Dinh)
- Phuong Dinh Thi Van Tap (Collected Poetry and Prose of Phuong Dinh)
- Phuong Dinh Tuy But Luc (Miscellaneous Notes of Phuong Dinh)
- Phuong Dinh Du Dia Chi (Geographical Records of Phuong Dinh)
He also researched and annotated classical texts for teaching purposes, including:
- Chu Kinh Khao Uoc (Abridged Studies of the Classics)
- Chu Su Khao Thich (Studies and Annotations of Historical Works)
- Tu Thu Bi Giang (Comprehensive Explanations of the Four Books)
This cultural luminary, Nguyen Van Sieu, was later generations’ subject of much praise, distilled into two ten-character lines: “Nhat dai Phuong Dinh but. Thien thu kiem thuy bien”—roughly translated as, “One age of the Phuong Dinh brush; a thousand years by Hoan Kiem Lake.” That brush was transformed into the architectural works Thap But and Dai Nghien, which he created as part of the Ngoc Son Temple complex together with The Huc Bridge in the Ba Dinh area, now a national historical and cultural site of Thang Long–Hanoi and of the entire country, embodying pride in the nation’s moral values and literary tradition, crystallized in the three characters “Ta Thanh Thien.”
References
- Bùi Xuân Đín,2005,: Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
- Nguyễn Tiến Cường, 1998, Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
- Nguyễn Vinh Phúc, Bước đầu tìm hiểu Nguyễn Văn Siêu, Tạp chí Văn học, số 11/1986, tr.105-116.
Tiếng Pháp
Nguyen Van Sieu (1799–1872)
Origines et formation
Nguyen Van Sieu (阮文超), d’abord prénommé Dinh puis renommé Sieu, également appelé An Sat Sieu, portait le nom de courtoisie Ton Ban et le nom de plume Phuong Dinh. Il naquit au hameau de Trung, commune de Kim Lu, circonscription de Khuong Dinh, district de Thanh Tri. Dès l’enfance, il suivit toutefois sa famille pour s’établir à Dung Tho, Tho Xuong, à Hanoi.
À l’âge de treize ou quatorze ans, le jeune Sieu fit déjà accrocher dans sa salle d’étude un couplet paralléliste exprimant sa conception de la voie et de l’excellence humaine : « La Voie, de l’antiquité à nos jours, n’est jamais un raccourci ; le Ciel fait souvent naître de grands talents parmi les chaumières ». Cette inscription révélait très tôt la volonté de devenir un homme de talent et de vertu, déjà ancrée chez cet enfant de la capitale.
À l’âge adulte, il étudia auprès du docteur Pham Quy Thich, dans le village de Hoa Duong, district de Duong An, province de Hai Duong. Nguyen Van Sieu se distingua rapidement par une érudition remarquable : il maîtrisait les textes anciens, refusait de se plier aux méthodes scolaires conventionnelles, et sa réputation dépassa bientôt celle de nombreux lettrés renommés de son temps.
Carrière
Nguyen Van Sieu naquit en 1799 (annee Ky Mui) au village de Kim Lu, ancien district de Thanh Tri, aujourd’hui quartier de Dai Kim, arrondissement de Hoang Mai, Hanoi. Très tôt, il fut reconnu pour son intelligence vive et son goût prononcé pour l’étude.
Parvenu à l’âge adulte, il poursuivit son apprentissage auprès de Pham Quy Thich, grand lettré de l’époque, et entretint une profonde amitié littéraire avec Cao Ba Quat, bien que ce dernier fût plus jeune d’une dizaine d’années. À vingt-six ans, Nguyen Van Sieu se présenta à l’examen provincial (Thi Huong) et obtint le rang d’A nguyen, deuxième lauréat parmi les licencies. Toutefois, il interrompit ensuite sa carrière aux concours pendant plus de dix ans, avant de reprendre et de réussir l’examen de Pho bang en 1838, sous le règne de l’empereur Minh Mang.
Cette longue interruption est expliquée dans le Dai Nam chinh bien liet truyen : Nguyen Van Sieu privilégiait la lecture approfondie et la formation en prose classique, estimant l’élargissement de son savoir plus important que la préparation aux concours. Après avoir obtenu le grade de Huong tien, il refusa souvent de participer aux sélections ultérieures et mena une vie retirée afin de cultiver ses propres idéaux. Ce n’est qu’après plus de dix ans qu’il se représenta aux examens et réussit finalement l’« examen B », équivalent au grade de Pho bang. Parmi les lauréats de la même promotion figuraient notamment Pham Van Nghi, Nguyen Cuu Truong, Doan Khue et Dinh Nhat Than.
Dès l’année de sa réussite (1838), il fut nommé Kiem thao à l’Academie Han Lam. En 1839, il passa au ministere des Rites comme Chu su, puis fut promu Vien ngoai lang en 1840. À la fin de cette même année, l’empereur Minh Mang décéda et Thieu Tri lui succéda. Reconnaissant l’érudition et les compétences de Nguyen Van Sieu, Thieu Tri l’appela au Secretariat interieur (Noi cac) comme Thua chi, puis lui confia également la fonction de Thi giang, chargé d’enseigner aux princes impériaux, dont Nguyen Phuc Hong Bao et Nguyen Phuc Hong Nham.
En août 1841 (calendrier lunaire), il fut désigné examinateur adjoint (Phan khao) à l’examen provincial de Thua Thien. À la suite de l’affaire liée à la correction des copies de Cao Ba Quat, il fut impliqué et condamné à la bastonnade et aux travaux forcés. Après réexamen, la cour allégea toutefois la sanction et se contenta de le destituer de ses fonctions.
En 1847, Nguyen Phuc Hong Nham monta sur le trône sous le nom de Tu Duc. Deux ans plus tard, Nguyen Van Sieu fut nommé vice-ambassadeur dans la mission envoyée à Yen Kinh (actuel Pekin). Avant son départ, Tu Duc lui confia personnellement la mission d’observer attentivement les paysages, les coutumes et de tout consigner par écrit. De retour en 1850, Nguyen Van Sieu présenta à la cour son ouvrage Van ly tap dich trinh tau thao.
Après cette mission diplomatique, il fut promu Hoc si à l’Institut Tap Hien. En 1851, il fut nommé An sat de Ha Tinh, puis transféré au poste d’An sat de Hung Yen. À cette époque, lors des débats concernant la destruction des digues, il adressa un mémoire de protestation solidement argumenté. Tombé malade, il demanda ensuite sa mutation, puis se retira pour raison de santé. Peu après, il fut rappelé comme Thi doc à l’Academie Han Lam, mais en raison de son âge et de sa condition physique, il sollicita officiellement sa retraite en 1854.
Jusqu’à sa mort en 1872, à l’âge de soixante-treize ans, Nguyen Van Sieu vécut principalement à Hanoi. Il consacra près de vingt années à l’enseignement et à la rédaction d’ouvrages, tout en laissant une empreinte durable sur la vie culturelle de Thang Long.
Après la retraite
De sa retraite jusqu’à son décès, Nguyen Van Sieu continua d’apporter des contributions importantes aux domaines académique, culturel et social. Grâce à son prestige intellectuel et à son talent littéraire, il resta estimé par la cour, qui le sollicitait encore pour la rédaction de textes lors de grandes cérémonies.
Dans le contexte de l’invasion coloniale française, malgré son âge avancé, il participa activement à l’organisation de la défense locale afin de protéger sa région. Pour ces services, la cour lui conféra le titre honorifique de Thi doc de l’Academie Han Lam.
Par ailleurs, Nguyen Van Sieu joua un rôle majeur dans la revitalisation de la culture de Thang Long. Après avoir succédé à Vu Tong Phan à la tête de l’association Huong Thien, il entreprit la restauration de monuments, l’amélioration des paysages et la réhabilitation de l’espace culturel de l’ancienne capitale. L’exemple le plus emblématique est la rénovation du temple Ngoc Son en 1865, comprenant notamment la Tour du Pinceau (Thap But), le Pavillon de l’Encrier (Dai Nghien) et le pont The Huc, devenus des symboles de l’esprit confucéen et de la tradition du respect du savoir.
Il se consacra également avec ferveur à l’éducation : il fonda l’ecole Phuong Dinh à Hanoi, forma de nombreux élèves de talent et rédigea, expliqua et enseigna de nombreux textes classiques, contribuant de manière essentielle à la transmission du savoir à la fin de sa vie.
Heritage litteraire
En tant qu’auteur, Nguyen Van Sieu laissa notamment les ouvrages suivants :
- Phuong Dinh van loai (recueil de prose classee)
- Phuong Dinh thi loai (recueil de poesie classee)
- Phuong Dinh thi van tap (anthologie de poesies et proses)
- Phuong Dinh tuy but luc (notes diverses de Phuong Dinh)
- Phuong Dinh du dia chi (traité de geographie)
Il mena également des travaux de recherche et d’annotation de textes classiques à des fins pédagogiques, parmi lesquels :
- Chu kinh khao uoc (etude synthetique des Classiques)
- Chu su khao thich (analyse et commentaire des Histoires)
- Tu thu bi giang (commentaire complet des Quatre Livres).
La postérité a résumé la stature culturelle de Nguyen Van Sieu dans deux vers célèbres :
« Nhat dai Phuong Dinh but, thien thu kiem thuy bien », que l’on peut traduire par : « Une vie entière sous le pinceau de Phuong Dinh, mille ans au bord du lac Hoan Kiem ».
Ce pinceau s’est matérialisé dans la Tour du Pinceau et le Pavillon de l’Encrier, édifiés par Nguyen Van Sieu et intégrés à l’ensemble architectural du temple Ngoc Son et du pont The Huc, aujourd’hui classé monument historique et culturel national de Thang Long – Hanoi, incarnant la tradition morale, l’héritage savant et l’idéal intellectuel exprimé dans les trois caractères : Ta thanh thien.
Références
- Bùi Xuân Đín,2005,: Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
- Nguyễn Tiến Cường, 1998, Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
- Nguyễn Vinh Phúc, Bước đầu tìm hiểu Nguyễn Văn Siêu, Tạp chí Văn học, số 11/1986, tr.105-116.
Tiếng Trung
阮文超(Nguyen Van Sieu,1799–1872)
身世
阮文超(Nguyen Van Sieu),初名定,后改名为超,又称“按察超”;字逊班(Ton Ban),号方亭(Phuong Dinh)。阮文超生于中村,金缕社,姜亭总,清池县,但自幼随家人迁居勇寿,寿昌县(今河内)。十三四岁时,少年阮文超便在书斋悬挂对联:“道在古今无曲径,天多蓬荜必生高人”(意为:道自古今并非捷径,苍天常在茅舍草庐中孕育英才)。匾额与对联彰显其立志成就德才之志,自幼已在这位京畿子弟心中萌发。成年后,他师从当时著名进士范贵适(Pham Quy Thich),就读于海阳镇塘安县花塘村。阮文超“以学业渊博著称,纵横古文辞,不拘于世俗科举之学,声名渐起,超越当时诸多名儒”。
事业
阮文超生于己未年(1799),故里金缕村,清池县(今属河内市黄梅郡大金坊)。自幼聪慧好学,才质过人。成年后从学于进士范贵适,并与高伯适(Cao Ba Quat)有深厚的诗文交游,尽管高伯适年少其约十岁。二十六岁时,他参加乡试,中亚元(举人第二名)。然其后十余年间中断科举,至明命帝(Minh Mang)朝戊戌科(1838)方中副榜。
《大南正编列传》解释其久不应试之因:阮文超更重博览群书、锻炼古文、扩充学识,而非专事应试之学。中乡贡后,他多次拒绝后续选拔,退居隐居,涵养志趣。十余年后方再赴考,中乙科进士(即副榜)。同科者尚有范文议(Pham Van Nghi)、阮玖长(Nguyen Cuu Truong)、尹奎(Doan Khue)、丁日慎(Dinh Nhat Than)等。
中第当年(1838),授翰林院检讨。1839年转礼部主事,1840年升员外郎。是年末明命帝崩,绍治帝(Thieu Tri)即位,鉴其学识才能,调入内阁任承旨,并兼任侍讲,亲授诸皇子,其中包括阮福洪保(Nguyen Phuc Hong Bao)与阮福洪任(Nguyen Phuc Hong Nham)。
1841年八月(农历),任承考官于承天乡试。因牵涉高伯适试卷改动案而受连坐,遭杖、徒之刑;后经复核减轻,仅革职。1847年,阮福洪任即位,是为嗣德帝(Tu Duc)。两年后,阮文超被任为副使,出使燕京(今北京)。临行前,嗣德帝以特别信任嘱其详察山川风俗、详加记录。1850年回国后,进呈《万里集译程奏草》。
归国后,升集贤院学士。1851年,任河静按察使,继转兴安按察使。其间,针对毁堤主张上疏反对,论证详明。后因病请调,旋告病归乡。不久复任翰林院侍读,然以年高体弱,1854年正式致仕。
此后至1872年卒,享年七十三,阮文超主要居于河内,近二十年潜心教学与著述,除学术成就外,对升龙文化生活亦留下深刻印记。
致仕之后
致仕至卒,阮文超仍活跃于学术、文化与社会事务。凭其学望与文名,朝廷仍屡请其参与重大典礼文书之撰拟。法兰西殖民势力入侵之际,虽年事已高,仍积极参与地方防务,贡献力量,因而获赐翰林院侍读衔。
同时,他在振兴升龙文化方面居功甚伟。继武宗潘 (Vu Tong Phan)之后主持向善会,主张修缮古迹、整饬景观、复兴古都文化空间。尤以1865年主持修葺玉山祠为代表,兴建笔塔、研台、栖旭桥等,成为民族道学与尚学传统之象征。
此外,阮文超倾力教育,于河内开设方亭书院,培养众多成才弟子,并编纂、讲授多种经典,对晚年之知识传播与人才涵育贡献卓著。
文学遗产
其著述包括:
- 《方亭文类》(方亭文集分类)
- 《方亭诗类》(方亭诗集分类)
- 《方亭诗文集》
- 《方亭随笔录》
- 《方亭舆地志》
另有为教学而研究、注释古籍之作:
- 《诸经考约》
- 《诸史考释》
- 《四书备讲》
后人以十字二句赞其人曰:“一代方亭笔,千秋检水边”,意译为:“一代方亭妙笔,千秋伴守还剑湖”。其笔化为“笔塔”与“研台”,与其所建之栖旭桥共同构成玉山祠建筑群,位于巴亭之镇,今为升龙—河内乃至全国之国家级历史文化遗迹,集中展现民族道义、文献传统与士人精神,凝结于“写青天”三字之中。
参考资料
- Bùi Xuân Đín,2005,: Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
- Nguyễn Tiến Cường, 1998, Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
- Nguyễn Vinh Phúc, Bước đầu tìm hiểu Nguyễn Văn Siêu, Tạp chí Văn học, số 11/1986, tr.105-116.