Khái quát
Ngày 19/6/1924 tại khách sạn Victoria ở phía bắc thành phố Sa Diện (Quảng Châu Trung Quốc), anh hùng Phạm Hồng Thái đã thực hiện cuộc mưu sát mưu sát tên Toàn quyền Dương Merlin. Dù không thành công, nhưng tiếng bom vang dội ấy có ý nghĩa tích cực cổ động hàng triệu con dân nước Việt đang bị áp bức tin tưởng vào cho phong trào cách mạng Việt Nam. Họ tin tưởng rằng, dù trong đêm tối, trong giông tố nhưng một khi có một cánh én nhỏ nhoi xuất hiện, cũng là lúc mùa xuân đang đến… Hành động oanh liệt này, trước đó, ngay trong nước đã có những con người dũng cảm như Phạm Văn Tráng, Nguyễn Khắc Cần… thực hiện.
Bối cảnh lịch sử
Để góp phần tìm hiểu ý nghĩa của sự kiện này, thiết nghĩ chúng ta cần đọc lại “Phan Bội Châu niên biểu”. Trong đó, giai đoạn năm từ 1910, cụ Phan cho biết:
Tháng 10 năm Tân Hợi (1911) quân Cách mạng Trung Hoa đánh chiếm Vũ Xương, được toàn quốc hưởng ứng, nên chưa đầy ba tháng đã đánh đổ được ngai vàng nhà Mãn Thanh; chính phủ Dân quốc thành lập ở Nam Kinh. Tôi nghe được tin này vui mừng khôn xiết, máu nóng phục thù sôi lên sùng sục. Tôi nghĩ đảng Cách mạng Trung Hoa thành công, thì chính phủ bây giờ không phải chính phủ thối nát như trước; nước Trung Hoa tất nhiên hùng cường không kém gì Nhật Bản, nếu hai nước Trung – Nhật đều dốc toàn lực lượng để tiêu diệt bọn xâm lược Âu châu, thì không những Việt Nam ta mà cả Ấn Độ, Phi Luật Tân cũng đồng thời độc lập… Từ sau khi sang Nhật được nghiên cứu nguyên nhân cách mạng nước ngoài và chính thể các nước thì tôi rất say sưa với lý luận của Lư Thoa (Rousseau)…
Rõ ràng do ảnh hưởng từ thắng lợi của cách mạng tư sản Trung Quốc năm 1911 và được tiếp thu lý luận từ các cuốn Dân ước luận của Rousseau và Vạn pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu)… nên cụ Phan cùng các đồng chí đã quyết định cải tổ Hội Duy Tân thành Việt Nam Quang phục Hội vào đầu tháng 2/1912 với mục đích:
Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam.
Phạm Văn Tráng
Ông Phạm Văn Tráng, sinh năm 1885, bí danh Nguyễn Thế Trung, người quê Bát Tràng, nhưng thuở nhỏ sống tại phố Hàng Nâu (Nam Định) và lớn lên ông có thời gian dạy học tại làng Hành Thiện. Ông thường tâm sự với mọi người:
Người Pháp vẫn là kẻ thù của ta, những đứa nịnh Pháp hại người là kẻ thù đáng ghét hơn nữa.
Năm 1907, ông hoạt động trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và sau đó, khi phong trào bị thực dân đàn áp, bắt bớ, ông trốn sang Trung Quốc và gia nhập Việt Nam Quang phục Hội. Nhân đây cũng xin cung cấp cho bạn đọc một chi tiết: Người sẽ nhận bản án tử hình là tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn! Y được thực dân Pháp thưởng huân chương Bắc đẩu bội tinh vì có công làm mật thám, bắt bớ và tra tấn tàn nhẫn các chiến sĩ trong phong trào Đông du. Nhưng ở đời cây độc sinh trái ngọt cũng là chuyện thường tình. Bởi lẽ, Nguyễn Duy Hàn lại là ông nội của một nhân vật có tiếng tăm trong lịch sử nước nhà: Nguyễn Thế Truyền! Năm 1910, phó công sứ tỉnh Thái Bình về nghỉ phép thường niên đã đem theo cậu bé mới mười, cháu đích tôn của quan tuần phủ sang Pháp lo cho ăn học. Dù vậy, Nguyễn Thế Truyền lại sớm tiếp thu tư tưởng tiến bộ và có nhiều hoạt động cách mạng trong thập niên 1920 – 1930 tại Pháp, nhưng đó là chuyện sau này. Trở về nước, rạng sáng ngày 12/4/1913, Phạm Văn Tráng cùng Phạm Đệ Quý, người Nam Định sang Thái Bình. Người đồng chí này có nhiệm
vụ cảnh giới để ông thực hiện nhiệm vụ.
Lúc 11 giờ trưa, trời nắng gắt, không một gợn gió thổi đến. Trên chiếc xe tay, tuần phủ Hàn ngồi chễm chệ, mặt hất lên nhìn trời. Từ dinh công sứ về dinh của quan tuần phủ là một đoạn đường dài… Một tên lính gầy gò đang còng lưng kéo ì ạch, tiếng thở phì phò. Hai bên xe có hai tên lính bám theo, một tên ôm tráp, một tên xách điếu rảo chân bước theo. Khi chiếc xe vừa kéo đến dinh của Hàn thì đột nhiên một tiếng nổ đinh tai điếc óc! Đó là lúc Phạm Văn Tráng đã ném quả tạc đạn! Tiếng nổ đanh như sét đánh. Khói mù mịt. Nạn nhân chết ngay
tại chỗ. Thực hiện xong nhiệm vụ, Phạm Văn Tráng vẫn bình tĩnh. Trong dáng bộ tất tả bước nhanh về quán nước phía đầu làng, nét mặt của ông bình thản lạ thường. Uống một ngụm chè xanh đặc quáng và hút một hơi thuốc lào ung dung nhả khói lên trời xanh, ông bình tĩnh nghe ngóng tin tức mà thiên hạ đang xôn xao bàn tán. Sau khi biết đích xác nạn nhân đã về chín suối thì ông mới đứng dậy tẩu thoát…
Nguyễn Khắc Cần
Trong lúc nhà cầm quyền đang chạy như đèn cù để truy tìm thủ phạm, thì chỉ hai tuần sau, ngày 26/4/1913, chúng choáng váng khi nghe một tiếng bom khác lại nổ ra ngay tại “Hà Nội khách sạn”. Tiếng bom vang dội này đã giết chết hai tên trung tá Pháp là Mongrand và Chapuis, còn lại một số tên khác chỉ trọng thương. Người đã thực hiện nhiệm vụ vẻ vang này là hai ông Nguyễn Khắc Cần và Nguyễn Văn Túy, công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm.
Ông Nguyễn Khắc Cần, tên chữ là Tiểu Lâm, sinh năm 1875 tại thôn Yên Viên (nay thuộc huyện Gia Lâm – Hà Nội), thi Hương đậu nhị trường, nhưng sau đó chán ngán khoa cử đương thời nên ông không đi thi nữa, về nhà mở trường dạy học nên được gọi Đồ Cần. Thuở nhỏ khi xem sử Tàu đến chuyện Kinh Kha, ông bỏ sách, vỗ đùi hét lớn: “Thật đáng mặt nam nhi!”. Do ảnh hưởng của phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, ông cùng ông Tráng đã trốn sang Trung Quốc và gia nhập Việt Nam Quang phục Hội.
Bị bắt, xét xử và hy sinh
Thực dân Pháp đã giăng lưới chằng chịt khắp hàng cùng ngõ hẻm nhằm bắt cho bằng được thủ phạm. Do hai tên phản bội Đặng Kinh
Luân và Đặng Vũ Hoàn không chịu nổi đòn thù đã khai báo, giặc Pháp nắm được danh sách và đường đi nước bước của các hội viên. Sau một thời gian mai phục tại Lạng Sơn, ngày 7/5/1913 chúng đã bắt được hai ông Phạm Văn Tráng và Nguyễn Khắc Cần, lúc họ sắp vượt qua biên giới. Lúc bị giải về Hỏa Lò (Hà Nội) biết có chối cãi cũng vô ích, Phạm Văn Tráng tự nhận mình là người đã làm những việc “kinh thiên động địa” trên. Thực dân Pháp không tin một người nho nhã, ăn nói điềm đạm, môi đỏ như son, vóc dáng nhỏ nhắn lại có thể làm được những việc động trời. Vì thế chúng bắt bà bán hàng nước lúc ông ngồi ngóng tin tức sau khi ném tạc đạn lên nhận mặt! Còn với ông Nguyễn Khắc Cần khi chúng tra hỏi thì ông quyết không hé răng nói nửa lời, mãi đến khi tay thông
ngôn bước vào phiên dịch thì ông mới quát lên:
– Ông cũng là người Việt Nam như tôi, sao ông lại hỏi tôi những câu như bọn mắt xanh mũi lõ? Ông cứ nói cho chúng biết hết suy nghĩ của tôi, dù tôi có chết ngay bây giờ, hay chết vào ngày hôm sau thì cũng chẳng có gì khác nhau đâu! Nếu chúng kết án tôi, muốn chặt đầu tôi thì tôi sẵn sàng rồi, đừng tra hỏi gì nữa mà vô ích. Hành động của tôi minh bạch như hai vầng nhật nguyệt, rõ ràng như nước trong khe có gì mờ ám đâu! Năm ba người bị xử tử à? Thây kệ! Những người khác sẽ noi theo gương chúng tôi mà tiếp tục hành động, chúng không giết được hết người của chúng tôi đâu!
Ngày 7/5/1913, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định giao cho Hội đồng Đề hình xét xử; ngày 29/8/1913 có 97 người bị đưa ra tòa (trong đó 13 người vắng mặt và một số yếu nhân của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục); ngày 5/9/1913, Hội đồng Đề hình tuyên án tử hình 6 người: Phạm Văn Tráng, Nguyễn Khắc Cần, Phạm Đệ Quý, Vũ Ngọc Thụy, Phạm Hoàng Quý, Phạm Hoàng Triết; ngày 24/9/1913, lúc 5 giờ 45 phút những chiến sĩ này bị thực dân Pháp đưa ra xử quyết tại cửa trại giam Hỏa Lò Hà Nội. Có một chi tiết đáng để ta suy nghĩ là trên báo Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc kỳ) số ra ngày 25/9/1913 trong bài tường thuật có cho biết, trước lúc đầu lìa khỏi cổ, Phạm Văn Tráng đã nói, ông có nguyện vọng là sau khi hồn lìa khỏi xác thì ném xác của ông xuống sông Hồng, chứ không muốn chôn trên mảnh đất đã bị quân cướp nước và bán nước giày xéo! Những cái chết oanh liệt này đã kích thích tinh thần của các chiến sĩ cách mạng trong và ngoài nước. Trong quyển Việt Nam nghĩa liệt sử có thơ điếu Phạm Văn Tráng:
Gươm tuốt xông trời, thù khiếp đảm,
Sấm vang động đất, nước kêu hồn.
…
Huyết mạch anh hùng còn mãi mãi,
Nghìn thu nghĩa hiệp gốc không mòn.
…
Và đánh giá sự kiện trên như sau: “Người ta ở trên đời này, thế đạo còn mờ, quần chúng còn mê, ma quỷ hoành hành, giữa ban ngày hàng
trăm hàng ngàn (ma quỷ) quần tụ với nhau, hút máu người ngủ mê, nếu không có sấm điện trong lúc này đuổi ma quỷ đi, thức quần chúng dậy thì ôi thôi chúng ta cũng là quỷ mà thôi! May thay, may thay, gần đây mới có một tiếng sấm chớp bắt đầu thử nổi lên, không nghi ngờ gì nữa, đó là cái triệu chứng muốn làm cho nhân loại sống lại. Mạnh mẽ làm sao! Mạnh mẽ làm sao!”. Trần Quốc Huy (có thể là bút danh của cụ Phan Bội Châu) khóc bằng bài thơ điếu (Tôn Quang Phiệt dịch):
…
Ba xuân thức tỉnh loài rồng rắn,
Một tiếng làm kinh bọn quỷ chìm.
…
Bốn ngàn năm sử tô màu mới,
Giọt máu tươi này chiếu cổ kim.
và liễn điếu:
Đọc suốt lịch sử bốn ngàn năm, nào truyện thích khách, nào truyện hiệp khách, thật ông đáng đứng đầu cuốn sách anh hùng, nên cùng mặt
trời trăng sao, nêu cao tên tuổi; Nói tới đồng bào năm ngàn vạn, đây thù dân ta, đây thù nước ta, huống ngươi cũng giống quý da vàng châu Á, cần vì non sông thành quách, rửa sạch hôi tanh.
(Vũ Tuấn Sán dịch)
Trong tập sách này cũng có thơ điếu, liễn viếng khóc ông Nguyễn Khắc Cần rất thống thiết, lại còn có cả bài cảm tác ghi nhận về chiến
công oanh liệt hai ông:
Trong trường mê mộng sấm vang rền,
Hai chiếc đầu rơi một lúc liền.
Đồng chí nỡ xem ông phải chết,
Thân này sống với giặc sao yên!
Máu tươi vừa rửa non sông bẩn,
Lòng đỏ treo cùng nhật nguyệt trên.
Hai truyện đọc xong vung kiếm dậy,
Hồn người hồn nước tỉnh ngay lên.
(Tôn Quang Phiệt dịch)
Được biết, trong quá trình điều tra, thực dân Pháp cho rằng việc làm của các ông Phạm Văn Tráng, Nguyễn Khắc Cần đều có sự chỉ đạo của nhóm Phan Bội Châu ở hải ngoại nên trước đó, ngày 5/9/1913 Hội đồng Đề hình cũng tuyên án tử hình vắng mặt 6 người nữa, trong đó có Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Văn Túy, Hai Thạc (con trai cụ Nguyễn Thiện Thuật). Tháng 4/1915, có thêm 20 chiến sĩ của Việt Nam Quang phục Hội sa vào tay giặc Pháp. Sau đó, ông Hoàng Trọng Mậu bị kết án tử hình, ông Hai Thạc bị kết án khổ sai chung thân. Dù đàn áp, khủng bố bằng bạo lực nhưng thực dân Pháp cũng không thể tiêu diệt được ý chí của người yêu nước,
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.