Phong Tích Lịch Tàng quy Đại vương – Phong Thanh Đậu Đại vương – Phong Lê Thành Hành Đại vương

Phong Tích Lịch Tàng quy Đại vương – Phong Thanh Đậu Đại vương – Phong Lê Thành Hành Đại vương

Thông tin cơ bản

Chi Cấn, bộ thứ 3, Thượng trung đẳng.

Xưa cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh sinh ra Đế Tuyên. Về sau, Đế Minh đi tuần ở phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh gặp được nàng Vụ Tinh rồi sinh ra Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương tư chất phi thường, vốn có khí tượng đế vương. Đế Minh muốn truyền ngôi báu, Kinh Dương Vương cố nhường cho người anh. Đế Minh bèn truyền ngôi báu cho Đế Tuyên rồi phong cho Kinh Dương làm vương ở phương Nam, hiệu là nước Xích Quỷ. Dương Vương bái từ cha, đi nhậm chức.

Nước Việt ta trải xem sự thuận tiện của hình thắng sông núi, thì Hoan châu là nơi thắng địa để xây dựng kinh đô. Nơi núi Nghĩa Lĩnh hình thế hùng vĩ, đẹp đẽ bèn trùng tu miếu điện. Đến khi Kinh Dương Vương qua đời, Lạc Long Quân lấy tiên nữ Động Đình là Âu Cơ. Lúc đó, trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh mây ngũ sắc [16] rực rỡ, Âu Cơ mang thai, rồi sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm con trai. Những người con trai đều tư chất hơn người, đều là bậc anh hùng quán thế. Đến khi trưởng thành, vua bèn đặt tước hầu, lập bình phiên, chia làm mười lăm bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái châu, sáu là Hoan châu, bảy là Bố Chính châu, tám là Minh Linh châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông1.

Trước đó, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ:

– Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, tuy âm dương hợp lại mà có con, nhưng không cùng giống loài, thủy hỏa tương khắc.

Nhân đó chia biệt với Âu Cơ, chia năm mươi người con theo cha về biển làm thủy thần, năm mươi người con theo mẹ về núi làm [2a] sơn thần, người con cả được suy tôn là Hùng Vương, đời đời cha truyền con nối, đều xưng là Hùng Vương. Ngọc lụa xa thư, sơn hà thống nhất, là tổ của Bách Việt ta.

Lại nói, đến đời vua Hùng thứ mười tám, truyền đến vua Duệ Vương, không có người kế tự, bèn nhường ngôi cho Thục An Dương Vương. An Dương Vương được nước vừa 50 năm thì có người Chân Định, họ Triệu, tên là Đà đến xâm lược nên nhà Thục mất.

Triệu Đà được nước, cha truyền con nối, được năm đời làm vua. Từ đó, nước Việt ta thuộc về các triều Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương của Trung Quốc, tổng cộng đến 349 năm. Từ đó, nước Việt trải qua các triều Tiền Lý, Hậu Lý, Ngô Vương dựng nước, Nam Bắc phân tranh, mười hai sứ quân cát cứ các vùng đất.

Bấy giờ, ở trang Yến Vĩ, động Hương Tích, huyện Hoài An, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Tây có một người học hành giỏi giang hơn người, [2b] hiếu để gánh vác gia đình, họ Phạm, tên là Hoàng, vợ là Trương Thị Đàm. Vợ chồng vốn tích đức làm điều nhân, ba đời hương hỏa thờ cúng tổ tiên, lại là bậc phong lưu hết mực, cuộc sống thừa thãi, đủ đầy. Gia thế Phạm công ngầm tu đức thiện, lấy nghiệp nghề y, chút thiện cũng làm, không làm việc ác.

Lúc đó, Phạm công đã gần đến tuổi “tri thiên mệnh” (tức 50 tuổi), bà họ Trương cũng vừa qua tuổi “bất hoặc” (tức 40 tuổi) mà phúc con cái vẫn còn chậm trễ, điềm rồng rắn chưa thấy ứng nghiệm. Nhân đó, vợ chồng phiền muộn không vui, thường than rằng:

– Vàng chất như núi, gạo nhiều như biển đều chỉ là cỏ dại, con hiếu, cháu hiền còn nặng hơn vàng ngọc.

Ông bà bèn phát tán hết gia tài, chẩn phát cho người nghèo, cứu giúp cho người thiếu thốn, thêm lòng làm phúc, gắng sức làm điều nhân. Từ lúc tóc còn búi tó đến khi tóc bạc, chưa từng tranh chấp với ai. Nhà tích đức ắt phải được báo thiện. Một hôm, vợ chồng ông làm lễ chay vào chùa trong động Hương Tích dâng lễ Phật. Đêm hôm đó, vợ chồng ông [3a] nằm ở trước hương án, đến cuối canh ba, mơ màng tựa như mơ, trông thấy ánh đỏ khắp chùa, tòa kim thân sắc tướng trên điện có mấy chục người, bên tả là Bát bộ Kim cương2, bên hữu là Thập bộ La hán3. Sắc tướng kim thân4 trên điện nói với vợ chồng ông rằng:

Đêm qua thiên đình họp bách thần để bàn về việc nước Nam. Họ Đinh làm vua, họ Nguyễn giúp rập, họ Phạm phò tá.

Trong Phật giới lại có người hỏi rằng:

Họ Đinh thế nào, họ Nguyễn thế nào, họ Phạm thế nào, họ Đinh có phúc đức gì? Hai họ Nguyễn, Phạm ở trong nước, bảy tám đời không làm một chút điều ác, hoàng thiên quyết định cho sứ giả Đông phương Thanh y, sứ giả Tây phương Bạch y, sứ giả Nam phương Xích y, đồng thời giáng sinh vào nhà họ Phạm làm con, [3b] để giúp nhà Đình.

Nghe nói chưa dứt lời thì bỗng nhiên hai vợ chồng tỉnh lại mới biết chỉ là giấc mộng cửa bồng thôi. Ngày hôm sau, trở về đến nhà, đến đêm lại mộng thấy ba con gấu cùng nhảy múa ở trước màn. Từ đó, lại thấy bà vợ là Trương thị trong người thấy khác rồi có thai. Đến đêm ngày mồng 7 tháng Giêng năm Giáp Dần, ông mông lung ngủ thiếp đi, bỗng thấy mình đi đến một nơi điện vũ nguy nga, quan bộ tòng xếp hàng, đầu trâu, ngục tốt kèm hai bên, người bị ném vào vạc dầu chịu hình, nhiều người vác mâm máu. Có một người vẫy ông sai ra đó, trong mơ ông thấy mình bỏ đi, đi được một đoạn thì thấy có một dòng sông ba đầu, ở chỗ nước giao nhau, có một cây cầu, bên cầu cổ thụ mỏng như tờ giấy. Ở dưới thì giao long há miệng như muốn làm người ta kinh hãi. Ông bèn ngồi bên dưới cây cổ thụ trên cầu. Một lúc sau, thấy một đứa trẻ mặc áo xanh từ phương Đông đi lại, đi qua cái cầu này, lại thấy một đứa trẻ mặc áo trắng [4a] đi từ phương Tây lại, một đứa trẻ mặc áo đỏ, đi từ phương Nam lại. Đứa trẻ áo trắng, đứa trẻ áo đỏ gọi đứa trẻ áo xanh hỏi rằng:

– Anh đi từ nơi nào đến mà đi vội vàng thế?

Đứa trẻ áo xanh trả lời rằng:

Các ngươi há không biết sao? Ta và hai ngươi đều khâm phụng mệnh lệnh của thiên đình đầu thai vào nhà họ Phạm làm con, sinh thời giúp nhà Đinh bình 12 sứ quân, sau khi chết làm thánh nhân, thác xuống làm phúc thần của trang Cổ Sách.

Nói xong cả ba đều cất tiếng cười ha hả, rồi cùng khoác vai mà đi. Vừa đi vừa nói:

– Đi nhanh đi nhanh, không thì qua đây có tội.

Ông bỗng nhiên tỉnh lại, thì thấy bà Trương sắp sinh. Đến giờ Ngọ ngày hôm sau, tức ngày mồng 8 tháng Giêng, sinh hạ được một bọc ba con trai, đều có tư chất khác thường, diện mạo khôi ngô. Một người con trai mặt xanh như chàm, như sấm rền một phương, mang một cái ấn vuông đề chữ rằng: Quy tướng Uy linh. Một người mặt trắng [46] như phấn. Một người mặt đỏ như son. Cậu bé mặt xanh đặt tên là Tích công, cậu bé mặt trắng đặt tên là Thánh công, cậu bé mặt đỏ đặt tên là Thành công. Ngày qua tháng lại, các con đã được năm tuổi, than ôi cũng là vận mệnh, bà họ Trương bỗng nhiên bị bệnh mà mất, ông từ đó ở góa, gà trống nuôi con.

Lại gặp lúc địa phương đó nhiều năm mất mùa, chiến tranh nổi lên, có một người tên là Phan Công Tề, tính tình rất khắc nghiệt, tụ tập bè đáng cướp bóc, đông đến mấy nghìn người, muốn mưu đồ việc lớn, cư trú ở trong động Hương Tích. Phan Công Tề thấy Phạm công có tài mưu trí, lại giỏi nghề y, muốn cưỡng ép Phạm công theo, nhiều lần Phạm công đều không chịu. Ông bèn ôm ba con khóc rằng:

– Nhà ta vốn làm điều thiện, nay gặp đám hỗ lang này, chẳng có chút lòng trung thực lương thiện sáng suốt, muốn mưu việc lớn sao thành đây? Nay nếu theo bọn người đó [5a] thì phúc đức nhà ta vì ta mà bị tẩy trừ hết, chẳng bằng tim riêng một nơi tốt. Có trời thì nơi nào là không có gió xuân?

Nói xong bèn làm lễ bái yết tiên đường, gói ghém của cải, một buồm phong cảnh, bốn phía núi sông, đi suốt đến địa đầu huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, đạo Hưng Yên thì thấy bên đường có một ngôi miếu cổ, biển đề là Thượng đẳng Tối linh. Lúc đó, mặt trời đã xuống núi, bốn phía núi sông, gia nhân tịch mịch, cha con ông dắt nhau vào trong miếu trú lại một đêm. Đến nửa canh thì thấy mơ màng như mộng, bỗng nghe thấy trên điện có tiếng người tụng rằng:

Bi Phạm công hề! Ngã vị công Cổ Sách tại bàn huyện chỉ trung.

Nghỉ tương tam tử cư vụ thử, Trúc bạch danh thùy vạn thể công.

(Ông Phạm công ơi, ta bảo ngay, Cổ Sách trang ấy ở huyện này, Cùng dắt ba con đến nơi đó, Vạn thế công danh mãi từ đây).

Ông tỉnh lại mới biết là thơ thần báo. Ngày hôm sau, làm lễ bái tạ, cha con lên đường [56] hỏi người các trang, tìm trang Cổ Sách (nay đổi là Lập Bái-NC). Lúc đó trời gần tối, cha con bèn dựa vào một ngôi chùa trú lại một đêm. Đêm đó, trong trang Cổ Sách, hào trường các họ đều mộng thấy một người mình mặc áo đen, tay cầm cờ vàng, bảo rằng:

Ta muốn thừa lệnh xuống báo cho dân chúng các ngươi, nay ba vị nhà họ Phạm ở địa vị phúc thần của dân. Thiên đình đã định, các ngươi nhanh chóng rước về dân sở, nếu không thì sẽ có tai họa.

Nói xong, người ấy bay lên không đi mất. Người đân tỉnh lại, ngày hôm sau, đều ra quán sở để kể về giấc mộng đó, thấy giấc mộng của mọi người đều khớp với nhau, người dân rất kinh sợ bèn làm lễ ra chùa rước về. Ông mới đầu từ chối không dám nhận, mọi người bèn tha thiết nói rằng:

– Vì thấy mộng như thế, nay xin tôn công cùng ba vị quý quan về ở với dân, để dân được yên ổn.

Ông bèn đem ba con về [6a] ở với dân, mở trường dạy học trò, ra sức dạy ba ông. Ba ông học được vài năm thì văn chương thấu hết, võ bị tỉnh thông, nghìn kinh muôn quyền đều hiểu hết, như Tứ thư5, Tam truyện, kinh sách nơi vách tường nhà Khổng Tử, Mạnh Tử, cũng chẳng bỏ thao lược của Tôn Quyền nhà Ngô. Từ đó, lỗi lạc có chí, thường than rằng:

– Làm con người, thì nên như Y Cung, Quản Nhạc, tạo lập công danh, không như thế thì nên đi xa, ra ngoài sa trường da ngựa bọc thây, đó mới là khí chất gan dạ của bậc đại trượng phu, sao có thể cứ mãi làm việc bút nghiên được?

Một hôm, vào tiết mùa đông, ở chốn thư phòng thấy có mặt trời đỏ mới lên, ba anh em bèn làm một bài thơ luật rằng:

Hồng nhật sơ khai thảo mộc xuân,
Huống ngô huynh đệ khẳng ưu bần.
Tu mi nhĩ mục thiên hà phụ,
Cô đãi hảo thời trạch thánh quân.

Nghĩa là:

Mặt trời đỏ mới mọc lên, chiếu xuống hoa cỏ mùa xuân,
Huống chỉ anh em ta lại phải ưu phiền vì nghèo.
Mày râu tai mắt, trời sao phụ?
Hãy đợi thời tốt chọn thánh quân.

[66] Đến năm 22 tuổi, bỗng nhiên ba ông động chí tang bồng, hồ thỉ, bèn cất chứa bình lương, ngầm mưu việc lớn, rồi sau chọn được chân nhân, đợi thời mà phát.

Lại nói, lúc đó 12 sứ quân mỗi người cát cứ một phương. Nước ta có 1. Ngô Nhật Khánh cát cứ Đường Lâm; 2. Lý Hồ Công cát cứ Siêu Loại; 3. Ngô Nam Đế cát cứ Dạ Trạch; 4. Nguyễn Siêu cát cứ Phù Liệt; 5. Phạm Phòng Ất cát cứ Đằng Châu; 6. Ngô Xương Xí cát cứ Bình Kiều; 7. Kiều Công Hãn cát cứ Phong Châu; 8. Nguyễn Thái Bình cát cứ Tam Đới; 9. Đỗ Cảnh Thạc cát cứ Đỗ Đồng; 10. Nguyễn Thủ Tiệp cát cứ Tiên Du 190. Người nào cũng làm hùng trưởng, tiếm vị rối bời. Họ Triệu tàn thương, không người cứu vớt. May là lòng người chán cảnh loạn lạc, ý trời mở cuộc thanh bình, người động Hoa Lư Đại Hoàng nước ta họ Đinh, tên là Bộ Lĩnh, có Nguyễn Bặc là người trang Gia Miêu nội huyện Tống Sơn thuộc Ái châu phụ giúp, cùng với Đinh Điền, Trịnh Tú, đều là những vị thần có thao lược của rồng hổ [7a] phụ giúp.

Một hôm, Đinh Bộ Lĩnh và Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú bí mật đi đến doanh đồn 12 sứ quân thám sát tỉnh hình. Trên đường, đi qua huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, nghe thấy có ba ông nhà họ Phạm anh hùng, dũng lược, tài đức hơn người, có kỳ tài mưu lược, giỏi binh pháp của Thái công, có mấy trăm quân ở đất trang Cổ Sách, hùng cứ một phương. Đinh Bộ Lĩnh bèn cùng với Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú tìm đến chùa Cổ Sách. Đêm đó, ba anh em Tích công, Đậu6 công, Thành công ngồi nằm không yên, thường đi ra đi vào trong nhà, thấy có một áng mây vàng như hình cái lọng đùn lên ở trên chùa chính. Lại có một ngôi sao ở trong, rất là to và sáng. Ba ngôi sao ở bên cũng xán lạn. Ba ông cùng bảo rằng:

– Ta lâu rồi không xem thiên tượng, không để ý nước Việt ta đã [76] có thánh nhân. Sao này, mây này đùn lên ở trang ta, anh em ta thử đi xem xem.

Rồi ba anh em cùng ra xứ chùa, thấy trong chùa [sương khói] mây lành rực rỡ, trên tòa có một người nằm, có rồng vàng phủ lên trên, ba anh em ngồi ở dưới, nghe thấy tiếng như sấm. Ba anh em cho quả là thánh nhân, thì rất vui vẻ trở về làm lễ. Mới đến giờ Tý nửa đêm, đã đem lễ ra chùa hành lễ, bày biện khấn vái. Đinh Bộ Lĩnh giả bộ sợ hãi, bảo rằng:

– Anh em tôi là người qua đường, có đức độ gì đâu mà dám nhận lạy.

Ba ông lại bái lạy:

– Anh em tôi nghe thấy danh tiếng bệ hạ đã lâu, nay xem thiên tượng được thấy bệ hạ, trời trao anh em thần cho bệ hạ vậy. Bệ hạ chớ nghi ngờ. Anh em tôi xin đem tấm lòng chó ngựa hèn mọn này, dám xin cùng bệ hạ và các tướng tiễu trừ những người nước khác, để khôi phục bờ cõi nước Nam.

Đinh Bộ Lĩnh mừng lắm [8a] bèn mở tiệc chúc mừng, sai ba ông cùng ngồi với Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, quân thần gặp nhau, nghị bàn ở trong miếu. Ở đó vài ngày thì Phạm Phòng Át ở Đằng Châu có gia thần thám thính biết được chạy về báo cho Phạm Phòng Át. Đến sau, vào lúc nửa đêm cuối canh 2, Phòng Ất đem binh đến miếu sở trung khu trang Cổ Sách bao vây. Đinh Bộ Lĩnh cho là nạn. Khi chạy thoát ra, ba ông ở nhà bèn xuất binh mã của mình, cho người già, trẻ con khu Trung trang Cổ Sách chạy trốn ra khỏi tổng, còn những người cường tráng thì gọi ra cho làm lính rồi tới miếu sở ra sức giải vây, đem Đinh Bộ Lĩnh cùng với Nguyễn Bặc, Trịnh Tú chạy ra. Phòng Ất truy đuổi không được, bèn đem quân trở về, thu hết của cải ở khu Trung trang Cổ Sách rồi đi.

Ngày hôm đó ba ông cùng với Trấn Giang và Đinh Bộ Lĩnh cùng về động Hoa Lư. Từ lúc chiêu tập được ba ông [86] uy linh càng thêm chấn động, bèn có hịch xuống các hào kiệt ở các phủ huyện đồng tâm mở lòng trượng nghĩa vì quốc gia, dẹp bọn tàn ác, sau khi yên định, cùng hưởng phúc thanh bình. Lúc đó, các hào kiệt đều một lòng hưởng ứng mà xuất binh. Trong khoảng 10 ngày mà mộ được tổng cộng bốn vạn người.

Đinh Bộ Lĩnh cho Nguyễn Bặc làm Đại nguyên soái, Đinh Điền, Trịnh Tú làm Đại tướng quân, rồi phong Tích Lịch làm Thống lĩnh Tiền quân dẫn dắt cai quản các quân thủy và quân bộ, cho Thánh Đậu, Lê Thành làm Tham tán Mưu thần, đi theo có Trấn Giang làm lương thần. Đinh Bộ Lĩnh mở đại tiệc, giết mổ trâu bò, khao thưởng binh sĩ, chọn ngày tốt dấy binh thẳng tiến.

Quân của Đinh Bộ Lĩnh chia làm ba đạo. Đạo thứ nhất do Đinh Bộ Lĩnh cùng các tướng đi đến đánh bốn đạo sứ quân Ngô Nhật Khánh, Lý Hồ Công, Kiểu Thuận, Trần Công7. Đạo thứ ba gồm có Tích Lịch, Thánh Đậu, Lê Thành, Trấn Giang đi đánh Ngô Nam Đế, Nguyễn Siêu, Phạm Phòng Át. Các cánh quân đều là bách chiến bách thắng. 12 sứ quân không thể [9a] địch nổi, tất cả đều bại vong như chiếc bánh xe không quay trở lại, mũi tên ngựa chiến chẳng còn.

Đinh Bộ Lĩnh bèn truyền lệnh cho các ông hội họp ở trên miếu. Khải hoàn trở về, Đinh Bộ Lĩnh tự xưng là Đinh Tiên Hoàng, đóng đô ở động Hoa Lư, lấy niên hiệu là Thái Bình.

Đinh Tiên Hoàng khen thưởng ba ông, cho 38 người ở các khu trên khu dưới, khu Trung trang Cổ Sách làm gia thần thủ túc. Đến khi trở về không mất một người. Lại vì Tích công có ấn Tích Lịch, đem về cất giữ, bèn phong cho Tích công là Tích Lịch Tàng quy Đại vương; phong cho Thánh công là Thánh Đậu Linh trung Đại vương; Lê công là Lê Thành Hành Đại vương. Cho Trấn Giang làm Đồng bệ, cho hưởng lộc ở huyện Duyên Hà. Lại cho miễn thuế tô, thuế dung cùng các việc sai dịch ở các khu thuộc trang Cổ Sách, để cho ba ông cùng với Trấn Giang sau khi trăm tuổi được cúng tế thành thần, có miếu.

Ba ông làm lễ bái tạ, nhận sắc chỉ trở về các khu thuộc trang Cổ Sách [96] bái tạ nghiêm đường8, khao thưởng nhân dân, sĩ tốt trong làng. Việc đã xong, trở về cùng với thân phụ Phạm công. Phạm công lúc này đã hơn 90 tuổi, một hôm bỗng bị bệnh mà chết. Ba ông khóc gào vang lên tận trời cao, than khóc không biết làm sao, rồi chọn nơi đất tốt an táng. Lại khóc rằng:

Năm xưa nghèo khó, đắng ngọt cùng nhau, đến nay vinh hoa, ngon ngọt cùng ai thừa hưởng.

Bèn dựng một cái lều nhỏ trên mộ, để làm chỗ ba năm phụng lễ hương hỏa nghi thức, xong xuôi lại trở về. Nhân dân già trẻ ở các khu trong trang Cổ Sách đều yêu mến vô cùng. Cứ hàng năm, các tiết lớn nhỏ ba ông đều về triều chầu vua Đinh Tiên Hoàng, chưa từng thiếu một tiết nào. Đinh Tiên Hoàng cho rằng ba ông có công nên ban cho búa sắt, cùng hưởng phúc lành với quốc gia. Lúc đó ba ông cùng với Trấn Giang, cả bốn vị sống ở trang Cổ Sách, thấy địa thế có ngôi đất ở xứ Đồng Thanh sơn thủy quanh co, rồng hỗ [10a] ôm ấp, núi không cao mà sa thổ có nhiều đá mài, nước trong xanh mà nước suối dằng dặc, tưởng cũng là một nơi thắng cảnh phong quang. Ba ông mới làm một bài thơ rằng:

Ngân bình ngọc trưởng đồng tao khởi, Cẩm hộ chu liêm thứ đệ khai.

Dư khí chung thành tuy tiểu mạch,

Điện cư chân khả kiến cung đài.

(Bình bạc trướng ngọc cùng gặp nhau khởi nghiệp,

Cửa gấm rèm son mở tình anh em. Dư khí chung đúc thành tuy là mạch nhỏ, Xây dựng nên thì đáng là chốn cung đài). Ngày hôm đó lại truyền cho binh sĩ và nhân dân thiết lập cung miếu, chọn các phương Cấn (đông bắc), Càn (tây bắc), Kim (tây), Mão (đông), Dậu (tây) mà ở. Ba ông mở tiệc mời phụ lão nhân dân khu Trung trang Cổ Sách đến ăn uống. Đương lúc yến tiệc, bỗng thấy trời đất tối sầm lại, gió mưa nổi lên dữ dội, có một đám mây vàng như hình dải lụa đỏ từ trên trời giáng thẳng xuống trước cung. Bỗng thấy trong người ba ông bay ra ba màu xanh, trắng, đỏ, rồi bay thẳng lên trời đi mất. Một lúc sau, trời đất lại tạnh ráo sáng sủa, gió lặng mưa dừng, [106] thì Trấn Giang theo ba ông cũng chẳng thấy, chỉ còn khăn áo ở đó. Lúc đó là mồng 10 tháng 11.

Người dân kinh sợ, bèn làm biểu dâng lên vua. Đinh Tiên Hoàng bèn sai sứ thần trở về làm lễ tế. Cho khu giữa thuộc trang Cổ Sách được làm đất hộ nhi, lập miếu ở đó phụng thờ. Hàng năm đến tiết mùa xuân tháng Giêng, Đinh Tiên Hoàng lại xa giá trở về làm lệ chơi trận đánh lau, vì ngày trước Đinh Tiên Hoàng ở trong miếu sở bị Phạm Phòng Át bao vây đã được ba ông giải vây. Từ đó, năm nào cũng thành lệ.

Phong Tích Lịch Tàng quy Đại vương.

Phong Thanh Đậu Đại vương.

Phong Lê Thành Hành Đại vương.

– [11a] Phụ phong Đương cảnh Thành hoàng thánh Trấn Giang Đại vương.

Chuẩn cho các trại ở khu Trung thuộc trang Cổ Sách phụng thờ.

Lại nói, từ đó về sau, quốc đảo dân cầu đều nẫm trứ linh ứng, cho nên nhiều lần được các đế vương gia phong mỹ tự.

Đến đời vua Trần Thái Tông, giặc Nguyên là Ô Mã Nhi đến xâm lược, kinh thành bị vây hãm. Tướng nhà Trần là Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn phụng mệnh đi cầu đảo bách thần ở các đền thờ. Ba vị đại vương cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi bình được giặc Ô Mã Nhi, Thái Tông bèn phong thưởng mỹ tự. Một vị là Uy nam Anh linh Hùng tài Vĩ lược Lẫm liệt Uy nghiêm Hùng mãnh Thuần chính. Một vị là Hiển chiếu Hộ quốc Anh thông Kinh văn Vĩ vũ. Một vị là An dân Vĩnh diên Hưu đốc hỗ.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa để bình giặc Minh là Liễu Thăng, [116] sau khi được thiên hạ, Lê Thái Tổ lại gia phong cho ba ông. Một vị là Hùng kiệt Hộ quốc an. Một vị là Dực vận Tế thế Uy linh. Một vị là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Tặng phong cho Trấn Giang là Hộ quốc Hiển hựu Hậu công Mậu đức Quảng nhuận. Khâm tai.

Sắc chỉ lĩnh về cho các khu thuộc trang Cổ Sách trùng tu miếu điện để phụng thờ các thần. Từ đó, các đời vua nhà Lê thường có hiển ứng linh thông, cho nên được gia phong nhiều mỹ tự, để làm trăm năm, huyết thực muôn đời, tốt đẹp vô cùng, tốt đẹp thay!

– Phụng khai các ngày sinh và hóa cùng với tên húy cấm hết.

Ba chữ Tích, Đậu, Thành cùng với chữ Trấn đều nghiêm cấm.

Cấm mặc các sắc phục ba màu xanh, trắng, đỏ khi làm lễ.

[12a] Chuẩn cho các trại khu Trung thuộc trang Cổ Sách cùng phụng thờ.

– Ngày sinh cùng vào ngày mồng 8 tháng Giêng là chính lễ. Ngày 28 tháng 12 đến ngày mồng 6 tháng Giêng, ngày mồng 8 tháng Giêng chính lệ. (Xướng ca, đấu vật, lễ dùng trên là cỗ chay, dưới là trâu bò rượu xôi, bánh dày).

– Ngày hóa cùng là ngày mồng 10 tháng 11 cùng hóa. (Lễ dùng trên thì cỗ chay, dưới thì lợn đen, xôi rượu, bánh dày trắng).

Các vị Hội đồng đạo khánh hạ khai xuân vào ngày mồng 8 tháng Giêng (Dùng lễ chơi trận giả đánh lau, xướng ca).

– Khánh hạ vào ngày mồng… tháng 9 chính lệ. (Lễ dùng trâu bò xôi rượu, ca xướng một ngày.)

– Khánh hạ chọn ngày vào tháng 8 (Lễ dùng như trên).

– Sinh thần ngày mồng 10 tháng 7 hóa cùng (Lễ dùng như trên).

– Lệ thờ sinh thần Trấn Giang.

[126] Năm Hồng Phúc thứ nhất (1572), Hàn Lâm viện Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn chính bản.

Ngày tốt tháng trọng xuân năm Vĩnh Hựu thứ 7 (1741).

Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền lại phụng sao theo cựu chính bản.

Chú thích:

  1. Các sách cổ hiện còn ghi về thứ tự 15 bộ không có sách nào ghi quận Quảng Tây và Quảng Đông. Sách Lĩnh Nam chích quái (A.2914) (bản được coi là cổ nhất hiện nay) chép như như sau: Âu Cơ mang năm mươi người con lên đất Phong Châu [Nay là huyện Bạch Hạc-NC]. Ở đất Phong Châu anh em suy phục lẫn nhau, thiết lập quân thần, cùng suy tôn người con cả lên làm chúa, hiệu là Hùng Vương [Nay thuộc vùng Thượng Thành-NC], lấy tên nước là Văn Lang (nay thuộc Vĩnh Phúc), đông giáp Nam Hải (nay thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc), tây đến Ba Thục (vốn là một nước riêng, sau bị nhà Tần diệt rồi đặt thành một quận gọi là Thục Quận, gồm các phủ Thành Đô, Long An, Đồng Xuyên, Nhã Châu cũ của tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc), bắc tới Động Đình, nam đến nước Hồ Tôn Tình [Nay là nước Chiêm Thành-NC]. Chia trong nước làm 15 quận là Giao Chỉ thời Hán là quận bao gồm miền Trung châu Bắc Bộ Việt Nam. Đến đời Đường trở thành một huyện của Giao Châu. Nay là vùng trung du và trung châu Bắc Bộ, Chu Diên (nay thuộc vùng Sơn Tây), Vũ Ninh (nay là các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang), Phúc Lộc (nay thuộc một phần của tỉnh Sơn Tây), Việt Thường (nay là dải đất từ Hải Lăng thuộc Quảng Trị đến Điện Bản thuộc Quảng Nam), Ninh Hải [theo nguyên chủ nay thuộc Nam Ninh, gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình], Dương Tuyền (nay thuộc tỉnh Hải Dương), Quế Hải (không rõ ở đâu. Có lẽ là Lục Hải, theo ghi chép của sách Đại Việt sử ký toàn thư. Nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), Vũ Định (gồm các miền Thái Nguyên, Cao Bằng ngày nay), Hoài Hoan (nay là tỉnh Nghệ Tĩnh), Cứu Chân (nay là tỉnh Thanh Hóa), Nhật Nam (nay là miền Thuận Hóa) (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên), Chân Định (nay thuộc tỉnh Thái Bình), Cửu Đức (nay thuộc tỉnh Nghệ An), Văn Lang (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú).
    Các sách cổ chép về tên gọi và thứ tự của mười lăm bộ thuộc nước Văn Lang khá khác nhau. Đại Việt sử ký toàn thư không có các bộ: Quế Hải, Nhật Nam, Chân Định, thay vào đó là các bộ: Lục Hải, Bình Văn và Tân Hưng. Sách Việt sử lược không có các bộ: Chu Diên, Phúc Lộc, Dương Tuyền, Quế Hải, Vũ Định, Chân Định, thay vào đó là các bộ: Luận Ninh, Gia Ninh, Lục Hải, Thanh Tuyền, Tân Xương, Bình Văn. Sách Dư địa chí (Nguyễn Trãi) không có các bộ Quế Hải, Nhật Nam, Chân Định thay vào đó là các bộ Lục Hải, Bình Văn và Tân Hưng. Có lẽ được chép theo Đại Việt sử ký toàn thư. Không thấy có bộ Văn Lang, có lẽ chép thiếu.
  2. Bát bộ Kim cương: Là tám vị Hộ pháp trong Phật giáo Đại thừa, trong đó có Phật giáo Việt Nam. “Kim Cương” nguyên là “Kim Cương thủ” chữ Nho: 金剛手, dịch từ chữ Vajrapani tiếng Phạn) là vị Bồ tát có công bảo vệ Phật (theo tài liệu mạng).
  3. Thập bộ La hán: Từ điển Phật học Hán Việt chỉ có “thập lục La hán” hoặc “thập bát La hán”, không có “thập bộ La hán”. (Từ điển Phật học Hán Việt, Phân viện Nghiên cứu Phật học xuất bản. Hà Nội, 1992, tr.724-725). “La hán là tên gọi tắt của A la hán. Đó là quả cao nhất trong tiểu thừa” (Sđd, tr.723).
  4. Sắc tướng kim thân: Ý chỉ đức Phật Như Lai.
  5. Tứ thư. Sách kinh điển của Nho gia gồm: Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung dung và Đại học.
  6. Ở đây chỉ ghi có 12 người. Về 12 sứ quân, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: 1. Ngô Xương Xỉ chiếm Binh Kiều (nay là Triệu Sơn, Thanh Hóa); 2. Kiều Công Hãn chiếm Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc); 3. Nguyễn Khoan chiếm Tam Đái (nay thuộc Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc); 4. Ngô Nhật Khánh chiếm Đường Lâm (nay là huyện Ba Vì, Hà Nội); 5. Đỗ Cảnh Thạc chiếm Đỗ Động Giang (có thể là phần đất huyện Thanh Oai, Hà Nội); 6. Lý Khuê chiếm Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh); 7. Nguyễn Thủ Tiệp chiếm Tiên Du (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh); 8. Lữ Đường chiếm Tế Giang (nay thuộc Mỹ Văn, Hải Hưng); 9. Nguyễn Siêu chiếm Tây Phù Liệt (nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội); 10. Kiều Thuận chiếm Hồi Hồ (nay thuộc huyện Sông Thao, Vĩnh Phúc); 11. Phạm Bạch Hổ chiếm Đằng Châu (nay thuộc Kim Thi, Hải Hưng); 12. Trần Lãm chiếm Bố Hải Khẩu (nay thuộc thị xã Thái Bình). Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, T.1, tr.209.
  7. Cũng tức là Thánh công.
  8. Chép thiếu đạo thứ 2.
  9. Nghiêm đường: Tức chỉ người cha.

Nguồn: “Đinh Tiên Hoàng triều Tam vị Đại vương phụ nhất vị phả lục”, trích trong Thần tích xã Phương Liệt, ký hiệu AE.a2/38, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (7)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)