Thông tin chung
Tám tuổi một chiều trong rạp xiếc
Mê nàng cưỡi ngựa uốn thân tơ
Hai câu thơ của nhà thơ Huy Cận ít nhiều nói được niềm vui của trẻ thơ và của mọi người đối với nghệ thuật xiếc. Nếu ai đó cắc cớ đặt câu hỏi: người Việt Nam đầu tiên đưa ngựa lên sân khấu, người đầu tiên biểu diễn tiết mục này là ai? Thậm chí chú ngựa lần đầu tiên xuất hiện trên sân khấu xiếc tên gì? Chúng ta cũng không dễ dàng trả lời được ngay. Trước hết cần khẳng định, nghệ thuật xiếc Việt Nam có từ xa xưa. Trong tác phẩm Lĩnh Nam chích quái xuất hiện từ thời Lý – Trần cũng đã nói đến trò xiếc leo dây. Đoàn tạp kỹ này gồm có Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu. “Hằng năm tới tháng 11 lại dựng cầu Phi Vân cao 20 thước, dựng một cây đứng ở trong, tết vỏ gai làm dây chão dài 136 thước, đường kính rộng 2 tấc, lấy mây mà quấn ngoài rồi chôn hai đầu dây xuống đất, giữa gác lên cây. Thượng Kỵ đầu đội khăn đen, mình mặc quần đen đứng trên dây mà chạy nhanh ba, bốn lần, đi đi lại lại mà không ngã. Dây của Thượng Can dài 150 thước, có một chỗ mắc chạc ba. Can hai tay cầm hai cán cờ. Hai người này đi trên dây, gặp nhau ở chỗ chạc ba thì lại tránh, lên xuống mà không ngã.
Trong khi đó, khi thì Thượng Đát lấy một tấm gỗ lớn rộng 1 thước 3 tấc, dày 7 tấc đặt lên trên cây cao 17 thước 3 tấc, rồi đứng ở trên nhảy hai, ba cái, tiến tiến lùi lùi; khi thì Thượng Toái lấy tre đan thành lồng như lờ bắt cá, dài 5 thước, tròn 4 thước rồi chui vào đứng thẳng mình mà lăn; khi thì Thượng Câu vỗ tay nhảy nhót, la hét kêu gào, chuyển động tay chân, vỗ đùi vỗ bụng, tiến lùi lên xuống hoặc cưỡi ngựa bôn tẩu, cúi mình xuống lấy vật dưới đất mà không ngã; khi thì Thượng Hiểm ngả mình nằm ngửa lấy thân đỡ một cây tre dài rồi cho đứa trẻ trèo lên mà không rớt xuống, khi thì cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ”. Có thể xem đây là văn bản sớm nhất nói về xiếc của nước ta. Đại Việt sử ký toàn thư còn cho biết năm 1350, nhân nước Nguyên có loạn, Đinh Bàng cùng gia đình vượt biển sang nước ta, Bàng giỏi nghề leo dây, múa rối nên truyền cho mọi người. Như vậy, nghệ thuật xiếc của ta phong phú hơn, đa dạng hơn với một số tiết mục mới. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nghệ thuật xiếc hiện đại của Việt Nam chỉ thật sự sánh vai cùng các nước năm châu với sự xuất hiện của một tài nhân lỗi lạc là Tạ Duy Hiển.
Thân thế
Dường như Tạ Duy Hiển có mặt trên đời là để làm xiếc và sống vì xiếc. Ông sinh ngày 10/10/1889 tại phố Cầu Đất (Hà Nội), nhưng quê ở xã Quảng Minh, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông cũ, nay là tỉnh Hà Tây, vì là con thứ sáu nên còn có tên là Lục. Trong gia đình Tạ Duy Hiển không có ai hoạt động về xiếc, mọi người sống bằng nghề tiểu thương. Đến tuổi trưởng thành, ông đi phụ việc cho người anh thứ tư là Tạ Duy Tư. Ông Tư làm nghề cho thuê xe ngựa, dùng để kéo xe đám cưới hoặc xe đám tang. Lòng thương yêu đối với thú vật đã hình thành ở ông từ năm tháng này. Ít lâu sau, ông Tư chuyển sang nghề trồng răng, mở cửa hiệu ở nhà số 13 Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội). Ông Tạ Duy Hiển cùng em là Hiền cũng theo anh làm nghề này. Khoảng cuối Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông cùng với Trưởng Quỳnh – người thợ giỏi của cửa hiệu anh mình đi sang tận Lào làm nghề trồng răng. Đời sống nay đây mai đó đã giúp ông thỏa mãn óc phiêu lưu và được chứng kiến nhiều đoàn xiếc nước ngoài đang sang Đông Dương biểu diễn. Điều này càng thôi thúc lòng ham mê của ông đối với loại hình rất mới mẻ này. Bấy giờ, ở vỉa hè Hà Nội đã xuất hiện gánh xiếc tạp kỹ của ông Hai Tây với những trò rất hấp dẫn mà độc đáo nhất vẫn là tiết mục đóng hai cây đinh dài hơn mười phân vào… hai lỗ mũi! Hoặc ở Nam Kỳ đầu năm 1922, ông André Thận đã có sáng kiến đưa xiếc lên sân khấu… cải lương rất được công chúng hoan nghênh.
Sự nghiệp
Với những tiết mục đặc sắc này, khi quan sát, ông Tạ Duy Hiển đều ghi chép lại. Một điều may là lúc làm việc ở cửa hiệu của ông Tư, Tạ Duy Hiển đã chữa răng cho một số nghệ sĩ xiếc người nước ngoài. Qua đó, ông khéo léo dò hỏi họ từng động tác biểu diễn, luyện tập ra sao, bí quyết an toàn v.v… Những điều thu thập được ông đều ghi chép lại cẩn thận. Rồi trong một chuyến đi chữa răng cho ông Hà Văn Mâu – thân phụ Hà Văn Lâu – ở Cao Bằng, ông có thổ lộ nguyện vọng của mình. Nghe xong, ông Mâu rất tán thành, khuyến khích ông nên đeo đuổi nghề này. Khi hai người bịn rịn chia tay, ông Mâu đã hào phóng tặng cho ông một con ngựa loang lổ nhiều màu rất đẹp. Ông đặt tên là Tí Ti và con ngựa này sẽ trở thành con thú đầu tiên tham gia vào nghệ thuật xiếc hiện đại của nước ta.
Sau chuyến đi này, Tạ Duy Hiển quyết tâm lao vào nghề mà mình đã chọn. Ông đặt tên là đoàn “Xiếc Việt Nam” mà mọi người thường gọi là “Xiếc Tạ Duy Hiển”. Trước hết, ông về Hà Đông động viên các con em trong nhà, trong làng tham gia vào đoàn xiếc sẽ thành lập. Bấy giờ, nghề chưa được tôn trọng, thậm chí người ta còn xếp nó vào loại thấp hèn như “xướng ca vô loài”. Ngay cả, ông Tư cũng không đồng ý cho em mình theo nghề này. Do đó, công việc ban đầu của ông gặp không ít khó khăn, chỉ có vài người vì say mê xiếc mà chấp nhận “phiêu lưu” theo ông. Để thực hiện cho bằng được quyết tâm của mình, ông chỉ tranh thủ luyện tập ngoài giờ ở địa điểm Đội Cấn – Ngọc Hà, các diễn viên chưa có lương, họ sống tằn tiện, cầm cự qua ngày… Trong số các diễn viên này, có hai phụ nữ mạnh dạn theo nghề là cô Mầu và cô Nghiêm. Về sau, cô Mầu bỏ cuộc nửa chừng vì không đủ kiên nhẫn tập luyện các tiết mục. Cô Nghiêm thì khá hơn, tập được tiết mục phi ngựa, ngồi đánh đàn khi ngựa đang phóng như bay… Ngoài ra, còn có hai nghệ sĩ xiếc nước ngoài đã đồng ý giúp đỡ ông trong việc huấn luyện cho các diễn viên. Trong lúc đó các đoàn xiếc khác như đoàn của ông Phạm Xuân Trang tập luyện ở khu Bạch Mai, đoàn của ông Mai Thanh Các tập luyện ở khu vực Ngọc Hà v.v… Nhưng những đoàn này ít vốn nên họ vừa tập, vừa đi biểu diễn để kiếm sống và nâng cao tay nghề.
Sau một thời gian bền bỉ luyện tập, Tạ Duy Hiển quyết định đưa đoàn xiếc Việt Nam chính thức ra mắt khán giả. Nhà nghiên cứu Lê Anh có kể lại như sau: “Bắt đầu từ tối ngày 4/12/1922, khu chợ Hàng Da (Hà Nội) như mở hội, tiếng trống, tiếng kèn đồng quảng cáo ầm ĩ, người người qua lại tấp nập. Trước cổng rạp có hàng trăm chữ “Xiếc Việt Nam” trưng lên, tâm hồn họ dạt dào niềm tự hào dân tộc, thu hút từng đám người nô nức đến xem xiếc ở cái rạp sân khấu tròn mới lạ này. Đúng 9 giờ tối ngày 5/12/1922 dàn nhạc xiếc vang lên. Tạ Duy Hiển với trang phục dân tộc, bước ra sân khấu cúi chào khán giả công bố buổi diễn ra mắt của đoàn, tiếng nhạc lại đế vào lời ông, rồi chương trình bắt đầu: nhào lộn, đi dây ngược, thăng bằng trên ván, uốn tròn trên thang, hãm tay trên trụ, hề nhại, hề diễu điểm vào những trận cười rung cả rạp. Chốc chốc những trận mưa tiền lại rào rào rắc xuống sàn diễn, nhất là khi Tạ Duy Hiển cùng đàn thú của mình xuất hiện trò lạ của các chú ngựa, gấu, khỉ, chó v.v… ngộ nghĩnh và hấp dẫn khiến mọi người khoái chí vứt chinh, hào lấp lánh cả sàn diễn. Vai hề bấy giờ lại được dịp diễn một trò mới là mang chổi quét tiền vào sảng. Buổi diễn đầu tiên này kết thúc tốt đẹp. Cúi đầu chào khán giả, Tạ Duy Hiển chỉ còn biết nghẹn ngào, khó khăn lắm mới nói được lời cám ơn đồng bào Việt Nam đã hoan nghênh xiếc Việt Nam.”
Không bao giờ ngủ quên trên thắng lợi, Tạ Duy Hiển luôn tìm cách nâng cao các tiết mục của đoàn xiếc và bổ sung thêm thú. Cuối năm 1922, gánh xiếc Harmston’s của người Anh sang Việt Nam biểu diễn. Họ có một sai lầm duy nhất là miệt thị người Việt Nam qua tiết mục nhạt nhẽo như sau: trên sân khấu có một chiếc ghế trơ trọi, hai anh hề bước ra, anh A nhanh chân chiếm lấy chiếc ghế. Anh B muốn lấy lại ghế, bèn nói nhiều thứ tiếng nhưng anh A vẫn không hiểu được. Cuối cùng anh B dùng tiếng Việt thì anh A mới hiểu, lập tức lại bị anh B vít cổ, đá đít khiến lộn nhào! Kiểu gây cười này đã bị mọi người bất bình lên án và tẩy chay kịch liệt. Cứ vào giờ bán vé thì có những tốp học sinh đứng xếp hàng khuyên không nên mua vé, ai không nghe thì bị chế giễu ầm ĩ. Bị tẩy chay dữ dội, gánh xiếc này bỏ Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa chạy vào Vinh nhưng cũng không yên thân. Kinh doanh thua lỗ nặng, lại bị người em rể phá bĩnh lập đoàn xiếc mới, trong một phút tuyệt vọng Harmston’s dùng súng lục tự tử trong khách sạn An Nam ở thị xã Vinh! Thế là toàn bộ tài sản của đoàn xiếc đem ra bán đấu giá. Lúc này, đoàn xiếc Việt Nam của Tạ Duy Hiển đang lưu diễn ở Sài Gòn. Nghe tin, ông liền nhờ em ruột Tạ Duy Hiền đứng ra mua toàn bộ thú vật của đoàn xiếc Harmston’s với giá 100.000 đồng. Như vậy, đoàn xiếc của Tạ Duy Hiển có quy mô lớn nhất thời bấy giờ.
Chính lúc này, đoàn xiếc Tạ Duy Hiển bắt đầu bị cạnh tranh dữ dội.
Khi ông mới bắt tay vào luyện tập, một ông chủ của xưởng dệt thủ công là Lưu Khánh Vân đã thuê đất của ông để mở xưởng. Ông Vân đã quan sát và mày mò tập theo. Lúc đoàn xiếc Việt Nam sắp công diễn đầu tiên thì ông Vân xin gia nhập vào đoàn với vai hề. Đây là ý đồ mà ông Vân muốn qua đó, học lỏm thêm kinh nghiệm để lập đoàn xiếc riêng! Ông ta ngấm ngầm vận động các diễn viên đi theo mình và yêu “con ách chủ bài” của đoàn xiếc là cô Nghiêm – người duy nhất thực hiện được tiết mục vừa phi ngựa vừa gẩy đàn! Ông Tạ Duy Hiển hoàn toàn không biết điều này. Mãi đến khi hai người tổ chức đám cưới, rồi sau đó lập ra đoàn xiếc Đại Nam thì ông Hiển mới ngớ người ra. Sự việc này diễn ra vào năm 1926. Không một chút nao núng tinh thần, Tạ Duy Hiển quyết định lập lại “thế cờ” trong việc cạnh tranh một mất một còn. Trước hết, bà Hồng – vợ của ông – phải gấp rút tập cho bằng được tiết mục của cô Nghiêm.
Sau đó, lúc đoàn xiếc Đại Nam bắt đầu dựng rạp bạt ở khu vực Hàng Da, Tạ Duy Hiển tung người đi điều tra những địa điểm mà đoàn của ông Vân sắp tiếp tục lưu diễn, rồi bỏ tiền ra thuê trước. Đoàn Đại Nam đang diễn ở Nam Định thì ông đã thuê hết đất ở thị xã và thành phố Thanh Hóa, Vinh, Quảng Bình, Huế. Không còn cách nào khác, ông Vân phải đưa đoàn vào Đà Nẵng. Ngay lập tức Tạ Duy Hiển lại thuê luôn đất ở Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Sài Gòn buộc đoàn xiếc Đại Nam phải dạt sang tận Phnôm Pênh. Những chuyến lưu diễn xa xôi như thế thì chi phí rất lớn, thu hoạch không được bao nhiêu nên chỉ trong một năm đoàn xiếc Đại Nam tự động tan rã ngay trên đất Siêm-riệp (Campuchia)! Một đoàn xiếc khác cũng lẫy lừng không kém, cạnh tranh quyết liệt với Tạ Duy Hiển là đoàn Long Tiên của ông Phạm Xuân Trang ra mắt vào năm 1925. Bây giờ, nhiều người vẫn còn nhớ trên tấm bảng quảng cáo có vẽ hình con rồng và cô tiên, dưới ghi hai câu thơ:
Long Tiên là xiếc nước nhà
Lần này thứ nhất đem ra diễn trường
Tiết mục độc đáo nhất của đoàn là diễn viên vừa đi xe đạp trên dây vừa gẩy đàn! Thời gian sau, đoàn này có sự lục đục trong nội bộ và tan rã, ông Trang bán nhà ở phố Bạch Mai để dựng lên đoàn xiếc Đông Pháp – rồi lúc làm ăn khấm khá thì khôi phục lại tên cũ là Đại Long Tiên. Cuộc cạnh tranh quyết liệt nhất giữa đoàn này với đoàn xiếc Việt Nam đã diễn ra vào năm 1938 tại hội chợ Nam Định. Biết mình “lép vế” hơn nên ông Trang cùng con trai đã sáng tác ngay bài vè quảng cáo, cho in trên báo chí đương thời và dán khắp nơi. Nhờ vậy, ngày nay ta mới có được bài quảng cáo khá xưa về nghệ thuật xiếc của Việt Nam và qua đó, biết được sự phát triển đa dạng của các tiết mục xiếc từ thập niên 30 thế kỷ XX:
Nhân kỳ hội chợ vua ra
Xét tài bách nghệ nước nhà ngày nay
Long Tiên ứng cử hội này
Đem tài đặc biệt tỏ bày quốc dân
Nhiều trò cao đẳng tối tân
Khi xem thấy lạ mười phần chẳng sai
Nước Nam có một không hai
Hầu đi xe đạp đã ai ra đời
Coi như đại thánh kim thời
Tinh thần gấp mấy những loài vật to
Bú dù cầm lái ô tô
Ai trông thấy thạo không cho lạ đời
Thế gian nhiều lối xiếc tài
Cứ gì hổ báo cùng loài ngựa voi
Chẳng qua biết sợ vâng lời
Còn tài không giỏi không tài ai ư
Long Tiên nay đổi lối xưa
Dạy cầm thú nhỏ nhưng chưa ai bì
Vẹt đi xe đạp cũng kỳ
Con ra múa lửa, con thì đu tiên
Con khôn sai khiến nhặt tiền
Xu, hào, chinh, ván biết liền nhặt ngay
Nhất vui trò kéo xe tay
Con ngồi vướng áo vén ngay tức thời
Gấu đi xe đạp lạ đời
Con trăn to đại quấn người rất ghê
Đu bay lối mới Ăng-lê
Tung người lộn tít các bề trên cao
Nằm tung người bỗng lộn nhào
Hai chân lại hứng đỡ vào từ xa
Cả gan nhảy phắt chui qua
Bốn vòng dao lửa như hoa cắm dày
Trò người xe đạp tuyệt hay
Hơn trăm lối mới xiếc Tây cũng nhường
Xiếc này kiếm kế tìm phương
Khi không tài giỏi lạ thường không ra
Tùy theo trình độ nước nhà
Lạ gì ác thú đem ra lộn đầu
Vậy nên bản xiếc nhắc cân
Cải lương dạy lối tinh thần mới cao
Để người ngoại quốc trông vào
Tiếng thơm cùng hưởng đồng bào lượng cho
Ấy là đại khái mấy trò
Còn nhiều thứ khéo ai ngờ xiếc ta
Có sao nói vậy chẳng ngoa
Kể thì không xiết, nói ra hóa dài
Mấy lời cáo bạch kính mời
Chư tôn chiếu cố xem thời mới hay
Bắt đầu 19 Avril này
Tháng 3 Quý Dậu tức ngày 25 ta
Tiện đường khỏi phải đi xa
Gần bên hội chợ đó là Long Tiên.
Chính nhờ sự cạnh tranh này mà công chúng được thưởng thức những tiết mục xiếc hay nhất thời bấy giờ. Nhưng với Tạ Duy Hiển, ông lại có quan niệm khác người là không lấy đó làm phương tiện kiếm ăn mà muốn người nước ngoài phải khâm phục xiếc Việt Nam. Hễ có bao nhiêu tiền là ông lại mua thêm thú mới và luyện tập chúng. Có thể nói, trong công việc huấn luyện thú dữ, ông là người có đủ tài trí để thuần phục chúng. Nhà báo Phạm Bá Thủy có ghi lại những mẩu chuyện khá thú vị qua lời kể của nhà thơ nổi tiếng Trần Huyền Trân như sau: “Lần ấy, xiếc Việt Nam lưu diễn ở Khánh Hòa, nghe nói đồng bào Thượng ở Buôn Mê Thuột có voi tốt, Tạ Duy Hiển đưa một xe tải hàng hóa, gạo muối lên đổi được hai con voi thật đẹp. Vì không thuê được quản tượng nên không thể bắt voi đi bộ về xuôi, giải pháp cuối cùng là dùng ô tô để chở. Nhưng voi rừng rất nhát, sợ tiếng động cơ. Tạ Duy Hiển nghĩ ra cách: ông cho buộc hai con voi vào gốc cây lớn, cho ô tô nổ máy từ xa để voi làm quen với tiếng máy. Sau đó, ông cho xe chạy vòng quanh hai con voi với bán kính ngày một thu hẹp dần. Cuối cùng, hai con voi không còn sợ xe nữa mà còn mạnh dạn dùng vòi lấy mía, cỏ trong thùng xe để ăn. Việc lùa voi lên xe và chở về xuôi sau đó không còn là điều khó khăn gì nữa.
Ngoài những thành công trong việc huấn luyện thú biểu diễn, Tạ Duy Hiển còn tài thuần phục thú dữ. “Ở vườn Bách Thảo Hà Nội có hai con sư tử to lớn hung dữ. Một lần, người ta cần dồn chúng vào lồng nhỏ để chuyển đi nơi khác, nhưng dù đã tìm mọi cách mà vẫn bất lực. Tạ Duy Hiển được mời đến giúp. Chỉ với chiếc roi da, một cây chàng nạng và lời yêu cầu những người đứng bên ngoài không được làm kinh động hai con thú, Tạ Duy Hiển một mình bước vào chuồng. Bằng những mệnh lệnh dứt khoát, ánh mắt đầy uy lực và với sự giúp đỡ của cây roi da, cuối cùng ông đã dồn được hai con vật bướng bỉnh vào lồng. Lần khác, có người lại bán cho ông một con gấu đặc biệt hung dữ, từng làm bị thương nhiều người, kể cả những người nuôi nó. Nhiều người khuyên ông đề phòng nguy hiểm, không nên dùng con vật đã có nhiều tính xấu như vậy, nhưng ông tự tin bảo rằng chỉ một tuần là có thể đi dạo với gấu như với người bạn hiền. Quả nhiên, chỉ một tuần sau, không những đi dạo mà ông còn dạy được cho gấu biết thực hiện những động tác biểu diễn chẳng kém gì một diễn viên gấu.
Trong điều kiện không đầy đủ sách vở, tài liệu dạy nghề, ở giai đoạn ấy, cùng với nhiều người khác, Tạ Duy Hiển dạy thú chủ yếu với phương pháp mày mò và cảm tính. Với con hổ đầu tiên, ông đã tốn biết bao công sức. Mua hổ về, Tạ Duy Hiển áp dụng phương pháp “mua chuộc dạy dỗ” bằng thịt ngon và những lời dỗ dành. Hổ xơi thịt rau ráu, nhưng bỏ ngoài tai những lời tán ngọt và quyết chẳng chịu cho ai đến gần. Con hổ này vốn do thợ săn bẫy được khi đã trưởng thành, vì vậy nó rất thù người. Để tiếp cận với khoảng cách gần, Tạ Duy Hiển nghĩ ra cách… chui vào trong thùng phi lớn có nắp an toàn, đặt trong lồng, rồi thả hổ vào. Một tay cầm chiếc gậy treo xâu thịt, tay kia cầm roi, ông dụ hổ tới gần. Nhưng con hổ không hành động như ông mong muốn. Nó gầm gừ, chỉ chực xơi tái “con mồi sống”. Mỗi khi con hổ chồm tới, ông phải ngồi sụp xuống, đóng nắp thùng. Nhiều lần con hổ xô đổ cả thùng phuy, dùng hai chân trước cào cấu hòng mở nắp thùng hoặc nằm đè lên trên hàng mấy tiếng đồng hồ. Cuối cùng, Tạ Duy Hiển quyết định khuất phục con hổ bằng chính ý chí và sức mạnh của mình. Ông cho đặt 6 cây chàng nạng dọc theo bên trong vách lồng, bản thân cầm một cây roi da và chiếc chàng nạng đứng giữa lồng, ra lệnh thả hổ vào. Vừa vào lồng, con hổ liền gầm lên như sấm và lao vọt tới tấn công tức khắc. Tạ Duy Hiển xuống tấn, chìa cây chàng nạng chống nghiêng về phía trước. Con hổ chồm tới đúng vào giữa hai nhánh nạng. Cây nạng gẫy làm ba. Tạ Duy Hiển nhảy phắt sang bên, vớ ngay cây khác, chìa ra, thủ thế. Cứ thế, ba chiếc nạng liên tiếp bị gãy. Tạ Duy Hiển chuyển sang thế phản công. Ông quật roi đánh “đét” vào không khí, thu hút sự chú ý của con vật. Con hổ bỏ người, nhảy theo vồ ngọn roi. Với đoạn cán nạng trong tay, ông vụt một đòn chí mạng trúng mõm con vật. Con hổ bị đánh đau bất ngờ, chới với, mất hẳn thế chủ động. Tạ Duy Hiển lại giáng tiếp một đòn vào gáy nó. Con mãnh thú gầm lên đau đớn rồi… cụp đuôi chạy trốn. Nó lủi vào một góc chuồng, lấm lét trước cái nhìn nảy lửa của ông chủ. Tạ Duy Hiển biết chắc con thú đã bị khuất phục, bèn đổi uy thành ân, phủ dụ nó bằng vài lời nhẹ nhàng. Quả nhiên, từ đó, con hổ một mực thuần phục ông và chỉ sau nửa năm tập luyện, nó đã có thể thực hiện nhuần nhuyễn nhiều tiết mục đặc sắc”.
Đoàn xiếc Việt Nam của Tạ Duy Hiển đi lưu diễn nhiều nơi và đâu cũng được hoan nghênh. Ông đưa đoàn đi diễn hầu hết ở các tỉnh, thành trong cả nước, rồi từ Tây Ninh ông đi thẳng sang Phnôm Pênh (Campuchia) và qua tận Viêng Chăn (Lào). Không dừng lại đó, qua các năm sau ông lại đưa đoàn lưu diễn ở Thái Lan, Miến Điện, Đài Loan, Hồng Kông và một số tỉnh của Trung Quốc… Một sự kiện đáng nhớ là mùa thu năm 1942, nhân dịp thực dân Pháp dấy lên phong trào mị dân “thanh niên vui khoẻ, trẻ trung”nên một nhóm người Pháp đứng ra tổ chức “Xiếc quốc tế” ở Sài Gòn. Bấy giờ, các đoàn xiếc khác đều tan rã, chỉ còn mỗi một đoàn xiếc của Tạ Duy Hiển đang hoạt động. Ban tổ chức đã mời đoàn xiếc Việt Nam tham dự và họ thật sự khâm phục những tiết mục độc đáo của ông. Họ không thể ngờ một người Việt Nam lại có thể tổ chức đoàn xiếc với nhiều thú dữ, nhiều diễn viên có tài năng đến như vậy.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động “Tuần lễ vàng”. Là một người yêu nước, Tạ Duy Hiển đã đóng góp 25 lượng vàng và tích cực tham gia công tác trong Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Hà Đông. Đoàn xiếc Việt Nam đã góp phần không nhỏ khi lưu diễn theo những chương trình văn nghệ động viên, kêu gọi thanh niên tòng quân giết giặc.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, lúc này đã 66 xuân, nhưng Tạ Duy Hiển vẫn hăng say xây dựng lại nền nghệ thuật xiếc Việt Nam. Ngày 16/1/1956, Bộ Văn Hóa nước ta ra quyết định thành lập đội Xiếc Trung ương nằm trong Đoàn văn công Nhân dân Trung ương. Chỉ hai năm sau, năm 1958, nghe lời kêu gọi của Nhà nước, ông sẵn sàng sát nhập toàn bộ đoàn xiếc của mình vào đội xiếc Trung ương, gọi là đoàn xiếc Thống Nhất – do ông làm trưởng đoàn. Chỉ trong một thời gian ngắn, ngày 31/10/1959 chương trình xiếc của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chính thức ra mắt khán giả Hà Nội. Ông đã xuất hiện giữa tiếng vỗ tay vang dội với ba tiết mục diễn với thú dữ. Qua năm sau, năm 1960, ông lại tình nguyện hiến cho Nhà nước 13 căn nhà và đất ở ngõ Tiến Bộ, Khâm Thiên (Hà Nội). Là một nghệ sĩ tâm huyết và tài năng, chính ông là người có công lớn trong việc thành lập bộ môn xiếc thú một cách bài bản và đào tạo nhiều thế hệ diễn viên xiếc ưu tú của nước nhà. Có thể kể đến những tiết mục tiêu biểu như: gấu bập bênh, lăn quả cầu, đi xe đạp, gọi loa hoặc khỉ xay thóc, giã gạo, leo dây v.v… Trong tác phẩm Lịch sử xiếc Việt Nam (NXB Hà Nội 1990), nhà nghiên cứu Mai Quân đã cho biết đôi nét về phương pháp luyện thú của ông và có nhận định chính xác:
Nói đến bộ môn xiếc thú có lẽ trước hết phải nói nhà dạy thú Tạ Duy Hiển. Ông là người đầu tiên tổ chức một gánh xiếc lớn ở nước ta. Trong quá trình luyện thú, ông Tạ Duy Hiển luôn luôn áp dụng phương pháp có thể tạm gọi là “phương pháp mới”. Phương pháp đó có thể căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của từng loài thú mà tung ra một thứ mồi nhử. Mồi nhử đó kích thích bản năng ham muốn của con vật và buộc nó phải tuân theo một quá trình định sẵn nào đó của người huấn luyện thì mới được thỏa mãn. Chẳng hạn muốn luyện cho con ngựa đứng lên bằng hai chân sau, nhà luyện thú theo phương pháp của ông Tạ Duy Hiển đã buộc con vật trong mỗi bữa ăn phải chồm hai chân trước lên một bàn vì chậu thức ăn của nó để trên đó. Dần dần chiếc bàn đó được nâng cao mãi lên. Độ nửa năm sau, cứ đến bữa ăn, con ngựa phải đứng thẳng hai chân sau lên mới với tới bàn để thức ăn. Đến đây nhà luyện thú tiến hành một quá trình chuyển từ “mồi” bữa ăn sang một ký hiệu nào đấy để thuận tiện cho việc chỉ huy biểu diễn. Đối với các loài thú khác, phương pháp huấn luyện của Tạ Duy Hiển cũng đều như vậy cả… Bằng phương pháp ấy, ông Tạ Duy Hiển đã chỉ huy một đội ngũ diễn viên xiếc thú huấn luyện được một thế hệ thú vật hoàn toàn mới của ngành xiếc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là điều mà ngày xưa, tuy nổi tiếng nhưng ông vẫn chưa làm được dưới chế độ cũ thì ngày nay, dưới chế độ mới ông đã làm được. Lịch sử nghệ thuật xiếc Việt Nam mãi mãi ghi nhận phần đóng góp xứng đáng của ông, một nghệ sĩ lão thành đã dành phần lớn cuộc đời mình cho nghệ thuật rất mới mẻ này của nước ta.
Qua đời
Đang hăng say với công tác thì ngày 3/10/1967, Tạ Duy Hiển đột ngột qua đời, thọ 78 xuân. Được tin buồn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư chia buồn cùng gia đình: “Được biết cụ Tạ Duy Hiển vừa qua đời. Bác rất thương tiếc. Bác thân ái gửi lời chia buồn đến gia quyến cụ Tạ và Đoàn xiếc nhân dân Trung ương”. Thiết nghĩ, đây cũng là tấm lòng của người đương thời và hậu thế dành cho nghệ sĩ xiếc Tạ Duy Hiển.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ.