Thông tin chung
Trời xanh thẳm, mồ hoang lợp lợp
Trăng soi nhòa mấy lớp bia tàn
Mây che bao nấm đất vàng
Sương sa sao dọi gò hoang đổi dời
Máy tạo thể trò chơi lũ trẻ
Bóng quang âm như kẻ qua đường
Lúc sanh khi lớn không tường
Là trai hay gái khó tường họ tên?
Hiền hoặc dữ, hư nên nào rõ
Cha anh đâu, còn có cháu con?
Việc người ta biết chưa tròn
Xưa làm chi đấy, hãy còn nghĩ suy
Đào kinh trước mấy kỳ khó nhớ
Khoác nhung y chống đỡ biên cương
Binh man máu nhuộm chiến trường
Bọc thây da ngựa gửi xương chốn này!
Âm vang bi thiết của Văn tế nghĩa trủng như còn vang vọng mãi. Nó nhắc nhở đến công sức của tiền nhân đã bỏ mình nơi “dưới sông cá lội, trên rừng cọp um” như những anh hùng vô danh. Người chỉ huy công cuộc khai phá vĩ đại ở miền Hậu Giang vào thế kỷ XIX chính là Thoại Ngọc Hầu.
Thân thế
Ông tên thật là Nguyễn Văn Thoại, sinh ngày 26/11 năm Nhâm Tý (1761) tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc làng An Hải, quận Sơn Trà – Đà Nẵng) con của hai cụ Nguyễn Văn Lượng và Nguyễn Thị Tuyết. Cuối thời chúa Nguyễn, gia đình ông theo lưu dân vào định cư tại làng Thới Bình, Vũng Liêm (Vĩnh Long). Năm 17 tuổi, Nguyễn Văn Thoại tòng quân dưới ngọn cờ của Nguyễn Ánh và chính ông là người phò giá Nguyễn Ánh chạy ra Côn Lôn, Phú Quốc, Thái Lan… để trốn tránh những đòn phản công oanh liệt của nhà Tây Sơn. Trong cuộc đời binh nghiệp, vó ngựa của ông tung hoành từ Nam ra Bắc, từng đi xứ sang Thái Lan, Lào, Campuchia; từng trấn thủ biên giới phương Nam, sang Bảo hộ nước Campuchia; làm đến Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân, được phong tước Thoại Ngọc Hầu; thậm chí sau khi ông mất, vua Minh Mạng còn sắc phong nhiều chức tước khác. Nhưng sự nghiệp để lại ngàn thu của ông không phải là con đường binh nghiệp, mà ông đã chứng minh mình là nhà doanh điền với những công cuộc khai phá để lại dấu ấn trên bước đường mở cõi về phương Nam. Năm 1818, Nguyễn Văn Thoại được cử làm Trấn thủ Vĩnh Thanh. “Toàn cõi trấn Vĩnh Thanh ngày ấy thật là rộng lớn. Chúng ta có thể phác qua những nét đại cương về địa giới theo danh xưng ngày nay: nó gồm có các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Kiên Giang (một phần), Sa Đéc và Vĩnh Long”. Ông nhận thấy rạch Đông Xuyên từ bờ tây sông Ba Rạch ở Hậu Giang chảy về phía tây nam 4 dặm thì đến cửa sông Lạc Dục, rồi từ đó chảy về phía nam thì gặp sông Song Khê, gần với đất Chân Lạp. Trong sách Đại Nam nhất thống chí đã miêu tả “cây cỏ um tùm, đường sông lấp đầy, ghe thuyền không đi được”. Ông nghĩ đến việc làm con đường tắt để thuận lợi cho vận chuyển nhất là từ Kiên Giang đến Đông Xuyên và tâu lên vua xin tiến hành đào kênh Đông Xuyên.
Sự nghiệp
Công việc đào kinh này khởi đầu từ năm 1818 với chừng 1.500 nhân công Việt và Campuchia, họ được chu cấp lương thực, tiền trong suốt thời gian lao động cật lực. Do việc đào kinh tiến hành bằng phương tiện thủ công nên họ đào theo lạch nước cũ đặng dễ dàng. Chỉ trong thời gian một tháng, họ đã đào được dòng kinh rộng 20 tầm, dài 12.410 tầm! “Đó là một đường sông dài đầu tiên được đào tay tại miền Nam với mục đích phát triển giao thông và thương mại”.
Công việc hoàn thành, Thoại Ngọc Hầu cho vẽ họa đồ và làm sớ tâu lên. Vua Gia Long khen ngợi và ra lệnh lấy tên ông đặt cho sông. Từ đây, sông Ba Rạch (cũng gọi là sông Long Xuyên) được đổi thành tên Thoại Hà (tức sông Thoại). Không chỉ được vinh dự to lớn như thế, tên ông còn được đặt cho một ngọn núi ở về phía đông bắc của sông Thoại Hà. Ngọn núi này vốn có tên là núi Sập (Đại Nam nhất thống chí ghi là núi Lấp), để biểu dương công lao khó nhọc của ông, nhà vua cho đổi tên là Thoại Sơn.
Trong văn bia Thoại Sơn, ông cho biết: “Núi ở gần bờ kinh, cao ước hơn 10 trượng, chu vi được 2.478 tầm, sắc biếc dờn dờn, dựng cao sừng sững, sống động như rồng thần giỡn nước, phượng đẹp lượn trên sông, cảnh anh tú ấy, há không phải tay thợ tạo chung đúc mà nên sao? Lâu nay trời đất giấu kín, chân người ít tới nơi, nay nhân cớ đào kinh xong mà núi, kinh cùng được ghi lên họa đồ dâng trình ngự lãm, ấy cũng là ngày kỳ ngộ của núi non vậy”.
Lời văn trong văn bia sảng khoái lạ lùng, chứng tỏ Thoại Ngọc Hầu rất tâm đắc với công việc của mình.
Trước thành quả lao động này, Gia Long rất vui mừng, với một tầm nhìn chiến lược, nhà vua không chỉ nghĩ đến việc khai thông sông rạch phương Nam thuận lợi cho việc phát triển giao thông, thương mại mà về lâu dài nó còn đáp ứng trong việc dụng binh để bảo vệ an ninh nơi vùng đất mới. Theo Quốc triều chánh biên toát yếu, trước đây, khi chưa đào kinh Thoại Hà, xem bản đồ Châu Đốc, nhà vua cho rằng: “Đất này mở đường sông đi thẳng tới Hà Tiên, làm ruộng đi buôn đều được lợi cả. Sau này dân đến đông đúc, đất mở rộng, có thể thành một trấn to lớn”. Với quyết tâm như thế, nhà vua sai trấn thủ Hà Tiên là Mạc Công Du đi đo đường sông Châu Đốc một lần nữa, rồi vẽ bản đồ dâng lên để vua tôi tiếp tục xem xét, thảo luận. Nhân đó, có sứ thần Chân Lạp sang chầu, nhà vua đưa chủ trương này ra thăm dò thì được nghe trả lời: “Nếu đào được sông đó thì thật lợi ích cho dân Chân Lạp mà vua Phiên cũng muốn thế…”
Vì thế, tháng 12/1819, một lần nữa nhà vua tin tưởng giao phó cho Thoại Ngọc Hầu thực hiện chủ trương này.
Trước khi dân binh Việt – Chân Lạp tiến hành đào kinh nối liền Châu Đốc – Hà Tiên, nhà vua đã xuống Dụ để làm “công tác tư tưởng”: “Công trình đào sông này rất khó khăn, nhưng kế giữ nước và phòng bị biên phòng quan hệ chẳng nhỏ. Tuy rằng các ngươi khổ nhọc, nhưng đem lại lợi ích cho muôn đời sau. Vì vậy các ngươi phải động viên lẫn nhau, đừng sợ gian khó”. Dưới quyền chỉ huy tối cao của Thoại Ngọc Hầu và Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên đốc suất có đến 5.000 dân phu, 500 dân binh đồn Uy Viễn và 5.000 người Chân Lạp có mặt trong đợt ra quân lần thứ nhất. Các dân phu và dân binh này được chu cấp mỗi tháng 6 quan tiền và 1 phương gạo.
Công việc gian nan không kể xiết.
Những dân binh làm việc ngày đêm, dưới chân đá sỏi khô cằn, trên đầu nắng thiêu khô da cháy thịt. Dụng cụ làm việc thì chủ yếu bằng sức lực của cơ bắp. Khí hậu rừng núi lam chướng độc hại. Mưa nắng thất thường, người ngã bệnh cũng nhiều. Thuốc men thiếu thốn. Rừng rú còn rậm, cọp dữ bắt người cũng lắm… Không ai có thể thống kê bao nhiêu người đã bỏ mình vì việc nghĩa, khi thực hiện con kinh này. Chỉ biết trong bài văn tế có những đoạn đau xót, đầy thương cảm:
Than ôi! Ai cũng người ta
Mà sao người lại thân ra thế này
Mồ ba thước gởi thây cỏ lạ
Lễ thanh minh ai sá quét cho
Ai trừ gai gốc lan bò
Gió dồn mưa dập làm cho mòn dần
Ngày viên huyệt hú rân thê thảm
Đêm tử quy ảm đạm khóc than
Mênh mông đất rộng mây ngàn
Vật vờ lững dững hồn an nơi nào?
Móc đỡ dạ, mây bao xác ốm
Đèn ma trơi lửa đốm lập lòe
Bờ sông đất chở trời che
Vì ai cảnh vật cũng tê tái lòng!
Về hướng đào dòng kinh người ta bắt đầu vào một nơi nhằm phía tây sông Hậu, đo từ một cái hào sau thành Châu Đốc thẳng về Tịnh Biên, rồi tiến thẳng, tiếp giáp với sông Giang Thành (Hà Tiên). Trong lúc công việc đang tiến hành thì vua Gia Long băng hà, vua Minh Mạng kế nghiệp xét thấy công việc nặng nhọc quá nên xuống Dụ phải tích cực chăm sóc dân binh chu đáo hơn nữa. Tháng 3/1820, nhà vua lệnh cho Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt điều động hơn 35.000 dân binh người Việt và 10.000 dân binh Chân Lạp tham gia. Trong suốt 5 năm tiến hành việc đào kinh, nhân lực đào kinh đã lên đến 80.000 người! Sau này khảo sát thực địa, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hầu đã phát hiện ra một chi tiết quan trọng: “Để cho con kinh được ngay, người ta đợi lúc ban đêm, rẽ sậy rạch hoang, đốt đuốc trên đầu những cây sào cao rồi nhắm theo đường thẳng mà cặm. Muốn điều khiển những cây “sào lửa” ấy cho thật ngay hàng, người ta cầm một cây rọi to, đứng trên cao phất qua phất lại ra hiệu cho người cầm sào tìm đúng vị trí”.
Năm 1824, công trình hoàn thành, dòng kênh dài gần 98.300 m, bề ngang 50m, sâu 6m nối liền Châu Đốc đến cửa biển Giang Thành (Hà Tiên). Sự kiện vĩ đại này được ghi nhận trong Đại Nam nhất thống chí: “Từ đây đường sông mới lưu thông, việc biên phòng, việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. Còn vua Minh Mạng khi nối nghiệp của vua cha, ngài cũng tin tưởng vào tài năng của tổng chỉ huy Thoại Ngọc Hầu nên trong năm 1822 có đến hai lần ngài ban cho ông ơn mưa móc. Đó là sắc ban cho mẹ ông là cụ bà Nguyễn Thị Tuyết hiệu Thục Nhân, dù đã mất “Ngươi là trang mẹ hiền, con ngươi là bề tôi tốt. Nay đem đạo hiếu mà trị đời nên phải ban khen cho ngươi được vui nhuần ơn huệ. Tiếng tốt nết hay của ngươi hãy như còn đó, thì sao chẳng làm cho ơn báo đáp kia được tốt đẹp vẻ vang?”; và sắc ban cho cha ông là cụ Nguyễn Văn Lượng chức Anh dũng tướng quân, Khinh xa đô úy, Thần sách Vệ úy Nguyễn Hầu “Ngươi có đức dày, con ngươi mới nên tài giỏi”. Không những thế, nhà vua còn quyết định lấy tên vợ ông là Châu Thị Vĩnh Tế đặt tên cho con kinh mới đào: kinh Vĩnh Tế, còn ngọn núi Sam đứng trên dòng kinh cũng được đổi thành núi Vĩnh Tế.
Như thế cả vợ chồng ông cùng được đứng tên sông núi ở sơn hà xã tắc phương Nam. Thật là một vinh dự hiếm có.
Đặc biệt, năm 1835, vua Minh Mạng đã cho khắc hình ảnh dòng kinh Vĩnh Tế vào Cao đỉnh trong bộ Cửu đỉnh quốc bảo của triều Nguyễn – mỗi đỉnh nặng từ 1.921 ký đến 2.584 ký, cao từ 2,48m đến 2,50m, vòng thân từ 4,80m đến 5m. Như vậy vua Minh Mạng đã đánh giá vị trí chiến lược mọi mặt của dòng kinh này to lớn như thế nào! Có thể xem đây là một ghi nhận của triều đình đối với Thoại Ngọc Hầu và các dân binh tham gia thực hiện công trình này. Ngày nay, dòng kinh Vĩnh Tế đã thay đổi nhiều. Nối tiếp truyến thống khai sơn phá thạch của tiền nhân, các thế hệ sau tiếp tục hoàn thiện dòng kinh này để đạt đến mục đích vì dân giàu nước mạnh.
Nhà văn Nguyễn Lập Em, quê An Giang đã nói lên cảm nghĩ của một người sống trong thế kỷ XX khi Xuôi dòng kênh Vĩnh Tế (Tuổi trẻ Chủ nhật số ra ngày 30/8/1998):
“Chiếc ghe lồng trọng tải hai tấn rưỡi chở hàng bông từ Châu Đốc đi Hà Tiên đưa tôi cùng xuôi dọc suốt dòng kênh Vĩnh Tế. Trời tháng năm vòi vọi trên cao. Mây trắng vẩn vơ bay giữa ngày hè nắng ráo. Tôi ngồi ở mũi ghe, trông vời mặt nước trắng lấp lóa phía trước và hai hàng cây xanh mướt tăm tắp ở hai bên bờ. Xóm làng ẩn hiện sau đôi bờ xanh thẳm ấy. Dù biết mình đang đi trên dòng kênh biên giới, tôi vẫn cảm thấy rất rõ sự yên ả và bình dị của một vùng quê.
Tôi xuôi theo dòng kênh Vĩnh Tế vào một ngày hè bình lặng mà vẫn biết rằng dòng nước trong lành kia đã trải qua mấy bận can qua, biết bao biến cố. Máu đã loang nơi đây. Bom đạn cũng đã trút vào đây. Và, với chính số phận của mình, như sông Bạch Đằng của nghìn năm trước, dòng Vĩnh Tế nhỏ nhoi đã nhiều lượt vừa làm chứng nhân lịch sử vừa cùng với bao đời con cháu Việt Nam bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn từng ngọn rau tấc đất quê hương.
Niềm tự hào không của riêng tôi. Niềm tự hào đã lưu truyền đến biết bao người, qua bao thế hệ. Rằng khoảng 200 năm trước, ông Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, thượng quan của triều đình Huế, khi được bổ nhiệm cai quản vùng địa đầu biên giới Tây Nam, đã qui tập hàng vạn lượt người từ khắp đồng bằng sông Cửu Long về đào đắp con kênh biên giới này. Gần 100km kênh đào nối từ sông Châu Đốc đến thẳng Hà Tiên ra biển tây đã hoàn thành chỉ với sức người. Mồ hôi, nước mắt và máu xương của bao người đã đổ xuống để mở mạch lưu thông từ sông Hậu ra biển lớn, tạo nên một chiến hào bằng nước trấn giữ biên cương, một đường thủy quan trọng có lợi cả về quân sự lẫn kinh tế. Thế mới biết con kênh là sự hun đúc trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của người xưa. Thế mới hiểu vì sao dòng kênh bình dị xa xôi hẻo lánh này lại được triều đình nhà Nguyễn cho chạm khắc vào Cao đỉnh để lưu danh.
Tôi xuôi theo dòng kênh bằng tâm cảm của kẻ hậu sinh, chiêm ngưỡng kỳ tích của ông cha, chợt như thấy lại ánh đuốc bập bùng trong những đêm trường xa xưa, thuở lão thượng quan Nguyễn Văn Thoại vượt núi băng rừng chỉ huy phòng tuyến khởi công đào đắp kênh Vĩnh Tế. Hai trăm năm trước, ông Thoại Ngọc Hầu đã tạo nên một kênh đào lịch sử, kênh Vĩnh Tế, để lại cho muôn đời sau. Ngày nay, tôi nhìn ba con kênh mới đào T4, T5 và T6 chạy song song trên bản đồ địa giới tỉnh An Giang, chia nhánh từ kênh Vĩnh Tế, chợt hiểu rằng ước mơ thoát nước của người xưa đang được con cháu mình tiếp nối, nhân lên ở tầm qui mô rộng lớn.
Kênh Vĩnh Tế, dòng chảy này sẽ qua Đông Hồ rồi ra cửa biển Hà Tiên như từ trước đến nay. Giờ đây kênh Vĩnh Tế sẽ chia lưu lượng ra thêm ba nhánh nữa, ra kênh T4, T5, T6, rồi đổ ra biển tây bằng ba cửa khác ở Kiên Lương và Hà Tiên. Bằng những lối thoát ấy, nước lũ từ thượng nguồn xuống sông Hậu không còn cơ hội dâng cao, kéo dài gây thiệt hại nặng cho sản xuất và mọi mặt đời sống của nhân dân vùng tứ giác Long Xuyên rộng lớn.
Còn gì nữa về hiệu quả của những dòng kênh thoát lũ? Cũng theo số liệu của UBND tỉnh An Giang, mùa lũ năm 1997 nước lũ từ sông Hậu đổ vào Vĩnh Tế chia lưu lượng quaT4, T5, T6, thoát nhanh ra biển tây. Nhờ vậy diện tích bị ngập úng kéo dài trước đây giờ đã xuống giống được sớm hơn 20 ngày so với cùng kỳ năm trước. Riêng ở Tri Tôn, kênh T5 đã tiêu rửa phèn cho 4.000 ha đất lúa mùa và 11.000 ha đất hoang hóa. Cũng từ nguồn nước tưới của kênh T5 đã có 2.000 ha lúa một vụ chuyển sang hai vụ; thêm diện rộng đủ nước tưới để trồng rẫy đậu, rẫy dưa… Quí hơn nữa là có nguồn nước sạch ngọt cho sinh hoạt đời sống nhân dân mà suốt bao đời nay người dân ở vùng nhiễm phèn nặng này luôn khao khát.”
Như thế ước mơ của người xưa đã sống lại trong đời thực của người nay. Thoại Ngọc Hầu mất ngày 6 tháng 6 âm lịch năm 1829, được an táng trên triền núi Sam và ngày nay trở thành một Di tích Văn hóa Lịch sử của nước nhà. Nhớ đến ông, không ai trong chúng ta quên bao nhiêu mồ hôi, xương máu của dân binh thuở đốt đuốc đào kênh trong đêm, thuở dầm mưa đội nắng trong ngày, thuở chống lại sấu, cọp dữ, rắn độc… để cho đời sau có được những dòng kinh xanh mát:
Ngày 11/10/1999, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã chủ trì Hội thảo khoa học về lịch sử phát triển kênh Vĩnh Tế đã khẳng định mục đích “là để tìm về nguồn cội, để đánh giá đúng mức công lao của Thoại Ngọc Hầu, để thế hệ hôm nay biết tận dụng và phát triển công trình của tổ tiên…”
Hiện nay, tại An Giang chúng ta thấy nhân dân đã lấy chữ Vĩnh đặt đứng đầu tên các làng như Vĩnh Ngươi, Vĩnh Thông, Vĩnh Gia… rồi các xã lân cận ta cũng thấy có Vĩnh Xương, Vĩnh Hầu, Vĩnh Trường… chính là để tưởng nhớ công lao của tiền nhân.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ.