Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ

Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ

Thông tin cơ bản

Quê hương

Đại Việt sử ký toàn thư, ngoại kỷ, Quyển V chép là Dương Đình Nghệ kèm ghi chú: “Cương mục ghi Dương Diên Nghệ, người Ái Châu, tức Thanh Hóa (CMTB5, 17a). Tài liệu Trung Quốc như Tống sử (q.488), Tư trị thông giám v.v… cũng chép là Dương Diên Nghệ. Ngũ đại sử (q.65) chép như Toàn thư (là Đình Nghệ). Có thể nhầm nét chữ vì chữ 延 diên và chữ 廷 đình gần giống nhau.”

Các thư tịch cổ như An Nam chí lược, Việt sử tiêu ánĐại Việt sử ký toàn thư đều ghi chép rằng Dương Đình Nghệ là người Ái Châu. Theo Lê Tắc – tác giả An Nam chí lược (quyển Đệ nhất) – vùng Ái Châu xưa thuộc địa phận Thanh Hóa ngày nay. Đây chính là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh nhiều anh hùng của dân tộc trong buổi đầu dựng nước và giữ nước.

Từ thời cổ đại, vùng Nam Giao – tức khu vực đất Việt khi ấy – từng mang nhiều tên gọi khác nhau qua các triều đại Trung Hoa. Thời nhà Chu, vùng này được gọi là Việt Thường; đến nhà Tần, đổi thành Tượng Quận; sang nhà Hán, chia thành ba quận: Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam.

Đến thời nhà Đường, hệ thống hành chính lại được cải đổi: Giao Châu đổi thành An Nam phủ, Cửu Chân đổi thành Ái Châu, và Nhật Nam đổi thành Hoan Châu. Ba vùng này tương ứng với La Thành, Thanh Hóa và Nghệ An ngày nay, phản ánh sự hình thành dần dần của các đơn vị địa lý quen thuộc trong lịch sử Việt Nam.

Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cũng cho biết: vùng Thanh Hoa (tức Thanh Hóa) nguyên là đất Tượng Quận thời cổ; đến đời Hán đổi thành Cửu Chân, đời Lương đặt là châu Ái, sang Tùy lại đổi về Cửu Chân, và đến Đường mới trở lại tên Ái Châu.

Từ những ghi chép này có thể thấy rõ rằng Ái Châu xưa chính là Thanh Hóa ngày nay – quê hương của danh tướng Dương Đình Nghệ, người đã có công lớn trong sự nghiệp giành lại quyền tự chủ cho dân tộc vào đầu thế kỷ X.

Khởi nghĩa giành chính quyền

Không có nhiều ghi chép cụ thể về nguồn gốc và thời niên thiếu của Dương Đình Nghệ. Ông sinh ra và trưởng thành trong giai đoạn nhà Đường đang suy yếu, khi đất nước Trung Hoa bước vào thời kỳ hỗn loạn được gọi là Ngũ Đại Thập Quốc (907–979). Trong bối cảnh ấy, Dương Đình Nghệ sớm theo nghiệp binh, trở thành tướng dưới quyền Tiết độ sứ Khúc Hạo – người đang nắm quyền cai quản Giao Châu. Dưới quyền Khúc Hạo, ông được giao trông coi vùng đất phía Nam, bao gồm đồng bằng sông Mã và sông Cả, tức châu Ái và châu Hoan – hai vùng đất trọng yếu của nước Việt khi đó.

Phía Bắc nước ta lúc ấy tồn tại hai thế lực lớn là nhà Nam Hán và nhà Lương. Sau khi Khúc Hạo qua đời, con là Khúc Thừa Mỹ nối nghiệp. Năm 919, ông sai sứ sang triều đình nhà Lương xin được phong tiết việt, thể hiện ý muốn duy trì quan hệ hòa hảo. Tuy nhiên, hành động này lại khiến vua Nam Hán tức giận. Mùa thu tháng 7 năm 923 (theo sử Trung Quốc là năm 930), vua Nam Hán Lưu Nghiễm sai tướng Lý Khắc Chính (có tài liệu ghi là Lý Thủ Dung hoặc Lương Khắc Trinh) đem quân xâm lược Giao Châu. Trận chiến diễn ra ác liệt, Khúc Thừa Mỹ bị bắt và giải về Nam Hán. Sau khi chiếm được Giao Châu, vua Nam Hán phong tước cử Lý Tiến làm Thứ sử Giao Châu, cùng Lý Khắc Chính giữ thành.

Trước tình hình đất nước lại một lần nữa rơi vào tay ngoại bang, Dương Đình Nghệ không cam chịu cảnh nước nhà bị đô hộ. Đến năm 931, từ căn cứ Ái Châu (Thanh Hóa), ông quyết tâm phất cờ khởi nghĩa, báo thù cho họ Khúc và giành lại quyền tự chủ cho dân tộc. Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, ông “có chí khôi phục Giao Châu”, nuôi tới 3.000 nghĩa tử, luyện tập võ nghệ, chiêu mộ anh hùng hào kiệt khắp nơi, khơi dậy tinh thần “đại nghĩa cứu quốc”.

Biết tin Lý Tiến lo sợ, vội tâu về triều Nam Hán xin viện binh. Cùng năm ấy, Dương Đình Nghệ kéo quân ra Bắc, vây hãm thành Giao Châu. Quân Nam Hán do Trần Bảo (có sách chép là Trình Bảo) chỉ huy tiến sang cứu viện, nhưng khi đến nơi thì thành đã thất thủ. Lý Tiến bỏ trốn, Trần Bảo tiếp tục vây thành nhưng bị Dương Đình Nghệ phản công quyết liệt và bị giết tại trận.

Sau chiến thắng vang dội này, Dương Đình Nghệ chiếm giữ Giao Châu, tự xưng là Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, nắm quyền cai quản vùng đất này. Chiến thắng năm 931 không chỉ khôi phục nền tự chủ sau thất bại của họ Khúc, mà còn khẳng định sức mạnh đoàn kết và lòng kiên cường của người Việt trong công cuộc chống ngoại xâm, mở đường cho các triều đại tự chủ sau này.

Qua đời và biến động lịch sử

Mùa xuân tháng 3 năm 937, khi đang nắm quyền cai quản Tĩnh Hải quân, Dương Đình Nghệ bất ngờ bị chính thuộc tướng của mình là Kiều Công Tiễn (có sách chép là Kiểu Công Tiễn), người châu Phong, phản bội và sát hại. Hành động này không chỉ là một vụ ám sát chính trị mà còn là cuộc đảo chính đẫm máu, làm lung lay nền tự chủ non trẻ mà Dương Đình Nghệ dày công gây dựng sau bao năm kháng chiến.

Sau khi giết chủ tướng, Kiều Công Tiễn tự xưng Tiết độ sứ, chiếm giữ Giao Châu, nhưng không nhận được sự ủng hộ của nhân dân và các tướng lĩnh. Biết thế lực mình yếu, ông ta cầu cứu nhà Nam Hán, mong dựa vào ngoại bang để củng cố quyền lực. Hành động này bị xem là phản quốc, gây phẫn nộ khắp nơi.

Khi hay tin Dương Đình Nghệ sát hại, Ngô Quyền lúc ấy là thứ sử Ái Châu và cũng là con rể của Dương Đình Nghệ  vô cùng căm phẫn. Ông lập tức tập hợp binh mã, kéo quân ra Bắc để trừng trị Kiều Công Tiễn, đồng thời báo thù cho cha vợ.

Biết trước thế nào cũng bị Ngô Quyền trả thù, Kiều Công Tiễn càng gấp rút cầu cứu vua Nam Hán xin viện binh. Nam Hán liền chớp cơ hội đưa quân sang, hy vọng nhân vụ nội chiến ở Giao Châu mà tái chiếm vùng đất này. Tuy nhiên, âm mưu ấy đã dẫn đến thất bại nặng nề trong trận thủy chiến trận Bạch Đằng năm 938.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 không chỉ trả thù cho Dương Đình Nghệ, mà còn đặt nền móng cho kỷ nguyên tự chủ lâu dài của dân tộc Việt, mở đầu thời kỳ nhà Ngô và chấm dứt vĩnh viễn ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Dương Đình Nghệ vì thế được xem là người mở đường cho độc lập tự chủ, một anh hùng trung liệt, để lại tấm gương sáng về lòng yêu nước và chí khí kiên cường cho muôn đời sau.

Thờ tự

Tưởng nhớ công lao trời biển của ông, nhân dân đã lập đền thờ, hương khói quanh năm. Đền thờ Anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ tại phường Thiệu Dương (TP. Thanh Hóa) được Nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1996.

Một số nhận định về Dương Đình Nghệ

Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án bàn: Cuối đời Hán, Đường phần nhiều nuôi giả tử, là vì đương lúc trí, lực chọi nhau, hay là trong khi hoạn nạn cùng theo nhau, đắc lực trong lúc hoãn cấp, tức thì nhận làm giả tử, không biết rằng lòng lang khó dạ. Dấu của hớ hênh, là xui cho người lấy trộm, thiên tính như thế không thể làm khác được. Đình Nghệ nuôi giả tử đến 3.000 người, thì bị nạn, còn hối sao được nữa”.

Lê Tắc trong An Nam Chí Lược chép:

“Cuối đời Hàm-Thông Trung-Quốc loạn,

Chuyển-vận đường xa bỏ bê trễ.

Ngô-Quyền, Khúc-Hạo, Kiểu và Dương,

Soán đoạt giành nhau, dân kiệt quệ.

Họ Đinh, đời Tống mới phong vương

Keith Weller Taylor trong sách The Birth of Vietnam: “Trong khi Khúc Thừa Mỹ đã theo đuổi một tầm nhìn được lý tưởng hóa về nền văn minh Đường, Dương Đình Nghệ đã sẵn sàng tham gia quyền lực chính trị thực dụng. Ông đã lãnh đạo cho lần thức tỉnh đầu tiên của Quyền lực Việt Nam”.

Tài liệu tham khảo

  1. Khuyết danh, Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993.
  2. Ngô Sĩ Liên (1983),Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội.
  3. Trần Trọng Kim (1968), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
  4. Phạm Văn Sơn (1968), Việt sử tân biên, Quyển 1, Nxb Khai Trí.
  5. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1983), Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Đại học & THCN
  6. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Đoàn, Nguyễn Cảnh Minh (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Giáo dục.
  7. Nhiều người soạn (1977), Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10), quyển 1 tập 1, Nxb Giáo dục.
  8. Văn Lang, Quỳnh Cư, Nguyễn Anh (1995), Danh nhân đất Việt (Tập 1), Nxb Thanh niên.
  9. Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc (1984), Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Duong Dinh Nghe, Military Governor (Tiet Do Su) of Tinh Hai Quan

Homeland

The Dai Viet su ky toan thu records Duong Dinh Nghe as the son of Duong Tuc, a tribal chief in Chu Dien. The Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc further notes: “Quang Phuc was the son of Duong Tuc from Chu Dien district; his bearing was imposing and valiant; he followed the Southern Viet Emperor Ly B…” (annotation: “CMTB5, 17a”). Chinese sources such as the Song shi (juan 488) and the Zizhi tongjian also record his name as Duong Dien Nghe. The Wu dai shi (juan 65), however, follows the Toan thu by writing Dinh Nghe, likely due to confusion between the characters 延 (dien) and 廷 (dinh), which are graphically similar.

Classical texts such as the An Nam chi luoc, Viet su tieu an, and the Dai Viet su ky toan thu all state that Duong Dinh Nghe was a native of Ai Chau. According to Le Tac, author of the An Nam chi luoc (juan 1), the ancient region of Ai Chau corresponds to modern Thanh Hoa. This land, long seen as “the abode of spirithly terrain and heroic people,” produced many national heroes in the early eras of state formation and defense.

Since antiquity, the southern region known to Chinese sources as Nam Giao underwent numerous administrative renamings. Under the Zhou, it was called Viet Thuong; under the Qin, it became Xiang commandery; under the Han, it was divided into Giao Chau, Cuu Chan, and Nhat Nam.

During the Tang dynasty, administrative divisions changed again: Giao Chau became An Nam prefecture, Cuu Chan became Ai Chau, and Nhat Nam became Hoan Chau. These correspond to present-day La Thanh, Thanh Hoa, and Nghe An, reflecting the gradual consolidation of familiar Vietnamese geographic units.

Phan Huy Chu, in Lich trieu hien chuong loai chi, also states that Thanh Hoa was originally the ancient Xiang commandery; under the Han it became Cuu Chan; under the Liang it was Ai prefecture; under the Sui it reverted to Cuu Chan, and under the Tang it again became known as Ai Chau.

From these accounts, it is clear that ancient Ai Chau corresponds to today’s Thanh Hoa, the homeland of the general Duong Dinh Nghe, who played a crucial role in restoring Vietnamese autonomy in the early tenth century.

Uprising to seize power

Little is known about the early life and upbringing of Duong Dinh Nghe. He was born during the decline of the Tang dynasty, as China entered the chaotic period known as the Five Dynasties and Ten Kingdoms (907–979). He soon entered military service and became a general under Khuc Hao, the Tiet Do Su governing Giao Chau. Under Khuc Hao, Duong Dinh Nghe was entrusted with overseeing the southern regions, including the Ma and Ca river plains—Ai Chau and Hoan Chau—two strategic zones of early Vietnam.

At that time, two major powers dominated the northern frontier: the Southern Han and the Later Liang. After Khuc Hao died, his son Khuc Thua My succeeded him. In 919, he sent envoys to the Later Liang court requesting recognition, aiming to maintain peaceful relations. This act angered the Southern Han king. In the autumn of the seventh month of 923 (Chinese sources date this as 930), Liu Yan, king of the Southern Han, dispatched the general Li Ke Chinh (some sources say Li Thu Dung or Luong Khac Trinh) to invade Giao Chau. After fierce fighting, Khuc Thua My was captured and taken to Southern Han. The conquerors appointed Li Tien as Governor (Thu su) of Giao Chau, assisted by Li Ke Chinh.

Refusing to accept another period of foreign domination, Duong Dinh Nghe raised an uprising in 931 from his base in Ai Chau (Thanh Hoa). Determined to avenge the Khuc family and restore autonomy, he “cherished the ambition to recover Giao Chau,” as recorded in the Cuong muc. He raised and trained as many as 3,000 adopted sons (gia tu), gathering heroes from all quarters and rousing the spirit of “righteous salvation of the nation.”

Hearing of the uprising, Li Tien panicked and urgently requested reinforcements from the Southern Han. That same year, Duong Dinh Nghe marched north and besieged Giao Chau. The Southern Han relief force led by Tran Bao (also recorded as Trinh Bao) arrived only to find the citadel already fallen. Li Tien fled; Tran Bao continued the siege but was defeated and killed by Duong Dinh Nghe’s forces.

Following this decisive victory, Duong Dinh Nghe took control of Giao Chau and proclaimed himself Tiet Do Su of Tinh Hai Quan. The triumph of 931 not only restored autonomy after the fall of the Khuc family but also affirmed Vietnamese resilience and unity in resisting foreign domination, paving the way for later independent dynasties.

Death and historical upheavals

In the third month of 937, while governing Tinh Hai Quan, Duong Dinh Nghe was assassinated by his subordinate Kieu Cong Tien (also recorded as Kieu Cong Tien), from Chau Phong. This was not merely political murder but a bloody coup that jeopardized the fragile autonomy Duong Dinh Nghe had worked to rebuild.

Kieu Cong Tien seized power, proclaiming himself Tiet Do Su. Lacking legitimacy, he sought help from the Southern Han, an act widely condemned as treason.

Upon learning of his father-in-law’s murder, Ngo Quyen—then Governor of Ai Chau—was enraged. He assembled forces and marched north to punish Kieu Cong Tien and avenge Duong Dinh Nghe.

Knowing he could not withstand Ngo Quyen, Kieu Cong Tien urgently requested reinforcements from the Southern Han, who took the opportunity to attempt another invasion. Their intervention, however, culminated in the catastrophic defeat at the famous Battle of Bach Dang in 938.

The victory at Bach Dang not only avenged Duong Dinh Nghe but also established a lasting era of Vietnamese self-rule, founding the Ngo dynasty and ending centuries of northern domination. Duong Dinh Nghe is thus regarded as the forerunner of independence, a loyal and steadfast hero whose patriotism set an enduring example.

Temple

In gratitude for his immense contributions, the people erected temples in his honor. The temple dedicated to the national hero Duong Dinh Nghe in Thieu Duong ward (Thanh Hoa City) was recognized as a national historical and cultural site in 1996.

Some assessments of Duong Dinh Nghe

Ngo Thi Si, in the Viet su tieu an, wrote:

“Toward the end of the Han and Tang, many officials raised adopted sons. In times of hardship and conflict, those who shared danger together were often taken as foster sons. But one could never know their hidden intentions. This tendency to trust easily invites disaster. Duong Dinh Nghe raised up to three thousand such men; then he suffered calamity—how could he regret it afterward?”

Le Tac’s An Nam chi luoc records:

“In the late Xiantong reign, China fell into chaos,

Transport routes failed and governance waned.

Ngo Quyen, Khuc Hao, Kieu, and Duong

Fought for power as the people waned.

Only under Dinh, in the Song era, was a king established.”

Keith Weller Taylor, in The Birth of Vietnam, wrote:

“While Khuc Thua My pursued an idealized vision of Tang civilization, Duong Dinh Nghe was ready for practical political power. He led the first awakening of Vietnamese authority.”

References

  1. Khuyết danh, Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993.
  2. Ngô Sĩ Liên (1983),Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội.
  3. Trần Trọng Kim (1968), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
  4. Phạm Văn Sơn (1968), Việt sử tân biên, Quyển 1, Nxb Khai Trí.
  5. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1983), Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Đại học & THCN
  6. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Đoàn, Nguyễn Cảnh Minh (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Giáo dục.
  7. Nhiều người soạn (1977), Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10), quyển 1 tập 1, Nxb Giáo dục.
  8. Văn Lang, Quỳnh Cư, Nguyễn Anh (1995), Danh nhân đất Việt (Tập 1), Nxb Thanh niên.
  9. Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc (1984), Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ.

Tiếng Pháp

General-Gouverneur du Tinh Hai – Duong Dinh Nghe

Origine

Le Dai Viet su ky toan thu, section « Ngoại kỷ », Livre V, mentionne Dương Đình Nghệ, avec une note précisant : « Le Cuong muc écrit Duong Dien Nghe, originaire d’Ai Chau, c’est-à-dire Thanh Hoa (CMTB5, 17a). Des sources chinoises comme le Song shi (t.488), le Zizhi tongjian, etc., écrivent également Duong Dien Nghe. Le Wu dai shi (t.65) écrit, comme le Toan thu, Dinh Nghe. Il pourrait s’agir d’une confusion graphique, car les caractères 延 (dien) et 廷 (dinh) sont proches. »

Les sources anciennes telles que An Nam chi luoc, Viet su tieu an et Dai Viet su ky toan thu s’accordent pour dire que Duong Dinh Nghe était originaire d’Ai Chau. Selon Le Tac, auteur de An Nam chi luoc (Livre Premier), Ai Chau correspond au territoire de l’actuelle province de Thanh Hoa – une terre de haut lignage, foyer de nombreux héros dans les premiers siècles de formation et de défense du pays.

Dans l’Antiquité, la région du Nam Giao – correspondant à l’espace vietnamien – porta divers noms à travers les dynasties chinoises. Sous les Zhou, elle s’appelait Viet Thuong ; sous les Qin, elle devint le district de Tuong Quan ; sous les Han, elle fut divisée en trois commanderies : Giao Chau, Cuu Chan et Nhat Nam.

Sous les Tang, l’organisation administrative fut transformée : Giao Chau devint le Protectorat d’An Nam, Cuu Chan devint Ai Chau, et Nhat Nam devint Hoan Chau. Ces trois régions correspondent respectivement à La Thanh, Thanh Hoa et Nghe An d’aujourd’hui.

Dans le Lich trieu hien chuong loai chi, Phan Huy Chu note également que Thanh Hoa (appelée Thanh Hoa ou Thanh Hoa tri) était anciennement le territoire de Tuong Quan ; sous les Han, Cuu Chan ; sous les Liang, Ai Chau ; sous les Sui, de nouveau Cuu Chan ; et sous les Tang, Ai Chau fut rétablie.

Ainsi, Ai Chau correspond clairement à Thanh Hoa – patrie du général Duong Dinh Nghe, figure majeure de la reconquête de l’autonomie vietnamienne au début du Xe siècle.

Insurrection et prise du pouvoir

On ne dispose que de peu d’informations sur l’enfance et l’origine familiale de Duong Dinh Nghe. Il naquit et grandit à une époque où la dynastie des Tang déclinait et où la Chine entrait dans la période chaotique dite des Cinq Dynasties et Dix Royaumes (907–979). Dans ce contexte troublé, Duong Dinh Nghe embrassa très tôt la carrière militaire et devint général sous l’autorité du Tiết độ sứ Khuc Hao, alors gouverneur de Giao Chau. Il reçut la charge d’administrer les régions méridionales, notamment les plaines des fleuves Ma et Ca, correspondant à Ai Chau et Hoan Chau – deux zones stratégiques du pays.

Au nord du Vietnam existaient alors deux puissances : le royaume de Nam Han et la dynastie des Liang postérieurs. À la mort de Khuc Hao, son fils Khuc Thua My lui succéda. En 919, celui-ci envoya des émissaires à la cour des Liang afin d’obtenir la reconnaissance officielle de son titre, marquant son intention de maintenir des relations pacifiques. Mais cette démarche irrita profondément le roi de Nam Han.

À l’automne, au 7e mois de l’an 923 (selon les chroniques chinoises, l’an 930), le roi de Nam Han, Liu Yan, envoya le général Li Kezheng (selon les sources : Li Shurong ou Liang Ketrinh) attaquer Giao Chau. Après de violents combats, Khuc Thua My fut capturé et emmené en Nam Han. Le roi nomma ensuite Li Tien au poste de préfet de Giao Chau, avec Li Kezheng chargé de défendre la citadelle.

Le pays était de nouveau tombé sous la domination étrangère. En 931, depuis sa base d’Ai Chau (Thanh Hoa), Duong Dinh Nghe décida de déclencher une révolte pour venger la famille Khuc et rétablir l’autonomie. Selon le Kham dinh Viet su thong giam cuong muc, il « nourrit l’ambition de restaurer Giao Chau », rassembla 3 000 fidélisés, forma une armée disciplinée et rallia les héros locaux.

Informé, Li Tien prit peur et demanda de l’aide à Nam Han. La même année, Duong Dinh Nghe marcha vers le nord, assiégea Giao Chau. L’armée de renfort menée par Tran Bao (ou Trinh Bao) arriva trop tard : la citadelle était déjà tombée. Li Tien prit la fuite ; Tran Bao tenta d’encercler la citadelle, mais il fut battu et tué par Duong Dinh Nghe.

Ce triomphe permit à Duong Dinh Nghe de prendre le contrôle de Giao Chau. Il se proclama Tiết độ sứ du Tinh Hai et gouverna le territoire. La victoire de 931 marqua la restauration de l’autonomie vietnamienne, réaffirmant la résistance du peuple contre l’envahisseur et préparant l’essor des dynasties indépendantes.

Mort et bouleversements politiques

Au printemps, en mars 937, alors qu’il gouvernait fermement le Tinh Hai, Duong Dinh Nghe fut assassiné par son propre général, Kieu Cong Tien, originaire de Phong Chau. Cet événement constitua un coup d’État sanglant, ébranlant l’autorité encore fragile de la région.

Kieu Cong Tien s’empara du pouvoir mais ne reçut ni soutien populaire ni appui de ses pairs. Conscient de sa faiblesse, il appela le royaume de Nam Han à l’aide, acte considéré comme une trahison.

Apprenant la mort de son beau-père, Ngo Quyen, alors préfet d’Ai Chau et gendre de Duong Dinh Nghe, rassembla ses troupes pour châtier Kieu Cong Tien et venger Duong Dinh Nghe.

Effrayé, Kieu Cong Tien pressa encore Nam Han d’intervenir. Le roi de Nam Han y vit l’occasion de reconquérir Giao Chau. Toutefois, cette intervention étrangère conduisit au désastre de 938 sur la rivière Bach Dang, où Ngo Quyen écrasa l’armée de Nam Han.

Cette victoire historique mit fin à plus d’un millénaire de domination chinoise et ouvrit l’ère de l’indépendance durable du Vietnam. Duong Dinh Nghe est ainsi considéré comme le précurseur du mouvement d’autonomie, un héros loyal dont le patriotisme demeure exemplaire.

Temple commémoratif

Pour honorer ses mérites, le peuple érigea un temple dédié à Duong Dinh Nghe. Le temple situé à Thiệu Dương (ville de Thanh Hoa) fut reconnu en 1996 comme vestige historique et culturel national.

Quelques appréciations historiques

Ngo Thi Si, dans Viet su tieu an, observe :

« À la fin des Han et des Tang, nombreux étaient ceux qui élevaient des fils adoptifs… Duong Dinh Nghe en éleva jusqu’à 3 000 ; il n’est donc pas surprenant qu’il ait fini victime de l’un d’eux. »

Le Tac, dans An Nam chi luoc, écrit :

« À la fin de l’ère Ham-Thong, la Chine était en proie au chaos…

Ngo Quyen, Khuc Hao, Kieu et Duong

Se disputaient le pouvoir, épuisant le peuple… »

Keith Weller Taylor, dans The Birth of Vietnam :

« Alors que Khuc Thua My poursuivait une vision idéalisée inspirée de la civilisation Tang, Duong Dinh Nghe s’engagea résolument dans une stratégie politique pragmatique. Il fut l’un des artisans du premier réveil du pouvoir vietnamien. »

Références

  1. Khuyết danh, Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993.
  2. Ngô Sĩ Liên (1983),Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội.
  3. Trần Trọng Kim (1968), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
  4. Phạm Văn Sơn (1968), Việt sử tân biên, Quyển 1, Nxb Khai Trí.
  5. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1983), Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Đại học & THCN
  6. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Đoàn, Nguyễn Cảnh Minh (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Giáo dục.
  7. Nhiều người soạn (1977), Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10), quyển 1 tập 1, Nxb Giáo dục.
  8. Văn Lang, Quỳnh Cư, Nguyễn Anh (1995), Danh nhân đất Việt (Tập 1), Nxb Thanh niên.
  9. Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc (1984), Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ.

Tiếng Trung

靜海軍節度使楊延藝(Duong Dinh Nghe)

故鄉

《大越史記全書·外紀·卷五》記載楊延藝(Duong Dinh Nghe),並附注:「《綱目》記為楊延藝(Duong Dien Nghe),為艾州人,即清化(CMTB5, 17a)。中國史籍如《宋史》(卷488)、《資治通鑑》等亦作楊延藝(Duong Dien Nghe)。《五代史》(卷65)與《全書》同書(作廷藝)。蓋因延、廷二字形近而誤。」

諸古籍如《安南志略》《越史乘案》及《大越史記全書》均載:楊延藝(Duong Dinh Nghe)為艾州人。據《安南志略》作者黎崱記載,艾州古即今之清化。此地自古地靈人傑,為民族肇建與衛國時代多位英豪的誕生之地。

自上古以來,南交——即當時越地,在中國諸代有不同稱呼。周稱越常;秦置象郡;漢分為交州、九真、日南三郡。唐代改制:交州改安南府,九真為艾州,日南為驩州,分別對應今日羅城、清化與乂安。

《歷朝憲章類誌》亦曰:清華(清化)本古象郡地,漢為九真,梁置艾州,隋改回九真,唐復名艾州。據此可明:古艾州即今清化,即楊延藝(Duong Dinh Nghe)之故鄉,此位名將於十世紀初復興民族自主功勳卓著。

起義掌政

楊延藝(Duong Dinh Nghe)之身世少載。生於唐末衰頹、天下大亂、五代十國(907–979)將起之際。他早從軍成為曲顥(Khuc Hao)屬下將領,受命鎮守南方,即馬江、嘉江流域——艾州與驩州,皆為越地要區。

時北方有南漢與後梁兩強。曲顥死後,其子曲承美(Khuc Thua My)嗣職。919年遣使後梁請節鉞,意在維持和好,卻激怒南漢。

923年秋七月(中國史作930年),南漢王劉龑遣將李克靖(或作李守容、梁克貞)寇交州。曲承美被擒。南漢遂命李進(Li Tien)為交州刺史,與李克靖守城。

國土再陷外族之手,楊延藝(Duong Dinh Nghe)毅然舉義。931年,他於艾州(清化)舉兵復仇,恢復民族自主。《欽定越史通鑑綱目》曰:其「有恢復交州之志」,收義子三千,訓武藝,招豪傑,激發「大義救世」之精神。

李進恐懼,急請南漢援兵。同年楊延藝北伐,圍交州城。南漢援軍由陳保(或作程保)率領,但至時城已陷。李進遁走,陳保雖續圍城,卻遭楊延藝反擊而斃。

大捷後,楊延藝據交州,自稱靜海軍節度使。此役恢復曲氏失去之自主,彰顯越人抗外之力量,為後來諸朝自立奠基。

身亡與歷史變故

937年三月,楊延藝(Duong Dinh Nghe)為部將矯公羡(Kieu Cong Tien,或作Kieu Cong Tien)所弒,此舉既是叛變亦是政變,使新生的自主局勢動搖。矯公羡自稱節度使,但不得民心,遂求援南漢,被視為賣國。

時吳權(Ngo Quyen)為艾州刺史,亦為楊延藝女婿,聞之震怒,立即北伐討逆。矯公羡知必敗,更急請南漢援軍。南漢遂伺機入寇,然最終於938年白藤江水戰中全軍覆沒。

此一勝利既雪楊延藝之恨,又開啟越南長期自主之門,終結北方封建王朝的統治。楊延藝因而被視為開啟民族獨立之先驅,其忠烈精神不朽。

祠廟

為追思其功德,百姓建祠奉祀。清化省紹楊坊楊延藝(Duong Dinh Nghe)祠於1996年列為國家級歷史文化遺跡。

参考

  1. Khuyết danh, Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993.
  2. Ngô Sĩ Liên (1983),Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội.
  3. Trần Trọng Kim (1968), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
  4. Phạm Văn Sơn (1968), Việt sử tân biên, Quyển 1, Nxb Khai Trí.
  5. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1983), Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Đại học & THCN
  6. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Đoàn, Nguyễn Cảnh Minh (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Giáo dục.
  7. Nhiều người soạn (1977), Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10), quyển 1 tập 1, Nxb Giáo dục.
  8. Văn Lang, Quỳnh Cư, Nguyễn Anh (1995), Danh nhân đất Việt (Tập 1), Nxb Thanh niên.
  9. Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc (1984), Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ.
Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (12)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)