Tô Hiệu (1912 -1944)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Hình ảnh khá tiêu biểu của một thế hệ thanh niên yêu nước trong những năm 20 của thế kỷ XX: tiếp thu tinh thần chống Pháp qua sách báo tiến bộ, qua những câu chuyện kể về những người anh hùng hy sinh vì khởi nghĩa chống Pháp; sau đó, tham gia phong trào đòi thực dân Pháp phải ân xá cụ Phan Bội Châu, bãi khóa để dự lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh. Nhà trường thực dân không chấp nhận những học sinh có tư tưởng như thế nên đuổi học. Từ đó, dù tuổi còn rất trẻ, nhưng họ đã chính thức lao vào con đường hoạt động cách mạng; được kết nạp Đảng trong tù và cuối cùng cũng trút hơi thở cuối cùng ở trong tù. Một trong số những người tiêu biểu đó là Tô Hiệu. Thuở còn sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân có lần lên thăm di tích nhà tù Sơn La, tình cờ bắt gặp cây đào đỏ thắm và vui miệng nói: “- Cây đào Tô Hiệu trồng lúc còn sống”. Về sau nhà văn Nguyễn Công Hoan hư cấu thành mẫu chuyện “Cây đào Tô Hiệu”. Các báo khác lặp theo, người này kể người nọ, thầy cô giáo truyền cho học trò… Dần dần mọi người tưởng thật. Dù sau này biết vậy, nhưng không ai muốn thay đổi cả. Bởi lẽ, nhân cách của của một người cộng sản hy sinh năm 32 tuổi còn để lại trong trí nhớ những người hoạt động cùng thời ấn tượng tốt đẹp nhất.

Quê quán và hoạt động cách mạng

Tô Hiệu sinh năm 1912 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang (Hưng Yên) trong gia đình nho học nghèo. Sau khi bị đuổi học, năm 1927, anh lên Hà Nội học trường tư. Và tinh thần yêu nước của anh còn tiếp tục thể hiện qua những lần đấu tranh khác. Vì vậy, tổ chức Học sinh đoàn của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội kết nạp anh vào Hội. Ngoài nhiệm vụ học tập, anh cùng các đồng chí đi tuyên truyền, rải truyền đơn, giăng biểu ngữ… trong các dịp như kỷ niệm ngày Quốc tế Lao Động, Cách mạng tháng Mười Nga v.v… Năm 1929, thực dân Pháp đánh hơi mọi hoạt động của Tô Hiệu, trước khi chúng chuẩn bị vây bắt thì anh đã nhanh chân trốn vào Sài Gòn. Lúc này, anh ruột Tô Hiệu là Tô Chấn đã là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, được lệnh hạ sát Toàn quyền Pasquier nhưng thất bại, bị thực dân bắt. Năm 1930, Tô Hiệu cũng bị kết án 4 năm tù và đày đi Côn Đảo.

Những năm tháng ở Côn Đảo

Hai anh em cùng hội ngộ trong tù, nhưng không được bao lâu vì sau đó Tô Chấn mất tích cùng với Ngô Gia Tự trong cuộc vượt biển. Dù chỉ mới 18 tuổi, nhưng Tô Hiệu đã trưởng thành sớm. Ít nhất là có đến bảy lần, anh cùng những người cộng sản tổ chức vượt ngục. Do đó, chúng ghép anh vào thành phần tù chính trị nguy hiểm và áp dụng mọi thức hình phạt, kể cả việc tống giam trong hầm xay lúa mà Pháp gọi là “khu trừng giới”. Nơi đây, tù nhân phải đeo xiềng suốt ngày đêm và phải xay lúa bằng cối lớn theo kiểu khoán: mỗi ngày 100 người phải xay xong 200 ký thóc trong ánh sáng nhợt nhạt và bụi trấu, bụi thóc bắn tung tóe!

Khi bị giam nơi đây, anh cùng thủ lĩnh Tôn Đức Thắng chống lại bọn “cặp-rằn”, bọn thường phạm lưu manh đầu trộm đuôi cướp để giải quyết dứt điểm tình trạng người tù chính trị bị bọn này đánh đập vô cớ và hạn chế bớt những khắc nghiệt ghê gớm nơi đây. Chi bộ Đảng trong tù đã kết nạp anh vào Đảng. Chịu đựng chế độ tàn khốc của “địa ngục trần gian” và những ngón nghề tra tấn của kẻ thù, mới 18 tuổi, Tô Hiệu đã mắc bệnh lao. Thời đó, căn bệnh này là nỗi ám ảnh ghê gớm về cái chết.

Bốn năm sau anh được thả tự do, nhưng vẫn bị quản thúc tại làng. Đây cũng là thời gian diễn ra cuộc tình rất cảm động của anh. Về với gia đình, gặp mẹ già, anh òa lên khóc nức nở dù chưa bao giờ rơi giọt nước mắt trước nanh vuốt của kẻ thù. Cha mất sớm, tình thương yêu dành hết cho mẹ. Đêm đó, trong bóng tối của căn nhà xiêu vẹo, bà mẹ già giọt ngắn giọt dài khuyên Tô Hiệu nên có vợ.

Khôi phục tổ chức Đảng và lãnh đạo phong trào cách mạng

Đó là chuyện sau này. Còn sau khi được trả tự do năm 1934, Tô Hiệu tìm mọi cách vượt qua sự bao vây, phong tỏa của kẻ thù để bắt liên lạc với Đảng. Năm 1936, anh cùng với Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) và nhiều đồng chí khác xây dựng lại hệ thống tổ chức Đảng và chỉ đạo phong trào quần chúng Bắc Kỳ. Lúc này, anh được bầu làm Ủy viên Thường vụ Xứ ủy, phụ trách các tỉnh miền biển lấy Hải Phòng làm trung tâm. Dưới sự lãnh đạo của anh, nhiều cuộc bãi công, biểu tình đã nổ ra ở thành phố cảng.

Hoạt động trong nhà tù thực dân

Với cương vị Bí thư Thành ủy Hải Phòng, năm 1939, trong lúc chủ trì cuộc họp tại nhà Bùi Đình Đồng – Bí thư chi bộ nhà máy xi-măng anh bị giặc Pháp phát hiện, bắt giam ở nhà lao Hải Phòng.

Trời mỗi ngày một rét. Trại giam khi chật chội thì rất độc ác, nhưng khi quá rộng thì cũng rất độc ác. Chúng tôi hơn hai mươi người ở một cái trại xây để giam hơn trăm người. Tường sơn hắc ín, sàn gỗ lim trần trụi, cùm sắt, cửa sắt, lưới sắt. Cái lạnh, cái buốt càng ghê thịt, ghê xương. Khuya tiếng người ho, người rên cứ âm âm lanh lảnh. Ngồi sát mặt tường hắc ín, gần ngay cánh cửa sắt của trại giam, chỗ độc nhất
có ngọn đèn mờ chiếu sáng cho cả trại giam và dãy xà-lim ngoài kia, Tô Hiệu một mình còm cõi viết… Mắt anh Tô Hiệu như dán xuống giấy bút… Mẩu chì cũng gần hết. Tất cả chỉ còn bằng ngón tay. Mỗi lần vót phải nhờ lưỡi dao đặc biệt đánh bằng mẩu dây thép phơi quần áo, đem đập mỏng và mài sắc đến độ chúng tôi đã cạo được mặt, sửa được tóc cho nhau. Tô Hiệu kẹp mẩu chì đó vào một đoạn đũa tre, mỗi lần viết xong anh lại giấu đi một chỗ dành cho các tài liệu đặc biệt.

Khuya rét, lúc anh em ngủ yên ắng cả rồi, tiếng ho nhỏ của Tô Hiệu chỉ thủng thẳng. Cái bóng Tô Hiệu dưới ngọn đèn vàng đục, bên cạnh bức tường hắc ín rắn đanh như gang như thép và cả tấm cửa sắt sừng sững im lìm kia, cứ cắm cúi hàng giờ, nhiều khi không nhúc nhích gì cả. Các bản viết càng về sau, dòng lại càng nhỏ hơn, chữ càng sít hơn. Trước kia, chỉ có buổi sáng tài liệu mới truyền sang xà-lim phụ nữ, giờ cả buổi chiều. Trong chúng tôi nhiều anh em đã khẩn khoản nói với Tô Hiệu để anh em viết thay cho, nhưng Tô Hiệu nhất định không nghe. Anh bảo:

Không nên! Những tài liệu nhỡ ra có bị khám, lọt vào tay đế quốc thì chỉ mình bị tra, bị đánh, rồi chúng có kết thêm tội mình thì cũng chỉ đến hai mươi năm hay chung thân là cùng. Còn anh em kẻ án nhẹ, kẻ sắp ra, kẻ cần phải giữ bí mật, “tổ chức” phải giữ gìn cho anh em. Vả lại giờ đây giấy bút còn quý hơn cả vàng ngọc, anh em không viết quen, không đảm bảo được chương trình

Ít lâu sau bọn thực dân phát hiện ra những tờ chỉ thị, truyền đơn… như thế nên giải anh về Hỏa Lò. Tại đây, dù bị theo dõi rất ngặt, anh vẫn tiếp tục công việc của mình. Cuối cùng, chúng đày anh lên nơi rừng thiêng nước độc Sơn La.

Chi bộ nhà tù Sơn La

Đại tướng Văn Tiến Dũng có kể lại: “Sơn La, một địa ngục trần gian, là nơi bọn thực dân giam cầm đày ải những người yêu nước và cách mạng nhằm hủy diệt dần mòn lực lượng lãnh đạo và phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Nhưng cũng chính nơi đây, thực dân đã thua, cách mạng đã thắng. Cách mạng đã biến nhà tù Sơn La thành trường học đấu tranh cách mạng, thành nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cách mạng, nơi gieo những hạt giống đỏ sau này nở ra hoa, kết trái trên núi rừng Sơn La, nơi mà những phẩm chất tinh thần, bản lĩnh chính trị của người cộng sản được thể hiện sáng tỏ. Đó là nhờ sự lãnh đạo của chi bộ Đảng lâm thời đầu tiên được bí mật thành lập cuối tháng 12/1939 đến chi bộ chính thức 2/1940. Đồng chí Trần Huy Liệu được cử làm bí thư, Tô Hiệu là chi ủy viên trong tù”. Sau đó, Sao Đỏ (tức Nguyễn Lương Bằng) làm bí thư, rồi từ tháng 5/1940, Tô Hiệu đảm nhận vai trò này. Đại tướng viết tiếp: “Từ khi đồng chí Tô Hiệu được bầu làm bí thư, hoạt động cách mạng trong tù có sự tập trung, thống nhất hơn, có phương hướng rõ ràng, có tổ chức và phương pháp được xác định. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, đời sống anh em tù được tổ chức quy củ và khoa học, được cải thiện rõ rệt qua đấu tranh bảo đảm sức khỏe, nuôi dưỡng tinh thần anh em, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh thắng lợi, tuyên truyền cách mạng cho binh lính và đồng bào địa phương, nhen nhúm phong trào cách mạng ở tỉnh Sơn La. Điều đáng quý nhất là đã đào tạo, bồi dưỡng được nhiều đảng viên và cảm tình Đảng sau này trở thành những cán bộ ưu tú của Đảng. Công đầu là thuộc về đồng chí Tô Hiệu – người mà chúng tôi coi là linh hồn của nhà tù, của chi bộ”

Cuộc đấu tranh trong tù và những ngày cuối đời

Lúc nầy, Tô Hiệu đang bị lao nặng, phải ở phòng riêng biệt. Từ những năm 1940, cao trào cách mạng trong cả nước đang có những bước chuyển mới, bọn cai tù thực dân càng khiếp sợ và chúng trả thù bằng cách áp dụng chế độ khắc nghiệt để giết dần giết mòn tù chính trị. Do đó, không phải ngẫu nhiên khi mừng xuân mới Trần Huy Liệu có làm bài thơ tặng Tô Hiệu cùng các đồng chí của mình với câu chúc:

Chúc mừng năm mới năm mau hết,
Có đái xin đừng đái máu ra.

Để đối phó lại tình hình này, Tô Hiệu đã phát động cuộc tuyệt thực, cho dù có thất bại thì “cũng là một sự rèn luyện chí khí, thao dượt tôi luyện sức chịu đựng. Ít nhất nó cũng làm cho địch chùn tay, không phải bắt thế nào thì người tù cách mạng phải cúi đầu cam chịu”. Thực dân đàn áp bằng cách tống những nguời tuyệt thực xuống hầm và không cho uống nước! Nhưng chúng quên rằng, người trực tiếp liên lạc tù nhân trong căn hầm nóng ngột ngạt như sấy khô da thịt với sự sống mong manh bên ngoài là Tô Hiệu. Ủy ban đấu tranh trong tù, xét thấy anh bị lao trầm trọng nên cho đứng ngoài cuộc tuyệt thực. Hằng ngày, anh vẫn tìm cách chuyển thông tin bên ngoài và tiếp tế nước uống cho anh em. Anh làm được điều này nhờ công tác binh vận khôn khéo. Tuy nhiên, càng ngày sức khỏe của Tô Hiệu càng yếu dần, thân hình anh gầy rọm, da xanh tái và thường ho ra từng búng máu tươi. Khi anh ói ra nhiều máu và ngất đi, anh em chạy báo cho cai ngục Le Bon cho cấp cứu, hắn chỉ trả lời lạnh lùng:

– A! Cứ mặc cho nó mục rữa ra!

Những giờ phút cuối cùng

Kéo dài cuộc sống như thế này cũng không được, lại làm khổ cho đồng chí của mình, anh đã nghĩ đến cái chết. Bạn tù với anh, sau này là nhà văn Hoàng Công Khanh có kể lại giây phút cuối cùng của anh thật cảm động: “Một buổi chiều tháng 2/1944, biết mình không còn sống được bao lâu nữa, anh Tô Hiệu đã ngỏ ý với hai anh Trần Khắc Thọ và Nguyễn Ngọc Dĩnh (những người ở luôn bên anh): – Về tổ chức nội bộ và công việc cần phải làm sau này, mình đã nói hết với chi bộ rồi. Mình cũng đã nghĩ kỹ. Chắc chắn mình không thể sống được. Mình có gan tự tử, nhưng mình không muốn làm điều đó. Nó để lại nỗi buồn và sự day dứt cho anh em, bởi những người không hiểu sẽ có những lời bàn tán không hay. Mặt khác địch cũng có thể đặt nghi vấn, phiền phức. Nhưng cứ sống lay lắt mãi, làm cho anh em phải vất vả kéo dài một cách vô ích thì mình không muốn. Vậy mình đề nghị các cậu… Anh ngừng lại để thở rồi nói tiếp: – Các cậu nói với chi bộ tiêm cho mình một thứ thuốc gì đó để mình ra đi cho êm đềm chóng vánh. Như thế mình đỡ vật vã đau đớn, mà anh em cũng đỡ phải khổ sở mãi vì mình. Chi bộ kiên quyết gạt đi. Anh Nguyễn Trọng Cảnh nói: – Không thể được! Không cứu được đồng chí mình thì thôi, chứ không thể giết đồng chí mình được! Anh Hiệu đã gặp riêng anh Cảnh, tỏ ý nhất quyết không muốn kéo dài sự sống. Chi bộ lại họp, lại gạt đi, nhưng anh Hiệu vẫn giữ vững ý kiến của mình. Dằng dai hai tháng trời như vậy. Đến ngày 16/7/1944, anh Hiệu chỉ còn thoi thóp, nhưng vẫn ra hiệu cho anh Đỉnh ghé sát tai để nhắc lại một cách khó nhọc nguyện vọng thiết tha cuối cùng. Chi bộ họp cấp tốc, vừa khóc vừa quyết định. Chỉ trong sớm tối hôm nay, anh Hiệu sẽ mất. Vậy để thỏa mãn ý nguyện của anh, có thể tiêm cho anh một liều thuốc ngủ, để anh ra đi được nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng khi anh Đỉnh lấy thuốc vào ống tiêm xong, thì anh Tô Hiệu đã vĩnh biệt mọi người cách đó mươi phút, trong tay anh Thọ. Anh Đĩnh đặt ống tiêm xuống bên cạnh rồi cả hai cùng ôm lấy anh Hiệu khóc rưng rức. Bia tưởng niệm Tô Hiệu tại di tích nhà tù Sơn La. Sáng hôm sau, bốn anh Nguyễn Ngọc Đĩnh, Trần Khắc Thọ, Sang Siu Pô và Hoàng Cương khiêng chiếc quan tài bọc giấy đỏ trên vai, trước mặt tất cả anh em đứng xếp hàng trong sân, ra khỏi cổng nhà tù về phía Gốc Ổi. Anh Tô Hiệu ra đi để lại một khoảng trống trong hàng ngũ và nỗi bùi ngùi thương xót mãi trong lòng những người tù chính trị Sơn La”.

Tưởng niệm

Chỉ sống vỏn vẹn 32 năm, nhưng Tô Hiệu đã sống trọn vẹn cho lý tưởng mà mình đã chọn. Nhân kỷ niệm 54 năm ngày mất của anh (1944-1998), Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Ban liên lạc nhà tù Sơn La, Tỉnh ủy Hưng Yên đã tổ chức lễ tưởng niệm trọng thể. Mọi người đã khẳng định công lao to lớn và nhân cách cộng sản mẫu mực của nhà cách mạng Tô Hiệu.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.  

Chấm điểm
Chia sẻ
Tô Hiệu

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)