Khái quát
“Trong khoa học không có con đường nào rộng rãi thênh thang cả. Chỉ có người nào không sợ gian khổ, dám mạnh bước trên con đường nhỏ hẹp đầy sỏi đá đó mới mong vươn tới những đỉnh cao chói lọi của khoa học mà thôi” (Các Mác). Câu danh ngôn này đã được ghi trân trọng trong quyển sổ tay của một sinh viên trường Đại học Y khoa Hà Nội. Hơn cả thế nữa, anh còn “khắc” nó trong trái tim của mình. Người đó là Tôn Thất Tùng, sinh ngày 10-5-1912 tại Thanh Hóa. Năm 1931, ông ra Hà Nội theo học trường Bưởi rồi trường Y. Lẽ ra năm 1937, ông phải trình luận án thi ra làm bác sĩ, nhưng rồi cứ phân vân mãi: “Ra bác sĩ để đi làm kiếm tiền trong khi đó chưa học hành ra gì cả!”. Qua năm sau, khi tổ chức thi nội trú cho các bệnh viện Hà Nội, ông là người duy nhất được nhận và tự chọn chỗ làm việc tại khoa Ngoại của trường Đại học Y khoa Hà Nội – tức Bệnh viện Việt Đức ngày nay. Cuộc đời khoa học của ông bắt đầu từ đấy.
Những năm đầu nghiên cứu khoa học
Công việc của người nội trú là chỉ có một mình, hằng ngày 7 giờ sáng đi thăm bệnh nhân, 10 giờ phụ mổ cho giáo sư. Mổ xong, nhiều lúc không kịp ăn cơm trưa ông nhanh chân xuống nhà xác để nghe phụ đạo về phẫu tích và mổ xẻ thực hành trên xác chết. Xong việc, phải trở lại bệnh viện, xem lại các ca mổ buổi sáng, tối đến trở về phòng nằm chờ các ngoại trú đến gọi về những ca cấp cứu. Cường độ làm việc thật dữ dội, nhưng ông không nản lòng, lúc nào cũng suy nghĩ: “Phải học đến nơi đến chốn những gì mà mình chưa biết”. Ông có nhiệm vụ phải mổ xác các bệnh nhân đã được khám hay phẫu thuật để kiểm tra sự chính xác của chẩn đoán hay điều trị. Công việc nặng nhọc này đã giúp ông phát hiện ra những điều mà trước đây thầy mình đã dạy chưa chính xác. Các thầy tưởng sỏi mật chỉ nằm trong túi mật, trong khi sỏi lại nằm nhiều trong gan. Sau này ông nhớ lại: “Quan trọng thay cách làm việc của tuổi trẻ, lúc vỏ não chưa bị sách vở hay các ông thầy già nhồi sọ bằng những lý luận không sát mà người ta cứ tưởng như là chân lý vĩnh viễn. Nếu không bám sát vào thực tế hàng ngày như vậy, thì lúc trưởng thành lên, làm sao không rơi vào con đường bảo thủ và giáo điều, cho là mình đã biết hết mọi việc, và tưởng rằng mọi vấn đề đã được giải quyết cả rồi”.
Phát hiện từ thực tiễn và nghiên cứu cấu trúc gan
Đang cần mẫn làm việc và không ngừng khám phá, tìm hiểu những điều mà mình chưa biết thì có một sự việc xảy ra làm thay đổi lớn lao cuộc đời khoa học của ông. Đó là một buổi chiều rét mướt, mây xám giăng ngang trời, một mình loay hoay trong viện mổ xác ông đã phát hiện ra một hiện tượng kỳ lạ: hàng chục con giun đã chui vào các đường mật ở trong gan. Ông đã dùng cái nạo xương – gọi là kuya-rét (curette) để phân tích rõ ràng cơ cấu trong gan, một việc chưa từng thấy trong các sách thời bấy giờ. Ông đem việc này trình bày lại với giáo sư Huad thì giáo sư rất ngạc nhiên, cho rằng giun ở trong gan là một sự lạ. Vấn đề này đặt ra trong khoa học: Nếu thấy lạ ở chỗ giun chui vào gan đó là nhận thức về một việc bất thường trong y học, nhưng không có tác dụng lớn về nghiên cứu. Nếu nói lạ vì đã phẫu thuật được các ống mật và mạch máu trong gan (nhờ các con giun ấy), đó là nhận thức mới về một phương pháp mới để nghiên cứu cấu trúc trong gan. Tôn Thất Tùng bắt đầu bắt tay nghiên cứu cấu trúc trong gan. Từ năm 1935 đến năm 1939 ông đã mổ hơn 200 gan người chết, phẫu tích tất cả các gan ấy và vẽ lại trên sơ đồ, rồi đối chiếu với nhau để tìm ra những nét chung. Nhờ sự lao động nghiêm túc này, ông đã đạt đến trình độ có kỹ thuật phẫu tích đặc biệt bằng nạo gan. Chỉ trong vòng 15 phút, ông có thể phơi trần tất cả các mạch máu trong gan. Nhờ cách làm việc như vậy mà sau này, ông có thể cắt bất cứ các bộ phận nào của gan, chỉ không đầy mười phút!
Hình thành phương pháp cắt gan có quy phạm
Năm 1939 ông đã hoàn thành công việc nghiên cứu về cấu trúc các tĩnh mạch trong gan. Thế nhưng, thầy dạy ông là giáo sư Huad lại đánh giá thấp công trình này, cho rằng nó chỉ có giá trị về nhân chủng học. Lý do đơn giản là lúc bấy giờ chưa ai biết gì về vấn đề này cả. Còn ông, ông tự khẳng định đây là công trình không thuộc về nhân chủng mà thuộc về giải phẫu loài người. Vậy ông phải hướng công trình về việc cắt gan để chứng minh cho quan điểm của mình.
Trước Tôn Thất Tùng trên thế giới chỉ mới biết cắt “không kế hoạch” nghĩa là cắt “vu vơ”, gặp mạch gì thì buộc lại. Làm như vậy thật nguy hiểm vì cắt xong, nếu không tìm được mạch đúng để cầm lại, bệnh nhân có thể chết vì máu chảy hay hoại tử gan. Chính Tôn Thất Tùng đưa ra một học thuyết táo bạo: tìm tất cả các mạch máu ở trong gan, buộc chúng lại rồi sau đó mới cắt gan. Đây chính là phương pháp mà sau này được gọi “cắt gan có quy phạm” mà ông là người thực hiện đầu tiên trên thế giới, là “người cha” như lòi của bác sĩ J.M.Krivine đã tôn vinh.
Nghiên cứu về bệnh giun chui ống mật
Lúc đó, bản báo cáo về trường hợp cắt gan có quy phạm đầu tiên do Tôn Thất Tùng và Meyer May thực hiện, được trình bày tại Viện Hàn Lâm phẫu thuật Paris nhưng tiếc thay, bị giáo sư Funck Brentano công kích dữ dội vì nó mới quá, vì chưa ai biết gì rõ rệt về cấu trúc mạch trong gan. Sau này, Tôn Thất Tùng nhớ lại, sự công kích ấy như “búa bổ vào đầu chúng tôi” và “nó có tác dụng như một gáo nước lã dội vào sự nồng nhiệt của tôi đối với phẫu thuật cắt gan”. Do đó, Tôn Thất Tùng quay lại “mối tình” với những con giun mà ông bỏ quên từ ba năm nay. Lần này, ông đã chứng minh lần đầu tiên rằng bệnh phù tụy mà chưa ai rõ nguyên nhân từ trước đến nay ở Việt Nam là do giun đũa đã chui vào ống mật! Ca mổ ngày 26/9/1941 của ông thực hiện cho bệnh nhân Cúc Châu đã khẳng định ông chuẩn đoán đúng và mổ đúng. Từ đó, hàng trăm bệnh nhân ở bệnh viện Phủ Doãn cũ đã được chuẩn đoán và mổ như vậy. Nguyên do vềø bệnh phù tụy đã được giải quyết ở Việt Nam.
Đến với cách mạng và kháng chiến
Công việc nghiên cứu khoa học của ông không chỉ đóng khung trong bốn bức tường của bệnh viện. Tiếng súng hào hiệp và chính nghĩa của Việt Minh đã thức tỉnh ông ý thức của một công dân. Một hôm, ông được gọi gấp đến xem bệnh cho một cán bộ cách mạng lão thành. Đó là ông cụ gầy, xanh xao nhưng đôi mắt rất sáng. Sau khi chữa bệnh ông cụ giữ ông lại để hỏi han chuyện gia đình. Ông nói:
Thưa cụ, cháu vừa có con trai đầu lòng ạ!
Ông cụ từ tốn nói:
Để tôi đặt tên cho nó. Tên chú có bộ mộc, nên đặt tên cho con chú là Bách.
Và cuộc gặp gỡ đầu tiên này, tâm hồn ông đã chuyển biến theo cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng của đôi mắt sáng ấy. Ông cụ chính là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Khi chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam ra đời, ông viết xong quyển sách tóm tắt kinh nghiệm nghiên cứu về giun với đầu để: “Viêm tụy cấp tính và phẫu thuật”. Ông bán chiếc xe đạp bằng đuya-ra với giá 400 đồng để lấy tiền in quyển sách này. Quyển sách khoa học được xuất bản đầu tiên tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quyển sách thuộc về ngành y. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tôn Thất Tùng đi theo kháng chiến. Những năm tháng này ông cùng bác sĩ Hồ Đắc Di xây dựng trường Đại học Y khoa kháng chiến.
Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công việc và những đóng góp của ông, có lần Bác gửi ông cái thiếp với dòng chữ: “Bác sĩ Tùng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Y tế báo cáo: Chú làm việc rất hăng hái. Tôi rất vui lòng. Chú cứ gắng sức. Kháng chiến nhất định thắng lợi. Tổ quốc sẽ nhớ công con hiền cháu thảo. Thím và các cháu mạnh khỏe chứ? Tôi luôn luôn bình an. Gửi chú và thím lời chào thân ái và quyết thắng”. Tấm thiếp với những lời động viên của Bác khiến Tôn Thất Tùng rất xúc động. Ông đã từng nói lên những suy nghĩ của mình: “Với sự quan tâm của Bác, không việc gì mà tôi không làm”.
Sau ngày Hà Nội được giải phóng, ông được cử làm giám đốc bệnh viện Phủ Doãn kiêm thứ trưởng Bộ Y tế (đến năm 1962). Bấy giờ, từ chiến khu về đến Hà Nội, ông mới biết là vào năm 1952, giáo su Lortat Jacob người Pháp đã thành công trong việc mổ gan có quy phạm. Nhưng khác với ông, phương pháp của vị bác sĩ này là trước khi cắt gan, tìm và buộc tất cả các cuống mạch máu ở ngoài gan còn ông thì tìm ngay ở trong gan. Nếu phương pháp của bác sĩ này ngốn hết từ 3 đến 4 tiếng đồng hồ thì phương pháp của ông chỉ cần trong vòng… 6 phút! Công bố phương pháp cắt gan có quy phạm và sự ghi nhận của thế giới
Bác sĩ Tôn Thất Tùng đã công bố phương pháp mới của ông trên báo Zentrablatifur Chirurgie (tạp chí mổ xẻ) ở Đức, rồi sau đó công bố ở báo The Lancet (báo Dao bầu) ở Anh. Lập tức công trình khoa học này đã gây chấn động trong giới y học thế giới. Các bác sĩ lỗi lạc nhất đã không tiếc lời ca ngợi ông và tôn vinh ông là “người cha” của cắt gan có quy phạm. Ông tiếp tục công bố công trình Phẫu thuật cắt gan, quyển sách này đã được in nhiều thứ tiếng và tên tuổi Tôn Thất Tùng bắt đầu được giới y học quốc tế để ý. Đến năm 1965 ông đã có được kinh nghiệm của 322 trường hợp cắt gan – lúc đó là con số kỷ lục của thế giới.
Năm 1970 ông đã bầu vào làm ủy viên danh dự của Viện hàn lâm Y khoa Liên Xô. Viện hàn lâm Paris đề cử và bầu ông làm ủy viên ngoại quốc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó, phương pháp cắt gan có quy phạm của ông được ghi nhận là phương pháp kinh điển. Ông phát biểu:
Từ phát minh đến khi người ta công nhận, đường đi nào cũng rất dài vì trong khoa học, một kinh nghiệm mới phải được mọi người thửnghiệm có kết quả đã mới có giá trị, và khi một phương pháp đã trở thành kinh điển, đó là một vinh dự rất lớn cho người đã phát minh. Tại sao tôi đã đạt một con số cắt gan cao như vậy? Sự việc xảy ra là do suy nghĩ của tôi. Tìm ra được một phương pháp mới, sau người ta, nếu không vượt xa kinh nghiệm của toàn thế giới, thì còn ai tin vào mình được?
Nghiên cứu về chất độc hóa học trong chiến tranh
Năm 1970, ông được Thủ tướng Phạm Văn Đồng giao nhiệm vụ: “Phát hiện các tác hại của chất diệt cỏ và nghiên cứu cách chữa các tác hại đó cho nhân dân”. Do tự biết những kiến thức của mình về hóa sinh còn thiếu nên ông đã cộng tác với giáo sư Bửu Hội – nhà hóa sinh nổi tiếng làm việc tại trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học của Pháp và các giáo sư nước ngoài khác – để có được nhiều khám phá mới mẻ. Ông đã công bố nghiên cứu về chất “diệt cỏ” (dioxin) tố cáo chiến tranh hóa học của đế quốc Mỹ ở Việt Nam.
Quan niệm về nghiên cứu khoa học
Về cuối đời, bác sĩ Tôn Thất Tùng đã tâm sự về cuộc đời cống hiến cho khoa học của mình trong hồi ký Đường vào khoa học của tôi. Những dòng chữ tâm huyết này là hành trang cần thiết cho những ai muốn dấn thân vào cống hiến cho khoa học:
Chuẩn bị tư tưởng: Trước hết, chúng ta phải biết bền bỉ trong việc nghiên cứu. Một công trình có giá trị đòi hỏi nhiều thời gian, giả sử như phương pháp cắt gan của tôi, bắt đầu từ 1934, bị thất bại vào năm 1939, được nghiên cứu lại từ 1960 và đến 1974, các đồng nghiệp quốc tế mới biểu dương tán thành. Đứng về khoa học mà nói, có thể thành công hoặc không, nhưng trong nghiên cứu, sự quan trọng là xây dựng cho bản thân người nghiên cứu một thái độ khoa học, một phương pháp khoa học.
Phải có ngoại ngữ: Trong vấn đề khoa học, thông tin là vào hàng đầu. Có nắm tin tức nhiều, mới biết phát minh tốt. Tin tức trong nước không đủ, vì nó chỉ giống như một hạt nước trong biển cả mênh mông về nghiên cứu khoa học của thế giới. Phải nắm kịp thời cơ vì tình huống khoa học thay đổi một cách rất nhanh chóng. Như tôi, tuy nghiên cứu về y, tôi cũng phải nắm hết các tin tức về sinh vật học, và cũng phải theo dõi các phát minh của các ngành khác như là di truyền, hóa học, vật lý, toán v.v… Trong thế giới ngày nay, một phát minh ở một ngành có tác dụng rất rộng rãi có khi rất sâu sắc đến ngành khác. Giả sử như nghiên cứu về ung thư mà không nắm các lý luận về màng tế bào thì không thể theo dõi được các tin tức. Theo tôi thì các trường đại học ngày nay phải dạy vào năm đầu tiên hai tiếng ngoại quốc trước khi vào học chương trình thật sự.
Phải biết quan sát: Các bạn phải tập từ thuở bé quan sát sâu sắc những hiện tượng xung quanh mình, những hiện tượng trong thiên nhiên. Quan sát qua trí tưởng tượng giúp cho chúng ta đặt ra vấn đề về mọi sự việc.
Phải có trí tưởng tượng: Không có trí tưởng tượng không thể có phát minh. Nhà bác học Anh-xtanh (Einstein) đã viết: “Tưởng tượng quan trọng hơn là hiểu biết”. Đây là nhược điểm hiện nay của hầu hết học sinh chúng ta, vì cách dạy của các trường phổ thông. Đào tạo những người khoa học phải bắt đầu từ lúc trẻ để có những người giàu trí tưởng tượng. Có trí tưởng tượng mới biết đặt vấn đề cho mọi sự việc dưới khía cạnh nào đây. Có đặt vấn đề mới có giả thuyết để xây dựng một lý luận; không có vấn đề thì không có giả thuyết, không có giả thuyết thì không có phát minh khoa học.
Phải có văn hóa rộng rãi: Có thể nói là tất cả các nhà bác học được giải thưởng Nobel đều có kiến thức văn hóa rộng rãi chứ không phải chỉ là những chuyên môn thuần túy.
Ở đây vai trò triết học đối với sự nghiệp nghiên cứu khoa học rất là quan trọng. Chúng ta có một khí cụ sắc bén là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nhưng muốn áp dụng tốt những nguyên lý duy vật biện chứng, cần phải có một phân tích sâu sắc về sự việc. Chỉ có phân tích sâu sắc mới làm nổi bật vai trò của duy vật biện chứng, mà muốn phân tích tốt, phải biết quan sát, phải biết tự giải phóng tư duy của mình khỏi sách vỡ và giáo điều. Triết học và trí tưởng tượng là cơ sở cho đầu óc phát minh. Ngoài ra, một số lớn học sinh còn chưa được học ở đại học môn lô-gic. Sau triết học, cũng cần phải nắm cơ bản của toán cao cấp và thống kê.
Phải nắm vững chắc phương pháp nghiên cứu khoa học: Đây là một việc rất giản dị nhưng khó thực hiện, bởi vì con người thích quả quyết với lời nói hơn là với việc làm để chứng minh. Phương pháp khoa học là một quá trình, có khi rất lâu dài và gian khổ, để kiểm tra. Kiểm tra của nó dựa trên lô-gic và thực nghiệm (expérience). Cách làm phải hoàn toàn cởi mở, không được bí mật, và những kết quả phải được tất cả mọi người kiểm tra, bằng cách theo những đường lối mà người phát minh đã dùng.
Như vậy, một công trình khoa học đòi hỏi là tất cả cách tính toán, giả thuyết, quan sát kinh nghiệm, kết quả đều phải được kiểm tra đi, kiểm tra lại, phê bình, thảo luận và ngay cả phủ nhận nữa. Không phải phương pháp khoa học tránh cho ta khỏi sai lầm, nhưng vì phương pháp này đã có ngay trong cách làm việc của nó một tính chất tự sửa sai, cho nên, về lâu về dài, những sai lầm có thể tự sửa chữa được.
Đây là một phương pháp hoàn toàn khách quan, cá nhân của người khoa học tuy có khi có ảnh hưởng, nhưng bản thân khoa học không phụ thuộc vào tên tuổi của một người nào. Sự thực trong khoa học được đặt tên những cơ sở lô-gic và thực nghiệm mà mỗi ngành đều có riêng cho mình.
Khoa học hoàn toàn dựa trên những con số, và đánh giá các kết quả phải dựa trên những con số chứ không trên một nhận định chỉ về phẩm chất thôi. Con số là tiếng nói chung của khoa học và không có con số, một công trình khoa học sẽ mất phần sáng sủa của nó, nhờ đấy, khoa học có một tính chất toàn diện mà không ai phủ nhận cả.
Cuối cùng, cũng nên ghi nhận rằng nghiên cứu khoa học không phải là đóng cửa để đọc sách, mà tìm những sự việc thích đáng đặt giả thuyết để kiểm tra qua thực nghiệm và biến thành định luật giúp cho con người làm chủ thiên nhiên; đây là một công việc lao động vừa chân tay, vừa trí óc, trí óc chỉ đường cho chân tay, chân tay lại hướng dẫn lại trí óc, và cứ thế mãi, để đi đến mục tiêu đã định
Cuối đời
Giáo sư, nhà bác học Tôn Thất Tùng đã từ trần vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 7/5/1982 – đúng vào ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Đúng vào ngày mà cách đó 28 năm ông đã ghi trong nhật ký:
Bước vào phân khu của đội điều trị I, tôi hỏi một anh đang ở gần đấy:
Anh biết gì chưa?
Tin gì?
Đờ Cát-tơ-ri đầu hàng rồi.
Anh bổ ngửa người ra, hét lên: “Thật không anh? Hoan hô! Hoan hô!”. Các chị dân công chạy ra, hét vang “Hoan hô! Hoan hô!.
Âm thanh kỳ diệu và vang dội ấy tưởng chừng như chúng ta còn nghe ấm lòng mỗi lần tưởng nhớ đến bác sĩ Tôn Thất Tùng. Tên tuổi của ông sẽ mãi mãi còn sống trong lịch sử nước nhà.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ.