- TRẦN QUÝ CÁP
Một sự kiện long trời lở đất đã nổ ra ở Trung Kỳ năm 1908: cuộc chống sưu cao thuế nặng – mà quan lại trong triều gọi là “giặc đồng bào”, còn thực dân Pháp thì gọi “giặc cắt tóc” (Guerre des tondeus). Xin hãy nghe chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng – nhân chứng trong cuộc kể lại: “Vào khoảng thượng tuần tháng 2/1908 ở huyện Đại Lộc (Quảng Nam) có mấy bác hào lý cùng vài cậu học trò: Lương Châu, Trương Hoành, Hứa Tạo cùng ngồi ăn và chuyện trò trong một đám kî ở nhà nọ, đem chuyện “sưu cao thuế nặng” ra nói, rồi bàn nhau làm đơn lấy chữ ký các xã trong huyện, tới trình viên huyện chuyển đạt lên tỉnh cùng tòa sứ, xin giảm nhẹ sưu cùng món thuế kẻo nặng quá, dân không đóng nổi.
Ai nấy đều tán thành, làm đơn và đi lấy chữ ký mấy làng gần đấy, mới độ trên ba mươi lăm bác lý tổng ký, định đi lấy thêm nữa để “quan trên” thấy rõ nỗi khổ chung của dân mà giảm đi chăng, trong đám ký tên có tên lý trưởng làng La Đái lén đi lên báo viên quan huyện, thuật chuyện hào lý và sĩ dân đương làm…
Đến huyện, quan huyện đã biết trước, sai người ra truyền rằng: “Quan đã xuống tỉnh bẩm việc tụ tập đông người của các anh rồi”. Thế là mọi người ngơ ngác nhìn nhau, kẻ nói ra về, người bàn đứng đợi. Trong lúc bàn tán phân vân, có vài cậu học trò đứng ra xướng nghị:
– Quan đã đem việc bẩm tỉnh rồi, dầu có kéo nhau về cũng khó tránh khỏi tội tụ tập đông người liên danh ký đơn, chắc sẽ bị tra tấn lôi thôi, mang lấy cực lụy vào thân. Chi bằng ta cứ vác đơn xuống tỉnh kêu xin, dầu không có kết quả tốt cũng còn có danh nghĩa tỏ cùng quan trên thấu rõ thực tình xin giảm thuế, chứ không có làm điều gì trái phép.
Thế là họ kéo xuống tỉnh với khẩu hiệu: Xin sưu!
Từ Đại Lộc xuống tỉnh, đường dài hơn mười cây số, hai bên đường cùng làng xóm dân cư, nghe tiếng “xin sưu” và thấy kẻ đồn người nói, rủ nhau vào đoàn cùng đi, càng đi càng thêm người. Đến chợ Vĩnh Điện đã có đến năm, sáu trăm người.
Vào tỉnh, quan tỉnh đã biết trước, cho lính truyền ra hỏi: dân chúng từ đâu tới và muốn làm gì?
Họ đồng thanh đáp:
– Dân Đại Lộc theo quan huyện xin sưu.
– Quan huyện các anh đã báo rằng dân Đại Lộc tụ tập khởi ngụy, nay không có đây, đã xuống Tòa công sứ báo rồi!
Ai nấy hoảng kêu lên: “Khởi ngụy! Báo cho Tòa sứ! Đúng là chuyện tày đình”. Muốn vào bẩm rõ mục đích cho quan tỉnh biết nhưng không được, thế là họ kéo thẳng xuống Tòa sứ luôn(1). Từ tỉnh đến Tòa sứ đường dài mười cây số, người ta nghe thấy đi xin sưu đông vui, lại gia nhập thêm mãi, đến gần ngàn người.
Thấy dân đông quá, viên công sứ cho lính ra ngăn lại, chỉ cho mười người vào trong đó có Lương Châu, Hứa Tạo, Trương Hoành (học trò làng Phiếm Aùi và Hà Tân) đứng ra bày tỏ ý nguyện của dân xin giảm nhẹ sưu thuế. Viên công sứ bảo xin gì thì cứ làm đơn gửi cho y, chứ tụ tập như vậy là làm loạn. Hơn nữa về việc giảm thuế thì y không có quyền, dân cứ giải tán. Sau này, y sẽ ra Phủ Toàn quyền và triều đình Huế để xin có giảm thuế hay không thì sẽ trả lời sau…
Nghe vậy, dân chúng không chịu về, một mực nài xin vụ thuế đã gần kỳ, dân không đảm đương nổi thuế nặng quá! Y hạ lệnh:
– Dân không giải tán thì sẽ bắt giam những vị đại biểu!
Họ trả lời:
– Mấy người ấy xin phần của họ, chứ ai cũng có nỗi khổ nấy, không ai xin thay cho ai được.
Thế là Lương Châu, Hứa Tạo, Trương Hoành bị bỏ tù. Vì ba người này ứng đối thông hoạt có vẻ cương quyết. Viên công sứ lại truyền lệnh:
– Nếu dân không giải tán mà cứ tụ hợp ở đây thì ba người này sẽ bị đày đi Lao Bảo!
Dân vẫn không chịu, trái lại mỗi lúc lại kéo đến đông thêm. Thế là thành ra to chuyện” (1).
Từ Hội An – ngòi nổ của cuộc biểu tình vĩ đại nhất trong năm 1908 đã nổ ra. Và nó lan dây chuyền đến các phủ khác trong toàn tỉnh, rồi các tỉnh khác như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, sau đó tiếp tục vượt đèo Hải Vân lan rộng đến Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa. Đây cũng là năm mà anh hùng Hoàng Hoa Thám – lãnh tụ phong trào kháng chiếnYên Thế – đã chủ trương vụ “Hà Thành đầu độc”. Hoảng sợ trước cao trào cách mạng của quần chúng, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp. Trong lúc đó, chỉ sau mười ngày cuộc kháng thuế bùng nổ ở Quảng Nam, tại tỉnh Khánh Hòa có người nhận được thư nhà báo tin này đã sung sướng lấy bút phê vào sau thư bảy chữ: “Ngô dân thử cử khoái, khoái, khoái” (Dân ta làm thế sướng, sướng, sướng). Chỉ bảy chữ sảng khoái lạ lùng như reo như hát mà ông bị kết án, phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình.
Người đề bảy chữ đó chính là Trần Quý Cáp – chiến sĩ tiên phong của phong trào Duy Tân tại Quảng Nam. Ông sinh năm 1870 tại thôn Thai La, làng Bất Nhị, huyện Điện Bàn (nay là xã Điện Phước, huyện Điện Bàn – tỉnh Quảng Nam), có hiệu là Thai Xuyên, tự là Dã Hàng, Thích Phu. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, cha mất sớm, nhưng ông nổi tiếng là người học giỏi nhất trường tỉnh. Thế nhưng trong khoa cử, ông lại lận đận, mãi đến năm 33 tuổi, ông vẫn còn chân Tú tài trong khi đó, các đồng môn đã là Tiến sĩ, Phó bảng. Dù vậy, tiếng tăm của ông cũng vang lừng từ Nam chí Bắc. Khoảng năm 1895, lúc chưa đậu Thủ khoa, chí sĩ Phan Bội Châu đã đến Huế gặp Nguyễn Thượng Hiền, rồi tiếp tục vào Quảng Nam để tìm người cùng hội cùng thuyền bàn chuyện cứu nước. Khi lên đến đèo Hải Vân, Phan Bội Châu gặp một người từ Quảng Nam đi ra. Người có gương mặt phương phi, phong cách chững chạc. Biết không phải là tay tầm thường, Phan Bội Châu mời vào quán nước ven đường nghỉ chân. Hai bên trò chuyện vu vơ như dò xét nhau, sau thấy tâm đầu ý hợp nên mới lân la bàn sang chuyện quốc sự. Phan Bội Châu mạnh dạn ướm lời hỏi:
– Theo tôn huynh thì trong đám sĩ phu ngày nay, ai là người được ngưỡng vọng nhất.
Người đó trả lời ngay:
– Theo ngu ý, trong làng đại khoa thì một chín một mười, không có ai trội hẳn. Nhưng trong làng nho chỉ có ông Phan Bội Châu mới đáng là bậc cao sĩ.
Nghe nói vậy, Phan Bội Châu giật mình, lạnh toát cả xương sống, nhưng vẫn giữ nét mặt trầm tĩnh. Giây lát sau, Phan Bội Châu đứùng dậy, nhìn xuống biển rộng mênh mông và cất tiếng đọc thơ sang sảng:
– Từ biệt xuân thành sáu hạ mau,
Lại mài con mắt ngắm xưa sau.
Thân bằng: biển thẳm trời cao mộng,
Phong thủy: mây mù khói tỏa sâu.
Có rượu, có hoa, người chửa rảnh,
Không mưa, không gió, khách thường râu.
Nhà ai từng đọc Tam đô phú,
Chiếm được hoa mai cũng bạc đầu.
(Lãng Nhân dịch)
Hơi thơ hào sảng như thế ắt phải là người hiệt kiệt – nhất là có nhắc đến bài phú Tam đô mà Tả Tư ở đất Lâm Tế đời Tấn phải mất mười năm mới làm xong, thi đậu nhưng hỡi ôi, bấy giờ thì đầu cũng đã bạc. Ý muốn phê phán lối học miệt mài văn chương đến khi chiếm bảng vàng thì cũng sức tàn lực kiệt, không giúp ích được gì cho xã hội. Phan Bội Châu vừa dứt lời, người bạn mới quen vội chạy tới ôm và nói như reo:
– Thôi, Phan tiên sinh là đây rồi.
Phan Bội Châu gật đầu và hỏi lại:
– Vậy quý danh của tôn huynh?
– Trần Quý Cáp!
Phan Bội Châu cười lớn:
– A! Đúng người hào kiệt mà tôi đang tìm gặp đây!
Thế là Trần Quý Cáp bỏ chuyến đi ra Huế, đưa Phan Bội Châu về nhà mình, dẫn đi bắt liên lạc với người đồng tâm, đồng chí. Trước lúc Phan Bội Châu về Bắc thì Trần Quý Cáp có tặng câu đối:
Bác tới miền Nam, Vân Lĩnh, Hành Sơn cao vút;
Tôi nghe đất Bắc, Hồng Sơn, Lam Thủy hùng thay.
(Lãng Nhân dịch)
Thật ra, Trần Quý Cáp lận đận trong khoa cử chỉ vì ông không muốn đi thi. Sớm được đọc Tân thư, nên ông chán ngán con đường tiến thân bằng lối văn chương bát cổ. Trong lúc chờ thời, ông kiếm sống bằng nghề dạy học. Theo tài liệu của nhà văn Nguyễn Văn Xuân thì “Lúc bấy giờ có ông Nguyễn Mại, đương chức Bố chánh tỉnh Quảng Nam, mời tiên sinh về dạy cho con được hai tháng. Thường ngày tiên sinh thấy trống đánh ba hồi xong, quan ra ngồi chễm chệ giữa công đường. Xã dân đến hầu thì mỗi người bưng một mâm lễ vật đặt ở dưới đất ngoài sân cho quan ngó thấy rồi sắp hàng lạy. Đối với dân thì quan hầm hét: nào giăng nọc ra đánh, nào hăm dọa chặt đầu, gông cổ v.v… Đã thế, nhưng điều đáng buồn cười là khi nghe có Tây nào đến thì ôi thôi! Áo không kịp gài, giày không kịp mang, chỉ biết đứng nghe. Tên thông ngôn nói chi dạ nấy. Thấy thế, tiên sinh phát tức nổi nóng, mắng chửi tàn tệ, làm cho ông bố phải ra lệnh nghỉ dạy rồi đem lòng căm tức tiên sinh từ ấy” (1).
Trong thời gian dạy học ở tỉnh nhà, Trần Quý Cáp đã đào tạo nhiều người thành đạt như Phan Bá Cảnh, Trần Thúc Tịnh, Lê Huân, Trần Tử Kính… Thậm chí những người ở tỉnh xa, nghe tiếng ông tìm đến thụ giáo như Huỳnh Thường Trung, Trương Trọng Cầu… cũng đều thành tài cả. Thế nhưng năm 1904, đã 34 tuổi nhưng vì vâng lời mẹ nên ông đành phải lai kinh ứng thí. Trong khoa thi nầy, ông đậu Nhất giáp Tiến sĩ, trên cả Hội nguyên Huỳnh Thúc Kháng và Đình nguyên Đặng Văn Thụy. Vì vậy nên Đình nguyên Đặng Nguyên Phổ mới có câu đối mừng tân khoa (Nguyễn Q. Thắng dịch):
– Đỗ Tiến sĩ dễ ợt, đỗ cử nhân khó khăn, đè đè đỡ đỡ, muôn việc do quyền tạo hóa;
Đè Hội nguyên ở Đình, đè Đình nguyên ở Hội, vinh vinh quý quý, cần gì phải chiếm khôi khoa.
Tuy đậu cao như vậy nhưng Trần Quý Cáp vẫn cương quyết không ra làm quan. Dù nhà nghèo, ông cũng chỉ lấy nghề dạy học làm vui.
Đã thế, ông còn là người giao thiệp rộng, bạn bè đến nhà thì tiếp đãi chân thành, dù chỉ là cơm rau muối, còn món ngon vật lạ thì dâng lên nuôi mẹ. Ai cũng khen là người con chí hiếu. Bạn bè của ông là những tay hào kiệt anh tài như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Liệu, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đình Hiến… Những tác phẩm có sức thuyết phục mãnh liệt khiến ông dốc lòng đeo đuổi Tân học, chính là Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch, Dân ước của J.J. Rousseau, Pháp ý của Montesquieu… dĩ nhiên là ông đọc qua bản dịch Hán Văn. Có người con thầy giáo họ Lê ngạc nhiên hỏi: “- Anh không phải là do cử nghiệp mà ra hay sao, sao nay lại quay sang công kích những người học lối cử nghiệp”. Ông trả lời: “-Tôi cũng lấy làm lạ. Đầu óc tôi không hiểu từ bao giờ Tân học đã chiếm lĩnh, không còn chỗ cho nhà bát cổ sinh hoạt nữa! Biết làm sao bây giờ?”. Có thể nói, Tân thư có sức hấp dẫn rất lớn đối với sĩ phu nước nhà. Đang được bổ làm Thừa biện bộ Lễ, Phan Châu Trinh từ quan, còn Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp cương quyết không ra làm quan. Họ căm ghét thậm tệ chốn quan trường, cho đó chẳng qua chỉ là nơi “túi áo giá cơm loàng xoàng vậy”. Năm 1905 cả ba ông rủ nhau làm một chuyến Nam du, tự nguyện làm những nhà “truyền giáo” để tuyên truyền tư tưởng Duy Tân và thu nạp các bạn đồng chí hướng bàn chuyện cứu nước.
Khi đi qua tỉnh Bình Định, nhân gặp kỳ thi hạch hằng năm để tuyển sinh, cả ba ông mạo danh lẻn vào trường thi. Huỳnh Thúc Kháng và Trần Cao Vân làm bài Lương Ngọc danh sơn, Phan Châu Trinh làm bài Chí thành thông thánh. Cả hai đều ký tên Đào Mộng Giác, ký tên này vì họ Đào là một họ lớn tại Bình Định và ông Đào Tấn quê ở Bình Định đang là quan lớn tại triều đình Huế. Vậy là không ai phát hiện được. Hai bài thi ấy không khác gì tiếng sấm sét nổ ra giữa trời quang đãng! Bọn quan trường sửng sốt như chạm phải lửa, chúng tức tốc báo ra triều đình Huế và truyền lệnh truy nã anh chàng thư sinh có tên Đào Mộng Giác! Nhưng lúc đó, cả ba ông đã lên đường tiếp tục cuộc hành trình đã vạch ra. Không thể giấu kín được, hai bài này lan rộng trong đám sĩ tử, người này đọc, người kia chép, một truyền mười, muời truyền trăm! Thiên hạ điếng hồn khi đọc những câu thơ trong Chí thành thông thánh: “Muôn dân đang là nô lệ trong ách cường quyền. Vậy mà các anh vẫn ngủ say trong giấc mộng của văn chương bát cổ!”. Còn bài Lương Ngọc danh sơn kêu gọi sĩ phu phải bỏ lối học “tầm chương trích cú” và khơi dậy ở họ lòng tự hào của dân tộc (Trần Quý Cáp dịch ra thể thơ song thất lục bát):
Sực thấy chữ tương lai mà sợ
Còn mơ màng giấc ngủ như không
Ai ơi đứng dậy mà trông
Nước ta một góc Á Đông kém gì.
Trên Hồng Lạc dưới thì Trần,
Lý Kể nhơn tâm sĩ khí ai bì.
Sau đó, kêu gọi họ bằng những lời đanh thép như viết từ huyết lệ:
Cơ sự thế dại rồi đã vậy
Tai họa này khôn chạy cho mau
Nào ai nghĩ thảm lo sầu
Thì theo lối nghĩa chớ cầu đường danh
Lại thốt những thơ sanh quan lại
Rủ nhau ra theo mái nhung hiên
Hơi còn mạnh sức còn bền
May ra đập phủ chìm thuyền có khi
Sống vô ích, sướng gì cái sống
Chết nên công, chết cũng nên đời
Cớ sao ngày tháng dông dài
Cầm như cái chuyện ở ngoài không nghe
Lại vẫn giữ cái nghề hủ kiệt
Đành say mê sống chết với thân
Khác nào như kẻ phụ nhân
Đã cam sỉ nhục muôn phần thế thôi
Lại chẳng khác chi đời lính lệ
Đằng bôn xu như thể tôi đòi
Than ôi cũng một giống người!
Và câu kết thúc như rút ra từ gan ruột:
Một lời như khóc, như than
Thôi còn Lương Ngọc danh sơn làm gì!
Cũng trong chuyến đi này, khi đi qua Nha Trang, nghe đồn ở vịnh Cam Ranh có tàu chiến của Nga hoàng đang náu ở đó, cả ba ông liền tìm đến. Mấy ông trố mắt bảo nhau:
– Vậy Á Châu mình có thua kém gì Âu Châu! Nhật Bản có mấy trăm hòn đảo chênh vênh ngoài biển mà còn dám đánh nhau với Nga – một đế quốc hùng cường ở Âu Châu – thì tại sao Việt Nam ta không dám ngóc đầu lên đánh đuổi bọn Pháp lang – sa?
Chiến hạm này do đô đốc Rodjestvensky chỉ huy, náu ở vịnh Cam Ranh từ ngày 13/4 đến ngày 14/5/1905. Cả ba ông liền cải trang làm cu li bán hàng, mỗi người bưng một thúng cá, tôm, cua, sò… xuống tàu chiến để bán. Thật ra, họ quan sát thử xem nền văn minh khoa học và lực lượng của Âu Tây như thế nào. Do không cùng ngôn ngữ, cả ba ông không hỏi han được gì thêm. Chỉ biết rằng nước ta và văn minh Âu Tây còn cách xa nhau như trời vực.
Trong chuyến đi này, tại Bình Thuận, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh lập “Thơ xã” tại đình Phú Tài để giảng dạy, phổ biến tư tưởng mới của Tân thư và chủ xướng “Thanh niên thể dục” lấy tên là “Dục Thanh” tại nhà chí sĩ Nguyễn Thông – mà người đứng lập là ông Trương Trọng Lợi để dạy học theo tinh thần mới. Sau đó, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp quay về lại Quảng Nam, còn Phan Châu Trinh bị bệnh phải nằm điều trị ở Phan Thiết. Trở về quê nhà, Phan Bội Châu có khuyên Trần Quý Cáp nên sang Nhật Bản, nhưng vì còn phải phụng dưỡng mẹ già nên ông từ chối: “Người ta chỉ sợ không có chí độc lập, nếu có thì hà tất phải đi Đông, đi Tây!”. Qua năm sau, năm 1906, có lệnh bổ Trần Quý Cáp làm giáo thọ huyện Thăng Bình. Ban đầu ông không chịu đi, nhưng vì gia đình nghèo, phải nuôi mẹ già nên đành chấp nhận. Từ đó, với cương vị của mình, Trần Quý Cáp vẫn tiếp tục hoạt động không mệt mỏi để mở mang dân trí. Ông đã mở hàng loạt trường dạy học ở các xã, huyện tại Quảng Nam như Điện Phong, Phước Bình, Phú Lâm, Phước Quảng… rồi khởi xướng “Thương hội” ở Hội An. Ngoài ra, ông còn phát động phong trào khai khẩn đất hoang, tạo nên những cánh đồng màu mỡ ở Cẩm Nê (Duy Xuyên), Mỹ Sơn (Duy Xuyên), Bửu Sơn (Đại Lộc)… góp phần quan trọng cho sự nghiệp Duy Tân sau này. Dấu ấn của tư tưởng canh tân nằm rất rõ trong những bài thơ ông đã viết để tuyên truyền quần chúng. Với bài Chiêu hồn nước hay còn gọi là bài Khuyến học, nay đọc lại ta thấy những chủ trương của ông không khác quan điểm của trường Đông Kinh Nghĩa Thục sau này mở tại Hà Nội:
Đấng làm trai đứng trong trời đất
Phải làm sao mở mặt non sông
Kìa kìa, những bậc anh hùng
Cũng vì buổi nhỏ học không sai đường
Cuộc hoàn hải liệt cường tranh cạnh
Mở trí khôn giàu mạnh dường bao
Nước ta học vấn thế nào
Chẳng lo bỏ dại, lẽ nào đặng khôn?
Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước
Phải đem ra tỉnh trước dân ta
Sách Âu Mỹ, sách Chi-na
Chữ kia chữ nọ dịch ra tinh tường
Nông, công ta trăm đường cũng thế
Hiệp bằng nhau thì dễ toan lo
Á Âu chung lại một lò Đúc nên tư cách mới cho ra người
Một người học muôn người đều biết
Trí đã khôn, trăm việc phải hay
Quyền lợi đã nắm trong tay
Có ngày tấn hóa, có ngày văn minh
Chuông độc lập vang đình diễn thuyết
Trống hoan nghênh dội bể đại dương
Nghểnh xem khoa cử mấy chàng
Kìa vì khôn dại rõ ràng chẳng sai
Không chỉ đổi mới phương thức học tập mà phong trào Duy Tân còn chủ trương phải tự lực tự cường. Dân có giàu thì nước mới mạnh. Nước có mạnh thì mới đủ sức đánh ngoại xâm. Nếu trong thương trường, ông cổ vũ người dân trong một nước phải biết đoàn kết lại, cùng bỏ vốn ra hùn hạp để làm ăn:
Hiệp bãi cát gây nên non Thái
Hiệp ngàn dòng nên cái biển Đông
(Bài ca khuyên hiệp thương)
thì trong sản xuất, ông viết bài ca trù Khuyến nông với quan điểm mới – khác hẳn tư tưởng của những hủ nho “nhất sĩ nhì nông” và khẳng định sự tự hào “Mặc dầu ta nông phố vẫn phong lưu”. Sau này, khi chí sĩ Phan Bội Châu được lãnh tụ Hoàng Hoa Thám nhường đất ở đồn Phồn Xương để khai khẩn, canh tác hoa màu – nghĩa binh Yên Thế gọi là đồn Tú Nghệ – thì cũng chính là thực hiện chủ trương Duy Tân giống như Trần Cao Vân đã viết. Với những câu thơ tràn đầy nhiệt huyết, với tài hùng biện hiếm có, Trần Cao Vân ròng rã đi tuyên truyền trong quần chúng.
Trong tác phẩm Việt Nam nghĩa liệt sử do Phan Bội Châu và các chiến sĩ của phong trào Đông Du viết và xuất bản ở Hải ngoại năm 1917, có kể lại những hoạt động sôi nổi của Trần Cao Vân năm tháng nầy: “Ông đi khắp thôn quê thị thành, mưa nắng không nài để nói chuyện với dân chúng. Lúc thì kể chuyện Đông sang Tây, từ nhỏ đến lớn, vạch rõ các tập tục hủ lậu của nước ta, ngu hèn yếu đuối của dân ta và tỏ lòng đau xót. Ông nói như hát như khóc, như cười như mắng. Xét về kết luận thì công kích cựu học, khuyến khích dân tộc, khai thông dân trí đề xướng dân quyền, chỉ mấy việc ấy thôi, lúc đầu ông diễn giải, nhân dân người ta ít vui lòng nghe, có lúc họ cho ông Bất Nhị đã phát điên, (Bất Nhị là tên làng và cũng là tên tự của ông). Nhưng ông là một ngôi sao trong học giới có danh vọng lúc bấy giờ, một người quân tử, nên càng được quần chúng tín ngưỡng. Ông đã trở thành người chuyên đi tuyên truyền, giải thích không mệt mõi đểmở mang dân trí nên càng ngày nhân dân ta càng hoan nghênh ông. Vì thế các cuộc nói chuyện càng lâu càng đông người nghe. Ông lại càng nỗ lực làm việc. Có lúc đang giữa trưa, đi chân không lún dưới bùn, đứng dưới trời nắng chang chang mà vẫn nói chuyện, thao thao bất tuyệt, mồ hôi đầm đìa mà vẫn không dùng quạt. Nhờ ông diễn giải nhiều nên các danh từ “dân quyền”, “công lý” rộng khắp dân gian, người Pháp rất là căm ghét. Chúng cho mật thám lẫn lộn trong quần chúng để nghe ông nói những gì rồi tìm cớ buộc tội. Nhưng ông không nói gì phạm đến chính phủ cả, cho nên Pháp không thể buộc tội vào đâu được. Có tên mật thám rất tức tối nói với người Pháp: “-Không giết người này, vài năm nữa, nhân dân Nam Ngãi không thể trị được nữa!”. Người Pháp vẫn sẵn muốn giết ông, nhưng không có cớ gì. Bây giờ, nghe lời tên mật thám kia thì rất mừng mà nói rằng: “Nay hãy đổi hắn đi nơi xa để hắn không làm gì được, rồi hãy tìm cớ mà giết đi. Tôi cho anh cùng đi với hắn, khéo dò xét hắn, thì tính mạng hắn chỉ nay mai là xong đời” (Bản dịch Tôn Quang Phiệt – NXB Văn Học,1972).
Để thực hiện âm mưu thô bỉ và thù đoạn hèn hạ như thế, năm 1907, chúng tìm cách đổi Trần Quý Cáp vào Khánh Hòa. Tuy nhiên, dù ở xa nhưng ông vẫn bí mật liên lạc với các đồng chí trong phong trào Duy Tân. Và khi nổ ra cuộc biểu tình chống sưu thuế năm 1908, thì sự việc đã diễn ra như ta đã biết. Tuần vũ Khánh Hòa là Phạm Ngọc Quát đã ra lệnh bắt ông và làm án Trần Cao Vân như sau: “Trên tường, y có treo một bức bản đồ thế giới, ngụ ý muốn làm gì? Trong tráp giấu một bản Hải ngoại huyết thư (của Phan Bội Châu) thì sự việc đã rõ. Tuy việc mưu phản của y chưa thành, nhưng lòng phản thì đã sẵn. Đề nghị xử chém để những bọn mưu phản thấy đó mà làm gương”. Bộ Hình của quan lại Nam triều – thật ra mọi quyền hành đều nằm trong tay giặc Pháp – đã chuẩn theo y án.
Ngày 17/5/1908, tại bãi sông Cạn, huyện Diên Khánh (Khánh Hòa), Trần Cao Vân bị chém ngang lưng. Trước lúc chém ông, tay cai ngục vốn kính phục nhân cách của ông bèn nói:
– Tôi vì lệnh cấp trên giao mà thi hành nhiệm vụ, thấy ông hoạn nạn lâm nguy như thế nầy lòng tôi đau như cắt. Nếu ông cần gì xin cứ nói, tôi gắng hết sức.
Trần Quý Cáp trả lời:
– Chí hướng của tôi thế nào thì ai cũng rõ. Dẫu sống hay chết cũng mặc. Chỉ xin cho tôi mặc áo lễ, đặt hương án tại đây để tôi làm lễ cáo biệt cùng đồng bào, đồng chí.
Hy sinh
Tay cai ngục làm theo lời, vài giờ sau thì lễ phục và hương án đã đem đến. Trần Quý Cáp ăn mặc chỉnh tề, nét mặt vẫn không thay đổi, hỏi tay cai ngục:
– Đến giờ chưa?
– Thưa ông, còn năm phút nữa.
Ông đĩnh đạc thắp nén nhang, hướng về Bắc lạy năm lạy rồi nói lớn:
– Quý Cáp bất tài, không giúp được một tay cho nước, đồng bào lầm than còn biết đến bao giờ? Tôi nay thoát khổ một mình, tôi rất có tội, xin lấy chết tạ tội.
Lại lạy bốn lạy mà nói:
– Các đồng chí cố gắng, dân trí sẽ mở mang dần, dân khí sẽ hùng mạnh. Xin các đồng chí bền gan giữ mình, cùng góp sức suy nghĩ, đừng vội vã, đừng bắt chước chết sớm như tôi. Tội tôi to lắm, xin các đồng chí tha lỗi cho tôi.
Nói xong, ông ngoảnh lại phía tay cai ngục:
– Việc của tôi đối với dân, với nước đã xong rồi! Nhưng tôi còn mẹ già, lẽ nào tôi không tạ tội?
Quay mặt về phía hương án, ông lạy bốn lạy và nói:
– Mẹ ơi! Con xin lấy cái chết để tạ tội với mẹ.
Giây lát sau, lưỡi gươm oan nghiệt đã kết thúc cuộc đời của Trần Quý Cáp. Lúc đó, ông mới vừa 38 tuổi. Từ hải ngoại, nhận được hung tin, chí sĩ Phan Bội Châu đã khóc bằng câu đối thống thiết:
– Tin lại tin thế sao, trời đất phong trần bao cuộc biến;
Buồn gì buồn hơn nữa, non sông hào hiệp mấy ai còn.
Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng lúc này đang bị giam trong nhà lao Hội An cũng khóc bằng bài thơ:
Gươm sách xăm xăm tách dặm miền,
Làm quan vì mẹ há vì tiền.
Quyết đem tân học thay nô kiếp,
Ai biết dân quyền nảy họa nguyên.
Bồng đảo gió chưa đưa giấc mộng,
Nha Trang cỏ đã khóc hòn thiêng.
tay chén rượu còn đang nóng,
Đà Nẵng trông nhau lúc xuống thuyền.
Chí sĩ Phan Châu Trinh sau nầy hoạt động ở Pháp cũng ngậm ngùi nhắc đến cái chết oanh liệt của Trần Quý Cáp. Còn những đồng chí khác gửi tiếc thương đứt ruột trong câu đối:
Đàn anh phái tân học, bỗng mất một tay, muôn dặm mịt mù, bạn trẻ trông sau rền rĩ khóc;
Đời thọ với danh thơm, khó toàn hai ngả, một nho quan nhỏ, mẹ già dựa cửa xót xa đau.
Mãi đến năm 1925, môn đệ của Trần Quý Cáp là Trần Huỳnh Sách mới đưa hài cốt ông về an táng tại quê nhà. Ngày 11/5/1991 UBND huyện Điện Bàn đã ra quyết định số 65/ QĐ – UB thành lập Ban vận động xây dựng lại mộ danh nhân Trần Quý Cáp. Hiện nay, tại Hội An có tượng đài và trường học mang tên danh nhân đã làm rạng rỡ quê hương mình.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ.