Khái quát
Sở có một thầy:
Mặt mũi khôi ngô
Hình dung chững chạc
Quần là ống sớ, áo vận khuy vàng
Khăn lượt vành dây, ô che cán bạc
Bảnh bao lắm mốt, trời nắng mưa: giày nọ, giày kia,
Lịch sự đủ vành, mùa nực rét: mũ này, mũ khác.
Ra phết quan thông, quan phán, đua ngón phong lưu;
Dập dìu tài tử, giai nhân, điểm màu đài các.
Trong đóm ngoài đuốc, trông bề ngoài màu mỡ rêu cua;
Tiếng cả nhà thanh, xét kỹ thực thân hình pháo xác.
Cuối tháng ba mươi, ba mốt giấy bạc rung rinh;
Quá ngày mười một, mười hai ví tiền rỗng toác.…
Bài “Phú thầy phán” này lần đầu tiên in trên tạp chí Nam Phong, cuối bài chỉ thấy ghi “Khuyết danh”. Nhiều người cho rằng của Tú Xương. Thậm chí, nhà in Nam Ký lúc tuyển thơ xuất bản thành sách ghi rõ tên tác giả Tú Xương! Nhưng tất cả đều nhầm. Đó là một trong những bài phú độc đáo của Tú Mỡ. Qua đó, ít nhiều ta thấy ông khắc họa hình ảnh của chính ông trước lúc chính thức bước vào làng văn.
Thân thế
Tú Mỡ tên thật Hồ Trọng Hiếu, sinh ngày 14/3/1900 tại phố Hàng Hòm (Hà Nội), nhưng quê gốc của ông là một chi của họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), ký bút danh ngộ nghĩnh này là muốn tự nhận mình là học trò và tỏ lòng biết ơn đối với bậc thầy Tú Xương. Lên năm tuổi, Tú Mỡ được ông nội dạy chữ Hán – mặc dù phong trào học chữ Tây đã phổ biến rộng rải – học hết pho Tam tự kinh, Dương tiết thì ông nội mất; bố xin cho vào trường Hàng Bông học chữ Quốc ngữ. Sau đó, Tú Mỡ theo học trường Hàng Vôi và năm 1914 đậu thủ khoa Sơ học Pháp – Việt “toàn xứ Bắc kỳ”. Kế tiếp, ông vào học ở trường Cao đẳng tiểu học (tức trường Bưởi, nay trường Chu Văn An) và bắt đầu làm thơ để rồi lưu danh vào văn học sử.
Sự nghiệp
Tại sao ông làm thơ? Câu “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” rất đúng với cậu học trò tinh nghịch, ranh mãnh này. Trong lớp có hai anh giỏi môn văn, thường cặp kè đi chung với nhau để làm thơ xướng họa nghiêm túc là Hoàng Ngọc Phách (về sau nổi tiếng với tiểu thuyết Tố Tâm) và Nguyễn Pho. Thấy đôi bạn này đạo mạo quá, để trêu chọc, Tú Mỡ bèn rủ người bạn tên Quế cùng làm thơ vịnh, nhưng đại loại là vịnh… cái chuông xe điện, ông giám thị v.v… với lời lẽ hết sức bắng nhắng, bông đùa. Thế rồi dăm năm sau, Tú Mỡ bắt đầu “để ý” đến một cô gái ở Hàng Bông. Không lẽ “tỏ tình” bằng những vần thơ nghịch ngợm như trước à? Thế là chàng bèn chuyển sang làm thơ tình, làm hẳn một tập lấy tên Câu cười, tiếng khóc với lời lẽ rất… sáo! Tập thơ này được đưa cho đôi bạn Hoàng Ngọc Phách và Nguyễn Pho “nhuận sắc”. Cả hai đều nhìn bằng con mắt… thương hại và khuyên nên đọc nhiều thơ Kiều để học hỏi thêm. Thay vì làm theo lời bạn khuyên thì Tú Mỡ quay sang học thuộc tất cả thơ Tú Xương. Có lẽ những vần thơ trào lộng này phù hợp với tính bông đùa, nghịch ngợm của Tú Mỡ. N
ăm 18 tuổi, Tú Mỡ thi đậu Thành chung và xin được việc làm thư ký trong Sở Tài chính. Trong hồi ký văn học, ông cho biết: “Lúc này, tôi quyết tâm học làm thơ. Trước hết tôi mua quyển Hán Việt văn khảo để nghiên cứu các thể thơ, ca, từ, phú, rồi mua những tập thơ của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Yên Đỗ, Tản Đà, Trần Tuấn Khải, những tác phẩm mà tôi thích đọc nhất”. Suốt hai năm đi làm và nghiên cứu như thế, những cảnh trái tai gai mắt trong xã hội đương thời đã đánh thức máu… hài hước trong con người Tú Mỡ. Bài thơ đầu tiên của ông được đăng báo là bài Bốn cái mong của thầy phán đăng trên Việt Nam thanh niên tạp chí:
Làm nghề thầy ký với thầy thông,
Sống ở trên đời có bốn mong:
Mong tháng chóng qua, tiền chóng lĩnh,
Mong giờ mau hết, việc mau xong.
Mề đay mong được dăm mười chiếc,
Lương bổng mong tăng sáu bảy đồng.
Hãy tạm thời nay mong thế thế,
Còn bao mong nữa xếp bên lòng.
Tưởng rằng, chỉ làm chơi cho đỡ buồn thôi. Nào ngờ trong thời gian này, có một “lính mới” vào sở làm, người này là phán Tam, tên gọi đầy đủ Nguyễn Tường Tam (tức nhà văn Nhất Linh nổi tiếng sau này). Trong một lần trò chuyện, khi phán Tam nói đến câu rất kinh điển: “Nước trong ta giải mũ, nước đục ta rửa chân” thì phán Hiếu (Tú Mỡ) “đế” thêm “nước đá cho vào bia rượu ta uống”.Thế là mọi người cùng cười ồ lên! Phán Tam cũng cười lên và vỗ vai bảo:
– Khá đấy! Anh nên làm thơ hài hước đi, anh có năng khiếu trào phúng đấy!
Trong thời gian này, phán Hiếu cùng bạn bè có thích văn chương lập nên hội “tao đàn” và ông làm nhiệm vụ thư ký, ghi lại những sáng tác ấy thành tập thơ Ngọn bút làng ta. Trong tập thơ này có bài Phú thầy phán của phán Hiếu, phán Tam đem gửi cho báo Nam Phong, ghi “Khuyết danh” và gây ra sự hiểu nhầm như ta đã biết. Lúc Tú Mỡ miệt mài nghiên cứu và viết thơ trào phúng thì Nguyễn Tường Tam viết tiểu thuyết, truyện ngắn như Nho phong, Người quay tơ, Hai chị em, Thôn dã…
Thiết tưởng, nhân đây cũng nên nói rõ hơn về Nguyễn Tường Tam, bởi ông đã đóng một vai trò quan trọng và quyết định đối với các hoạt động “đã đẩy mạnh phong trào văn nghệ nước ta tiến tới” (Trường Chinh). Lúc làm việc tại Sở Tài chính, dù công việc đang ổn định, nhưng Nguyễn Tường Tam không an phận sống lặng lẽ “sớm vác ô đi, tối vác về” như bao người khác. Năm 1925, ông bỏ cái nghề mà Tú Mỡ đã hài hước tài tình:
Hai buổi đến ung dung ở buồng giấy, sổ to sổ nhỏ bày liệt bày la;
Tám giờ ngồi chễm chệ ghế mây, mực đỏ mực đen viết chì viết chát.
để nộp đơn thi vào trường thuốc. Thi đậu, nhưng ông chỉ học một năm rồi nghỉ. Bởi lúc ấy trường Mỹ thuật Đông Dương của họa sĩ Victor Tardieu bắt đầu mở của tại phố Reinach, ông cao hứng nộp đơn thi và đậu! Nhưng chỉ học thời gian, ông bỏ học, sang Pháp học rồi trở về nước với bằng Cử nhân khoa học.
Trong thời gian du học từ năm 1927 đến cuối năm 1929, ngoài việc học, Nguyễn Tường Tam dành nhiều thời giờ để khảo sát báo chí, phương tiện ấn loát, trình bày, phát hành… của người Pháp. Ông nhận thấy làm báo trào phúng như tờ Le Rire là dễ thu hút độc giả, nếu biếtcách tạo ra tiếng cười vừa bình dân vừa bác học, đáp ứng mọi nhu cầu của đông đảo quần chúng. Do đó, khi về đến Hà Nội, cùng em trai Nguyễn Tường Lân (sau này là nhà văn Thạch Lam) đang theo học trường Cao đẳng Đông Dương, rủ thêm người bạn thuở làm chung ở Sở Tài chánh là phán Hiếu, Nguyễn Tường Tam làm đơn xin ra tờ tuần báo Tiếng cười. Nhưng đến khi có giấy phép thì tài chính eo hẹp, không thể ra báo được, Nguyễn Tường Tam tạm thời đi dạy ở trường tư thục Thăng Long ở phố Bourret, nhưng vẫn không nguôi ý định ban đầu. Có thể nói là do cái duyên tri ngộ nên ông được gặp một đồng nghiệp cũng mê làm làm báo như ông là Trần Khánh Giư (về sau nổi danh với bút danh Khái Hưng), đồng ý bỏ dạy để làm báo nếu có dịp thuận lợi. Bấy giờ, ông Phạm Hữu Ninh đang làm tờ báo Phong hóa, ra được 13 số nhưng không cầm cự nổi nên chần chừ muốn đình bản. Hay tin, Nguyễn Tường Tam đến thương lượng và được ông Ninh đồng ý nhượng lại. Ngay lập tức, ông thông báo tin vui này đến những bạn bè, anh em và gọi em trai Nguyễn Tường Long (về sau nổi danh với bút danh Hoàng Đạo) đang là Tham tá lục sự tại Tòa án Đà Nẵng phải về Hà Nội gấp để cùng làm báo.
Nhà thơ Tú Mỡ kể: “Anh Tam thuê một cái nhà ở dưới ấp Thái Hà để mấy anh em làm việc. Tôi đi làm thì chớ, về là đến đây bàn bạc về cái tôn chỉ của tờ báo và soạn bài vở dự bị cho đủ in trong sáu tháng. Anh Tam vừa viết, vừa vẽ… Anh đặt ra mục này, mục nọ giao cho mỗi người. Anh có cái làm việc rất khoa học, anh đã giao cho ai việc gì thì chỉ chuyên làm có việc ấy. Nhiều lúc, tôi tỏ ý muốn viết những bài thuộc về loại khác, anh khuyên chỉ nên chuyên về một lối. Có lẽ là một điều rất hay cho chúng tôi. Tôi có thể nói anh Tam là người đã tạo ra Tú Mỡ vậy”.
Từ lúc bước chân vào làng báo cho đến năm 1945, Tú Mỡ vẫn khỏe khoắn đứng mũi chịu sào trên Dòng nước ngược. Khi tập thơ cùng tên này được xuất bản năm 1934, ông ghi trân trọng:
Ít lời lẽ ngang phè
Mấy vần thơ lỗ mỗ
Tặng anh Nguyễn Tường Tam
Đáp tấm lòng tri ngộ
Sau khi ổn định về tổ chức, báo Phong hóa (bộ mới) số 14 ra ngày 22/9/1932 và tạo một sự kiện trong làng báo thời bấy giờ. Những tên tuổi mới như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Tú Mỡ… được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Đầu năm 1933, trong ban biên tập tăng cường thêm nhà thơ Thế Lữ, họa sĩ Nguyễn Gia Trí và về sau còn có thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu, Nguyễn Cát Tường…
Không chỉ dừng lại ở chỗ say mê làm báo, Nhất Linh còn có sáng kiến thành lập Tự lực văn đoàn vào tháng 3/1933. “Với tất cả những hoạt động của nó, trong vòng dăm năm đầu, Tự lực văn đoàn đãgiành được một uy tín rất cao trong dư luận. Sách và báo của văn đoàn in ra với khối lượng lớn. Tiếng nói của các thành viên trong văn đoàn có tư cách của những trọng tài được bạn đọc nể trọng và tin tưởng. Văn đoàn bắt đầu thành lập giải thưởng hàng năm kể từ 1935 và đây cũng là giải thưởng được tín nhiệm bậc nhất trong văn học hiện đại Việt Nam” (Từ điển văn học bộ mới – NXB Thế giới – 2005 – trang 1902). Sau khi báo Phong hóa bị đình bản, Tự lực văn đoàn vẫn tiếp tục tồn tại. Họ chủ trương bằng tờ Ngày Nay, với tờ báo này Tú Mỡ vẫn giữ phụ tráchmục Dòng nước ngược “chuyên trị” thơ trào phúng như trên Phong hóa. Có thể ghi nhận thời gian này tài năng Tú Mỡ phát triển rực rỡnhất. Tiếng cười độc đáo của ông là biết kế thừa cái hay của các thi sĩ đàn anh và vận dụng ca dao, tục ngữ. Điều làm nên tên tuổi Tú Mỡ là ông đã cười rất ác vào cái ông nghị… gật mà trước và sau ông chưa có ai vượt qua nổi! Chẳng hạn, trong bài “Cái chuông ông trùm”, ông viết rất cay độc:
Nó cũng kiểu như chuông xe rác
Cũng như chuông của các hàng rong
Thế mà nó quý lạ lùng
Bởi là chuông hiệu của ông nghị trùm
Trong những cuộc om sòm cãi vã
Hội đồng như cảnh chợ ngày phiên
Ông trùm mà lắc chuông lên
Mồm loa mép giải cũng yên tức thì
Tiếng chuông ấy uy nghi là thế
Người lắc chuông quan nể dân vì
Ai mà láu cá thạo nghề
Lắc chuông đúng nhịp, kiếm nê bạc tiền
Ta đang xem một vở tuồng vẽ nhọ bôi hề chăng? Không, đó là một buổi họp của các ngài dân biểu! Ngoài ra ông còn có biệt tài vẽ những bức chân dung bằng thơ với đường nét tiêu biểu nhất, không lẫn lộn với ai khác. Ngòi bút của ông tả xung hữu đột từ chuyện đóng thuế thân, hội bảo trợ súc vật, mê tín dị đoan, tệ nạn đè đầu cỡi cổ dân nghèo ở nông thôn… đến cả các ông quan tai to mặt lớn đang quyền uy lẫm lẫm! Ngay cả Sở Kiểm duyệt, ông cũng bạo gan “sờ râu cọp” hóm hỉnh để chúng không bắt bẻ đâu được:
…
Nhớ bà xưa
Từ ở phương Tây
Rời sang đất Việt
Con mắt cặp kèm
Tính người ráo riết
Làm việc quan quá đỗi trung thành,
Giữ phận sự có điều cay nghiệt.
Tay cầm bút chì xanh sù sụ, những lăm le gạch dọc xóa ngang;
Mắt đeo đôi kính trắng tò mò, chì soi mói bới lông tìm vết.
Lời văn thẳng thắn, bà chơi khăm vặn ý thành queo;
Sự thực trần truồng bà che đậy cấm ai nhòm biết.
Thơ tìm được vận, còn thấp tha thấp thỏm, bà bẻ hành bẻ tỏi, khách làm văn lắm bận phờ râu;
Báo sắp lên khuôn, vẫn ngơm ngớp gờm gờm, bà xẻn thủ xẻn đuôi, ông chủ bút nhiều phen lộn tiết.
Việc cắt cứa, bà dẫu có trăm khôn, nghìn khéo nhưng tránh sao khi lỡ khi lầm;
Khéo xỏ xiên, báo phải xoay tứ đóm tam khoanh, thừa dịp nhử vào tròng vào xiếc.
…
Đọc từng chữ từng câu thật khoái trá vô cùng. Nhưng ngẫm nghĩ lại ta thấy cái kiếp cầm bút sao cực nhục, khó khăn quá chừng. Muốn viết được những điều mình suy nghĩ là điều không phải dễ. So với thời Tú Xương, Kép Trà… viết và phổ biến bằng cách “truyền miệng rỉ tai” trong công chúng, do đó, nhà thơ mạnh dạn viết những gì mình suy nghĩ, không sợ bị “kiểm duyệt”; còn Tú Mỡ lại khác, tác phẩm của ông gắn liền với báo chí, do đó, khi viết phải “lách” khôn khéo để qua được “lưỡi hái tử thần” là Sở Kiểm duyệt! Nhưng nếu “lách” kỹ quá, sâu quá thì mất đi tính chiến đấu, vì thế Tú Mỡ phải dụng công ghê gớm để tác phẩm của mình có thể xuất hiện công khai trên mặt báo.
Đó là một điều không dễ dàng cho những người làm thơ trào phúng. Ngoài việc học tập các nhà thơ trào phúng đi trước như ta đã biết, ông còn học ở những cây bút nước ngoài. Học Voltaire lối đả kích vào chế độ thối nát của thời đại; học La Bruyère lối đi sâu vào tâm lý con người và cảnh diễn tả về những kẻ dốt hay nói chữ, trưởng giả học làm sang; học G.Courteline lối cười ra tiếng khóc, khóc ra tiếng cười; học ở René Buzelin lối châm biếm thời sự chính trị; học La Fontaine lối ngụ ngôn v.v… Nhưng một điều quan trọng nhất vẫn là:
Tôi học ca dao tục ngữ, và học lối ăn nói của các ông già bà cả. Người Nam mình, nhất là các bà ở nông thôn, gặp bất cứ việc gì, là các bà nghĩ ngay bằng ca dao, tục ngữ, bằng lối pha trò của phường chèo, bằng truyện Tiếu lâm, hoặc ví von bằng các nhân vật truyện dân gian, bằng câu Truyện Kiều. Cũng như các cụ nho học uyên thâm ngày trước, gặp việc gì cũng nghĩ ngay bằng điển tích trong sách. Cho nên muốn làm thơ, tôi cho việc đệ nhất cần, là phải học cho thuộc ngôn ngữ dân tộc và văn học dân gian. Rồi hãy học văn các cụ. Là nhà văn, nhà thơ Việt Nam, anh phải có cái cảm nghĩ của người Việt Nam, để nói bằng tiếng Việt Nam. Anh làm một bài thơ mà trước khi đọc cho người khác nghe, anh sợ người ta không hiểu, phải trình bày đại ý, thì tất là vì anh biết trước rằng bài thơ của anh nó khó hiểu, về cái gì đó. Tôi cho là nó kém về tính dân tộc. Dù bài thơ có tư tưởng hay ho, cao xa đến mấy, nhưng khi nghe xong, tôi chẳng hiểu anh nói gì, chẳng nhớ được câu nào, nếu bắt tôi học mà tôi lại nhai mãi không thuộc, thì tôi coi bài ấy không phải là thơ đã đạt. Ngôn ngữ Việt Nam có thiếu để anh nói đâu, văn Việt Nam có không đủ để anh diễn tả hết ý của anh đâu, sao chữ của anh nó trúc trắc, cầu kỳ, câu của anh nó lê thê, ngô nghê, ý của anh nó như cóc nhảy thế? Tôi không chịu nổi. Sức sống của dân tộc Việt Nam vô cùng mãnh liệt. Tiếng nói là biểu hiện của sức sống. Cho nên, nếu tiếng nói mà không giữ được tính dân tộc, thì không thể thọ lâu. Những vết xe trên con đường lịch sử văn học còn trơ trơ đó. Nhưng văn học dân gian chỉ truyền từ miệng nọ sang miệng kia, mà cả dân tộc ta nhớ đời đời. Là bởi vì nó như hạt lúa, củ khoai, nó không câu kỳ, tiếng nào, câu nào cũng như rất tầm thường. Tầm thường đến nổi thoạt nghe, anh tưởng như vậy thì ai chả nói được, ai chả viết được, nhưng vì sao ít người viết được tầm thường? Là vì anh đã trót quen nói, trót quen nghe giọng trí thức. Anh tự tạo ra cái khó cho anh thôi. Anh thử lắng tai vào lời nói của những người sống xung quanh anh mà xem. Vợ anh, con anh, bè bạn anh, có ai nói với anh mà phải dùng tiếng nói và lối nói lạ tai không? Cho nên nếu muốn được hiểu, anh chỉ nên nói tầm thường như mọi người. Anh phải học nói và học viết bằng tiếng tầm thường. Đừng cho nôm na là cha mách qué. Văn chương hay không, là ở chỗ anh có biết hay không biết dùng tiếng nói, dùng lối nói của quảng đại nhân dân, thế nào cho gọn ghẽ, cho trong sáng, cho đúng chỗ…
Qua “tự bạch” và sự thành công của nhà thơ Tú Mỡ, khiến ta phải suy nghĩ.
Nhà thơ, nhất là người làm thơ trào phúng, không thể ngồi trong tháp ngà để sáng tác trong sự tưởng tượng, mà ít nhiều cũng ảnh hưởng bởi ngọn gió của thời cuộc. Và thời điểm ngày 1/9/1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan đã mở màn cho chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng ảnh hưởng sâu sắc đến các nước thuộc địa Pháp – trong đó có Việt Nam. Nhật nhảy vào Đông Dương và Pháp bị hất chân khỏi vũ đài chính trị. Các tổ chức cách mạng nhân cơ hội này hoạt động rất sôi nổi. Những thành viên trong nhóm Tự lực văn đoàn đã có những thay đổi sâu sắc, thậm chí có người sai lầm trong nhận thức chính trị. Nhà thơ Tú Mỡ viết trong hồi ký: “Một buổi tối họp mặt, anh Tam bảo tôi: “Đã đến lúc chúng ta phải hoạt động chính trị để giành lấy chính quyền. Cái chính phủ Trần Trọng Kim này không làm nên trò trống gì đâu. Nhật không nuốt nước ta được, vì Mỹ không để cho nó chiếm cái cửa ngõ Á Đông. Chúng ta cần phải vào một tổ chức cách mạng để khi thời cơ đến sẽ đứng ra giành chính quyền. Hiện giờ anh em trong đoàn đã vào đảng Việt Cách hoạt động bí mật, anh cũng nên vào…”. Nhưng Tú Mỡ từ chối.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Tú Mỡ được cử làm chủ sự phòng 4 (phòng kế toán ) ở Bộ Tài chính của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Tú Mỡ cùng cơ quan rồi thủ đô đến Hà Đông rồi lên Tuyên Quang, Phú Thọ. Từ những giây phút này, Tú Mỡ đã đi theo cách mạng và kháng chiến. Từ năm 1947, ông chuyển hẳn sang công tác tuyên truyền văn nghệ.
Trong kháng chiến chống Pháp, Tú Mỡ còn có bút danh Bút Chiến Đấu. Ngòi bút ông trước đây châm biếm quan lại, nghị trường, chế giễu thói hư tật xấu trong xã hội… thì nay đánh trực diện vào kẻ thù của dân tộc. Bản lĩnh của ông thể hiện rõ nét qua các tập thơ như Địch vận diễn ca (1949), Nụ cười kháng chiến (1952), Anh hùng vô tận (1952)… Sau năm 1954, ông tiếp tục có Nụ cười chính nghĩa (1958), Bút chiến đấu (1960), Đòn bút (1962)… Ngoài thơ trào phúng, Tú Mỡ còn viết tiểu luận, phê bình, giới thiệu, nói chuyện, nghiên cứu về thơ ca, về nghệ thuật độc tấu, chèo, vè, tuồng, về kinh nghiệm sáng tác thơ ca trào phúng và hồi ký v.v… Phần lớn sáng tác của Tú Mỡ đã được tập hợp trong “Tú Mỡ toàn tập” với số lượng 4 tập và khoảng 3.000 trang in do Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 1996. Đánh giá suốt cuộc đời cầm bút bền bỉ của Tú Mỡ, Xuân Diệu đã nhận định sắc sảo:
“Thơ Tú Mỡ là một hiện tượng khách quan tồn tại trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đã đi vào trong cái vốn chung của văn học dân tộc. Nhà thơ đó để lại một cái tên thứ tư sau ba tên: Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, dần dần, trong sóng vỗ của thời gian, tên không bị lấp, mà nổi được lên, cái hiện tượng thơ Tú Mỡ đã mua vui được nhiều trống canh cho dân tộc ta (chữ “mua vui” là cách nói nhún của Nguyễn Du) – ba chục năm mà hai đời, hai thời đại. Về Tú Mỡ, với cỡ cây bút đã sống hai lần và khỏe mạnh, ta có thể nói: thời gian mai hậu còn lọc khắt khe hơn ta lọc bây giờ nữa; nhưng, theo tôi nghĩ, bác “Tú rửng mỡ đi xe bình bịch”, bác Tú hóm hỉnh có duyên, vẽ những tranh biếm họa cay chua sinh động về xã hội chó sói đười ươi cũ, bác Tú khẳng khái đánh Pháp, dẻo dai chống Mỹ… đã có những bài thơ hay nhất của mình trong cái vốn chung của văn học dân tộc” (Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy – NXB Tác phẩm mới – 1978 – trang 272). Nhà thơ Tố Hữu trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tú Mỡ đã tặng gia đình ông bài thơ:
Trăm năm, cụ Tú Mỡ mình ơi!
Trào phúng, tài ông dễ mấy người.
Ông đã đi xa, đời vẫn nhớ,
Dại khôn, hay dở, tiếng ông cười.
Tú Mỡ xưa ngán buồn nhân thế
Tú Mỡ nay vui nhộn đất trời.
Ước gì, sống lại thêm trăm tuổi,
Nghe tiếng ông cười lũ “dở hơi”!
Với những cây bút trào phúng, đừng tưởng họ chỉ có tiếng cười, dù là cười hóm hỉnh hoặc chì chiết cay độc, hoặc bất cứ kiểu cười gì đi nữa cũng là cười, thế thì ta nhầm. Tú Mỡ cũng đã có lần khóc. Đó là lần ông “Khóc người vợ hiền” để có được bài thơ hay nhất trong văn chương Việt Nam viết về người đầu ấp tay gối. Bà Tú mất vào buổi sáng cuối thu năm 1968 vì tai biến mạch máu não, sau mất mát đó, Tú Mỡ trở nên suy tư nhiều hơn và có được tập thơ Ông và cháu (1970) dung dị và giàu tình cảm gia đình.
Cuối đời
Tú Mỡ mất lúc 13 giờ ngày 13/7/1976 tại Bệnh viện Việt – Xô (Hà Nội). Với đóng góp to lớn cho nền văn học hiện đại, Tú Mỡ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Gần đây nhất trên trang web của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Việt Nam cho biết: “Nhận thức được ý nghĩa của sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Tú Mỡ và cảm nhận đượcsự quý trọng nâng niu của gia đình đối với di cảo sáng tác của ông, nhiều năm qua, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia đã kiên trì vận động gia đình ông đưa các di cảo đó vào bảo quản nhà nước. Ngày 28/4/2003 Trung tâm lưu trữ Quốc gia III đã trân trọng tiếp nhận khối tài liệu lưu trữ cá nhân của nhà thơ Tú Mỡ do gia đình nhà thơ trao tặng. Để tỏ lòng biết ơn và ghi nhận sự đóng góp to lớn của nhà thơ Tú Mỡ trong việc giữ gìn di sản văn hóa, ngày 14 tháng 4 năm 2003 Cục Trưởng Cục Lưu trữ Nhà nước đã ký quyết định truy tặng Huy chương “Vì sự nghiệp lưu trữ Việt Nam” cho cố nhà thơ”. Hiện nay, Khu nhà lưu niệm Tú Mỡ ở tại đầu đường Láng – Cầu Giấy (Hà Nội).
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ.