Tứ vị Nam Hải Thánh Nương

Tứ vị Nam Hải Thánh Nương

Thông tin cơ bản

Tứ vị Nam Hải Thánh Nương

Bộ thứ 2: chỉ Khảm Quý. Thượng đẳng âm thần1“.

Bản chính của Bộ Lễ quốc triều.

Các vua Hùng sáng nghiệp trải qua 18 đời, đến đời An Dương Vương mới được 50 năm thì Triệu Đà có được đất nước, 5 đời làm vương. Từ đó nước Việt ta nội thuộc vào nhà Hán. Trải các đời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tổng. Tề, Lương cả thảy hơn 300 năm đến thời Tiền Lê nội thuộc Tùy Đường. [Đến thời] Nam Bắc phân tranh, Ngô vương dựng nước, tới đó Nam bang trải các triều Đinh, Lê, Lý, Trần các đời vua nối nhau hưng thịnh. Duy có triều Trần sớm ứng theo vận Đông A, nắm quyền nhận ngôi. Vào thời Thái Tông (1225 – 1258) cai trị, bấy giờ Bắc triều là thời Nam Tổng đời vua Lý Tông năm thứ 5, Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt cất binh phạt Tổng. Năm đó Lý Tông, Manh Độ Tông tức vị [9a] đổi niên hiệu là Hàm Thuần nguyên niên (1265). Truyền các đời Cung Tông, Đoan Tông đến đời Đế Bính niên hiệu Tường Hưng2, trải qua 99 năm, tông phái tranh giành chưa phân thắng bại. Nguyên Thế Tổ bèn cầu viện quân lân bang, Ích Nguyên đem 36 vạn binh sang đánh Tổng. Nước Tổng lâm nguy. 2

Trước đó, Hoàng để Thái Tông nước Việt ta triệu tập quần thần tới điện. Bấy giờ ngày 25 tháng 10, bỗng thấy có một ngôi sao lớn hình dáng tựa như bỏ lụa từ trên trời rơi xuống, hơn trăm các vì sao nhỏ khác đều rơi xuống theo. Vua lấy làm lạ, nói với quần thần rằng:

– Đó là điềm nhà Tổng sắp mất vậy.

Đến tháng 11, Nguyên – Tống kéo quân đánh phạt lẫn nhau, quân Tổng thua liên tiếp. Đế Bính và Thừa tướng Lục Tú Phu đều bị vây hãm trong chiến trận. Bấy giờ Hoàng hậu và công chúa Hồng Liên, Hồng Hạnh cùng một người thị nữ theo một chiếc thuyền nhỏ trốn sang biên giới nước Nam.

Lần tìm về dấu tích của Hoàng hậu thì bà chính là con gái của Triệu Công Bình ở xã Hương Cát, cửa biển Đại Cân, châu Hoan nước Việt ta, (công) xưa lấy Dương Thị Phấn người bản xã làm vợ, thường hay độ thể cửu nhân, nên bây giờ mọi người đều khen rằng nhà tích thiện ắt sẽ dư phúc. Mấy năm nay, người vợ thường nằm mộng thấy mình nuốt mặt trăng, đột nhiên thấy cảm ngộ rồi có mang. Tới kỳ khai hoa mãn nguyệt nhằm vào ngày mồng một tháng Ba năm Giáp Thân, vợ chồng đang dong thuyền thả lưới bắt cá ở cửa biển Đại Càn thì Dương thị trở dạ, sinh người con gái ngay trên thuyền, nên đặt tên là Càn nương. Tới khi trưởng thành Càn nương mặt tươi như hoa đào, lông mày tựa lá liễu, thực là vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Bấy giờ mối lái dập dìu đầy nhà nhưng cung trăng vẫn đóng, nhụy ngọc còn phong, khế ước lương duyên, ngày tốt chưa định. Thơ Đào yêu3 trong Kinh thi còn chưa gây đàn ngâm.

[10a] Bấy giờ Thái tử Đoan Tông thường hay xa giá nam du, tới cửa biển Đại Càn ở châu Hoan, thấy nhan sắc của nàng thì rất ưng ý, cho sánh duyên lành cùng Đế Bính. Đến khi Đoan Tông băng hà, Đế Bính tức vị, lập nương làm Hoàng hậu. Xưa Hoàng hậu nằm mộng thấy được một người già ban cho một nhành hoa, hoa nở hai cánh, một cánh tựa sen hồng, một cánh tựa hồng hạnh. Nàng vui mừng đón nhận. Đến khi tỉnh giấc bèn nói với Để Bính. Đế Bính cười nói:

– Hoa nở hai cánh, ý là điềm song sinh con gái vậy.

Từ đó quả nhiên thấy người như mang thai, đến ngày rằm tháng Tám năm Canh Dần thì sinh hạ một bọc, tử trong bọc bước ra hai người con gái đều có nhan sắc tươi như hoa nở, rạng rỡ như mặt trời. Cha mẹ vô cùng yêu quý, nhân nghĩ tới giấc mộng bèn đặt tên là Hồng Liên và Hồng Hạnh. Bấy giờ các nàng đã mười ba tuổi.

Về sự tích người thị nữ, vốn là người bản xứ, cha là Vương Công Trứ, mẹ là Hoàng Thị Hinh, sinh nàng vào ngày 15 tháng Tám năm Kỷ Sửu. Tới khi trưởng thành nhan sắc tuyệt trần nhưng lại không muốn lấy chồng. Vương công bèn tiến nàng vào cung và được Hoàng hậu yêu quý nhận làm thị tỳ, cho được ở cùng với hai công chúa.

Khi Hoàng hậu cùng Hồng Liên, Hồng Hạnh và thị tỷ tới vùng biển nước Việt ta bỗng cuồng phong nổi dậy, sóng lớn dâng trào, chiếc thuyền nhỏ bị vỡ tan rồi chìm. Nhưng người làm việc thiện trời ất báo đền. Bấy giờ Hoàng hậu và hai công chúa cùng thị tỷ mỗi người đều nắm được một mái chèo, theo gió trôi dạt một lúc tới thẳng bờ biển. Bốn người trông ra xa thấy một cái cây um tùm, giữa rặng cây có một ngôi chùa cổ. Bốn người dắt díu nhau tới cửa thiền, gặp thiền sư đang [113] ngồi xếp bằng. Bốn người tiến thẳng vào thưa hết đầu đuôi câu chuyện cho thiền sư nghe. Thiền sư xót thương liền lập tức gọi chú tiều chuẩn bị cỗ chay thết đãi. Lưu lại được vài tháng thì nghe tin Đế Bính và Lục Tú Phu đều lao xuống biển chết, các văn thần võ tướng, binh sĩ cũng tùy cảnh chết theo đến gần mấy trăm người, Hoàng hậu vô cùng kinh sợ nói với hai công chúa và thị tỷ rằng:

– Sống vì đất nước thì sự sống ấy là vinh quang, còn chết vì đất nước thì tuy chết nhưng vẫn như sống. Còn như sống mà không báo thù cho đất nước thì thả chết còn có ý nghĩa hơn, tiếc gì tuổi thanh xuân đây.

Hai công chúa và thị tỷ cũng khóc rằng:

– Cung điện lâu dài hơn mười năm phù du, nay vinh hoa đủ rồi, thà cam lòng chết cùng nhau chứ chẳng rời nhau.

Than thở xong, bốn người cùng bái tạ thiền sư, đi thẳng ra ngoài khơi, tự trẫm mình xuống biển (bấy giờ là ngày 24 tháng 12).

Thiền sư nghe tin kinh hoàng, vội vàng sai người đi cứu nhưng không thấy đâu nữa. Thiền sư than tiếc không nguôi, liền lập đàn tràng trai giới bên bờ biển làm lễ chiêu hồn. Việc xong, lập một ngôi miếu nhỏ bên cạnh chùa cổ để hương hỏa phụng thờ.

Lại nói về Hoàng hậu và hai công chúa với người nữ tỷ, bốn người trẫm mình xuống biển, sau ba ngày trôi theo dòng nước trở về tới cửa biển Đại Cờn. Nhân dân xã Hương Cát bỗng nhiên bị bệnh dịch, chó cắn suốt đêm, ngủ chẳng được yên. Đêm đó nhân dân làm lễ cầu xin trời đất, tới nửa đêm, các bậc phụ lão đều trông thấy một người mặc áo đỏ, tay cầm cờ đỏ, đi từ phía tây, tự xưng là thiên sứ tới tuyên triệu nhân dân rằng:

Nay có ba mẹ con Hoàng hậu nước Tống và người thị tỳ đều là những người tận trung, chết vì nghĩa. Thượng để xót thương, sắc ban cho làm [12a] thần biển, chủ cai quản cửa biển Đại Cờn. Lại ban cho đất ngụ lộc ở xã ta. Dân xã ta mau mau ra làm lễ mai táng, nếu không trời sẽ trách phạt bệnh dịch vẫn lưu hành, dân ta sẽ không tránh khỏi bị trách lỗi. và

Dân xã bàng hoàng tỉnh ngộ cùng họp nhau lại nói rằng:

– Tất cả đều phù hợp với những điều trong giấc mộng.

Bèn sai người đi xem xét, quả nhiên thấy thi thể bốn người nổi trên mặt biển, diện mạo như người sống. Người kia trở về nói lại sự việc. Nhân dân bèn ra cửa biển làm lễ rồi vớt họ lên, ngay hôm đó mai táng bên bờ biển (tức địa phận xã Hương Cát), rồi sau đó dựng một ngôi miếu nhỏ, bên trên lăng viết thần hiệu là Tử vị vương bà, tháng ngày phụng thờ. Hễ có bệnh tật mà tới cầu xin thì đều khỏi, thuyền buôn qua lại cầu đảo đều linh nghiệm, thường hay mang vàng bạc châu báu dâng vào miều.

Đến đời vua Trần Anh Tông (1293 – 1314), vua thân chỉnh cất binh đi đánh Chiêm Thành [126]. Hôm đó nắng xuân tươi đẹp, tiết khí ôn hòa, buồm gấm đón gió đông nhẹ thổi, thuyền rồng lướt trên sóng nhẹ, thẳng dong tới cửa biển Đại Cờn, châu Hoan, bỗng nhiên sóng biển nổi lên ầm ầm, đám binh sĩ không thể tiến lên. Vua đành phải dừng thuyền lại. Nửa đêm, nhà vua nhìn thấy một người phụ nữ mặc áo đỏ trong suốt dát đầy ngọc, theo sau là ba thiếu nữ mình mặc giáp vàng, tay cầm mâu vàng đến trước mặt nhà vua vái rằng:

– Thiếp là Hoàng hậu nước Tống cùng hai công chúa và thị tỷ bị sóng biển làm hại, thượng đế thương tình không bắt tội ban cho làm thần hải khẩu. Nay nghe tin bệ hạ Nam chỉnh, chúng thiếp nguyện theo nhà vua dẹp giặc, sau này thanh bình xin được ban cho sắc chỉ để tỏ rõ anh linh.

Nghe chưa dứt lời, vua chợt tỉnh giấc liền cho gọi dân địa phương hỏi rõ sự tình. Nhân dân kể lại câu chuyện [13a], nhà vua tự mình làm lễ trong miều. Lễ xong, phát động quân sĩ thẳng tiến. Đầu thuyền chiêng trống khua vang lừng, vạn dặm như sấm sét, bên sông cờ xí tung bay uốn lượn tựa rắn rồng. Những nơi nào quân nhà vua tới, khí thế xung thiên, cưỡi gió vượt sóng, uy thanh xô cuốn cảnh mục khô. Chỉ một trận đại chiến mà quân Chiêm đại bại. Quân nhà vua tấn công thành, chặt đầu chủ tướng rồi trở về đến cửa biển Đại Cờn, vua truyền lệnh cho binh sĩ và nhân dân dụng miều thờ nguy nga, củng cố lăng mộ, mở tiệc ăn mừng. Lại phong sắc chỉ cho thần làm Đại Cờn quốc gia Nam Hải tứ vị Thánh nương, ban cho nhân dân địa phương ba trăm quan tiền xanh để lo việc trông nom, giữ gìn miếu thờ. Từ đó mọi việc nước cầu dân xin thảy đều hết sức linh ứng.

Đến cuối thời Trần, họ Hồ tranh quyền khiến cho người Minh sang gây loạn. Duy [136] có Thái tổ Cao Hoàng Đế quốc triều tiểu trừ được giặc dữ, bình định người Hồ, lên ngôi vua ở Lam Sơn, đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Trải đến đời Lê Thánh Tông Thuần Hoàng Đế (1460 – 1497), giặc Chiêm không chịu thần phục, nhà vua thân chỉnh cầm quân đi đánh đẹp. Tiếng tăm vang dậy. Đến cửa biển Đại Còn, châu Hoan vua truyền lệnh cho binh sĩ mổ trâu bò tế lễ. Nhà vua tự mình khẩn rằng:

– Nếu thần linh thiêng, xin kính hưởng lễ và phù hộ dẹp giặc bảo vệ lê dân. Nếu như sau này dẹp giặc yên rồi cùng hưởng phúc khánh.

Khẩn xong, kéo quân tới thẳng chỗ quân Chiêm, đánh một trận. Quân Chiêm thua to, chém được đầu chủ tướng, thu được khí giới đem về kinh đô. Nhà vua ban bố chiến thắng trở về. Về tới cửa biển Đại Còn, châu Hoan lại làm lễ phong sắc cho làm Quốc mẫu thánh bà Đại Còn quốc gia Nam Hải tửvị Thánh nương. Lại ban cho [14a] dân địa phương ba trăm quan tiền xanh lo việc trùng tu miếu điện, xuân thu tế tự. Vua lệnh cho các quan dâng súc vật tế lễ. Nhà vua đề đôi câu đối rằng:

Phong đào hoán tỉnh Anh Tông mộng,
Hương hỏa trường lưu Quốc mẫu từ.

(Phong ba làm tỉnh giấc mộng của Anh Tông,
Hương hóa còn truyền mãi đền Quốc mẫu).

Lại nói lúc bấy giờ ở trang An Thuận, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên xứ Sơn Nam Thượng (tức là thành Thăng Long-NC) có một người lính họ Lê tên Thọ. Hôm đó theo vua Nam chỉnh, dừng lại ở cửa biển Đại Còn làm lễ cầu đào ở đền Quốc mẫu. Lúc đó Thọ công cũng hành lễ, trong lòng tự khẩn rằng:

– Muôn nhờ vào thần linh phù hộ độ trì để dẹp tan quân giặc. Dẹp yên giặc rồi sẽ xin nghênh rước đèn hương đưa về bản xã lập miếu phụng thờ.

Khẩn xong, Thọ theo nhà vua đi đánh giặc Chiêm. Ngày đầu giao chiến, Thọ bị quân giặc vây hãm. Tướng giặc là Thuần Hoành Qua nhảy lên ngựa toan lấy mạng của ông. Ông Thọ liền lớn tiếng khẩn rằng:

– Thần thiêng cửa biển không thể trợ giúp được chăng. Sao lại để Thọ tôi chết vì bị vây hãm thế này.

Nói chưa dứt, quay đầu lại thấy Thuần Qua ở rất gần, tự biết nạn này khó thoát. Ai ngờ thánh bà tối linh, cầu là hiển ứng. Bỗng nhiên thấy một nữ tướng cưỡi ngựa đỏ, tay cầm mâu vàng, đi tới từ phía sau và hét một tiếng lớn:

– Ngựa của ta đã tới, Phạm Thuần có thể nghỉ được rồi.

Nói xong, lúc ẩn lúc hiện. Phạm Thuần ngã ngựa mà chết. Ông Thọ quay lại chém đầu Thuần đem về, lại tiếp tục một trận chiến đấu dưới cờ, chém được nhiều đầu giặc. Dẹp xong giặc Chiêm, vua luận công ban thưởng các cấp khác nhau. Vua trao cho Lê Thọ chức Lang trung, ban thường rất hậu. Ông liền dâng biểu tâu bày về sự việc xin rước [153] Tứ vị vương bà trở về bản xã lập đền thờ phụng sự. Vua đồng ý, còn tặng phong cho Tứ vị vương bà một đạo sắc, ban cho sáu trăm quan tiền xanh để sau này lo việc trông nom ngôi đền; hàng năm xuân thu nhị kỷ nhất định phải hết lòng kính tế, dùng lễ tam sinh (bò, lợn, dê) hành lễ.

Ông Thọ vâng mệnh, bái tạ trước mặt rồng rồi nghênh sắc chỉ trở về trang An Thuận, truyền gọi nhân dân lập đền thờ nơi khu vực dân cư và viết thần hiệu là Quốc mẫu Hoàng bà Đại Cờn quốc gia Nam Hải tứ vị Thánh nương để thờ phụng, bốn mùa hương hỏa không dứt. Từ đó về sau, ngôi đền thường rất linh ứng, cầu nắng khẩn mưa đều được như ý, cho nên các bậc đế vương thường gia tặng sắc chỉ là Thượng đẳng phúc thần, là nơi tổ chức lễ tế của đất nước các kỳ xuân thu, muôn đời được tôn là phúc thần, mãi mãi là khuôn phép, tốt đẹp thay!

[15b] Phong Quốc mẫu Hoàng bà Đại Cờn quốc gia Nam Hải tứ vị Thánh nương làm Thượng đẳng thần; chuẩn cho trang An Thuận huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên phụng sự.

Về tên húy các thánh thì tra trong sự tích đều phải tránh âm. Khi hành lễ thì không được mặc quần áo màu đỏ. Đền thờ chính là ở cửa biển Đại Còn Hoan Châu thuộc đất Tam Hương.

Vào hai kỳ tế xuân thu cấp quốc gia tháng Giêng và tháng 7 dùng tam sinh (trâu bò, dê, lợn) hành lễ.

Ngày mồng 1 tháng 3 là ngày sinh Hoàng hậu.

Ngày 15 tháng 8 là ngày sinh hai công chúa và thị nữ.

Ngày 24 tháng 12 là ngày hóa của bốn vị.

Ngày lành tháng quý xuân (tháng 3 âm lịch) năm Tự Đức 17 (1864)

Dân xã Cơ Xá phụng sự.

Chú thích:

  1. Âm thần: Tức nữ thần. Dương thần tức nam thần.
  2. Tường Hưng: Niên hiệu của Vệ Vương Triệu Bình, nước Nam Tổng (Trung Quốc). Niên hiệu Tường Hưng chỉ tồn tại hơn 1 năm, từ năm 1278 – 1279.
  3. Đào yêu: Tên bài thơ trong Kinh thỉ nói về việc người con gái đi lấy chồng.

Nguồn: “Từ vị Nam Hải Thánh Nương ngọc phả”, ký hiệu AEa2/16, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (1)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)