Khái quát
Nhà thơ Tú Xương sinh ngày 5/9/1870 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc (Nam Định) được đời sau truyền tụng qua hai câu thơ:
Kìa ai chín suối Xương không nát,
Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn.
Lời tiên đoán không sai này tương truyền là của cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến; với Tản Đà, “Trong những thi sĩ tiền bối, tôi khâm phục nhất Tú Xương”; với Nguyễn Công Hoan, “Tú Xương là bậc thần thơ thánh chữ”… và với Xuân Diệu:
Ông Nghè, ông Thám vô mây khói,
Đứng lại văn chương một Tú tài.
Tú Xương nổi tiếng đến độ, người ta cho rằng đất Nam Định có hai đặc sản: “Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự”! Ông đã để lại một bản lĩnh thơ, một sự nghiệp văn học để tạo nên cốt cách trào phúng và trữ tình mà ít nhà thơ nào sánh kịp. Tiếng cười trong thơ của ông cay độc. Ông châm biếm, cười cợt, phê phán không khoan nhượng với bất cứ những gì “trái tai gai mắt” trong buổi giao thời Pháp – Việt. Ngay cả bản thân ông, đôi lúc ông cũng ngao ngán tự trào chua chát:
Vị Xuyên có Tú Xương
Dở dở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quít
Thổ đĩ lại chơi lường
Nói về mình, nhưng thật ra ông ý thức phê phán, cười cợt cả một tầng lớp nhà nho, trong thời buổi nhố nhăng, mọi giá trị truyền thống đã không đã không còn được trọng vọng như trước nữa. Họ không phải đã “thoái hóa, biến chất” đến như thế mà có lẽ Tú Xương đau đớn nói rằng, hình ảnh nhà nho của thời đại mà ông đang sống khác gì một gã “thị dân lưu manh”! Nhìn ra xã hội chung quanh, ông ngậm ngùi chứng kiến: “Nhà kia lỗi đạo, con khinh bố/ Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng/ Keo cú người đâu như cứt sắt/ Tham lam chuyên thở những hơi đồng”. Nhìn vào chốn quan trường, ông chua chát: “ Tri phủ Xuân Trường được mấy niên/ Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên/ Chữ y chữ chiểu không phê đến/ Ông chỉ quen phê một chữ tiền!”.
Chao ôi! Điều gì đã làm thay đổi cả một cấu trúc xã hội, từ “bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng” đến bệ rạc như thế? Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương góp phần lý giải về sự thay đổi ấy:
“Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã tạo ra một sự va đập dữ dội vào bậc nhất trong giới trí thức – nhà nho. Những giá trị cổ truyền bị đặt lại đồng loạt, trong số đó, cả những giá trị làm nên phẩm chất người tài tử cũng bị “xét xử”.
Trên sân khấu xã hội, một khi vai trò của chính phủ Nam triều đã trở thành bù nhìn, hình thức thì cả bộ máy quan chức của nó cũng chỉ tồn tại lay lắt, hay chí ít, chỉ có vai trò thứ yếu. Mối quan hệ được coi là miễn nghị giữa ngôi vua và chủ quyền quốc gia bị đặt lại một cách ráo riết.
Sự lúng túng, bất lực của vua quan nhà Nguyễn trong việc đối phó với họa ngoại xâm đã khiến từ trong triều đình đến hàng ngũ quan lại, nho sĩ phân hóa sâu sắc. Xét một cách công bằng thì ở giai đoạn đầu của quá trình đó, chưa tồn tại một lực lượng đáng kể những kẻ chỉ thuần túy chủ trương đầu hàng. Chỉ sau Hòa ước Patơnốt, dưới áp lực trực tiếp của toàn Khâm sứ và sự lây lan nhanh chóng của tâm lý thất bại chủ nghĩa, sự phân hóa nội bộ mới thật sự trở nên sâu sắc”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chú cũng cho rằng: “Họ là nhân vật của cuộc giao tranh lịch sử. Chế độ phong kiến cổ hủ bị gạt sang một bên nhưng vẫn còn đó. Chế độ thực dân – nửa phong kiến thay thế nhưng đầy bất lương. Trong cuộc giao tranh lịch sử này, họ là con nguời bơ vơ, dường như hết chỗ bíu. Họ còn là nhân vật của cuộc giao tranh văn hóa cũ và mới: văn hóa cổ truyền, phong kiến và văn hóa tân thời, thực dân. Trong cuộc giao tranh văn hóa cũ và mới này, họ là con người bế tắc, không lối thoát. Họ là con người, nhìn về tương lai có lối đáng đi, họ đi không nổi; có lối không đáng đi thì đúng là họ không thèm đi. Cho nên, rút cục, bơ vơ là thế, bế tắt là thế”.
Sự nghiệp văn chương
Thật vậy, khi nghiên cứu về đóng góp của một văn nghệ sĩ trong tiến trình văn học nước nhà, ta không thể tách rời tác phẩm của họ với hoàn cảnh lịch sử mà họ đang sống. Có như thế, ta mới hiểu sâu sắc những đóng góp lẫn hạn chế trong tác phẩm của họ mà có cách lý giải và đánh giá thỏa đáng. Trước đây, trong bài Kẻ sĩ, Nguyễn Công Trứ viết hào sảng lạ thường về thế đứng của một tầng lớp trí thức:
Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên
Có giang san thì sĩ đã có tên
Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý
Trong năm tước (theo giải thích của nhà giáo Dương Quảng Hàm “có năm bậc thượng đại phu khanh, hạ đại phu, thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ; còn nhà nghiên cứu Trương Chính cho rằng “là danh vị mà nhà vua phong cho các quan to hoặc những người có công lớn, gồm năm bậc: công, hầu, bá, tử, nam) thì sĩ vẫn được liệt vào trong. Trong dân có bốn hạng: sĩ, nông, công, thương thì sĩ đứng đầu. Hiểu một cách nôm na thì sĩ là người học trò, học đạo Nho để rồi gánh vác việc đời, nghĩa là ra làm quan. Ước mơ cháy bỏng của cả một đời người là sôi kinh nấu sử, để có ngày vinh quy bái tổ “ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau”, rồi sau đó:
Trong lang miếu ra tài lương đống,
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương.
Oai phong biết bao nhiêu! Lẫm liệt biết bao nhiêu! Trong “lang miếu” (nơi vua ngự tức cũng như triều đình) họ giúp vua, thay vua giải quyết những vấn đề quốc gia đại sự; không những thế, họ còn ra ngoài biên ải đem mũi can tương (gươm) dẹp giặc giả để yên dân, phò vua đặng báo quốc! Muốn vậy thì phải học, lều chõng để trở thành kẻ sĩ! Nhưng đến thời đại của Tú Xương, ông đã đau đớn đến tột cùng khi nhận ra bước đường tiến thân ấy đã thay đổi, xã hội đã thay đổi:
Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông Nghè, ông cống cũng nằm co.
Chi bằng đi học làm thầy phán,
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò!
Chính sự thay đổi ấy đã tác động dữ dội đến cuộc đời và hồn thơ của Tú Xương. Theo tôi, ông là nhà thơ trước nhất đã có ý thức cách tân thơ Việt Nam, chứ không hẳn đợi đến lúc Phan Khôi cho in bài thơ Tình già trên Phụ nữ tân văn số ra ngày 10/3/1932. Nói như thế, không phải ta phủ nhận sự đóng góp tích cực của Phan Khôi. Phải thừa nhận rằng, bài thơ Tình già được dư luận hồi ấy và bây giờ vẫn xem là một sự kiện quan trọng đánh dấu một “cuộc cách mạng về thi ca” (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam). Và “sở dĩ được truyền tụng trong đám thanh niên trí thức mà gây nên phong trào thơ mới là vì ý, không phải vì âm điệu. Người ta thấy một khi thơ thoát được những luật bó buộc và cân đối thì có thể diễn được nhiều ý hơn” (Vũ ngọc Phan – Nhà văn hiện đại). Đó là đóng góp lớn lao của Phan Khôi. Nhưng trước đó, Tú Xương dù sử dụng hình thức cũ với những bó buộc khắt khe, dùng thể loại thất ngôn với quy định “đề, thực, luận, kết” nghiêm chỉnh, nhưng ông đã ý thức vận dụng và chọn lọc lời ăn tiếng nói của thời đại ông đang sống nâng nó thành biểu cảm nghệ thuật để đưa vào thơ. Thậm chí ngay cả những tiện nghi vật chất phương Tây vừa du nhập vào xã hội Việt Nam cũng được ông nắm bắt một cách tài tình để vận dụng trong thơ.
Quả không ngoa khi nói thơ Tú Xương đã phản ánh hiện thực sâu sắc. Có thể ghi nhận, qua thơ Tú Xương chứng tỏ mình là người nhậy bén với thời sự, tiếp nhận thông tin một cách tài tình như… một nhà báo chuyên nghiệp! Để làm được điều đó, để những vần thơ ấy được công chúng đón nhận và chia sẻ, ông không đi theo đường mòn các thi nhân trước đã đi. Mà ông chọn lối đi mới là khai tử những hình thức ước lệ, những công thức sơ cứng, những quy phạm gò bó để phản ánh đúng thực trạng của xã hội Việt Nam thuở ấy. Trước ông, chưa có nhà thơ nào đã đem vào thơ những hình ảnh, những ngôn từ lạ lẫm, những tiếng nói dân dã đời thường như vậy. Chẳng hạn:
Hẩu lố, mét xì, đây thuộc cả,
Chẳng sang Tàu, cũng tếch sang Tây.
(Mai mà tớ hỏng)
Sơ khảo khoa này bác Cử Nhu,
Thực là vừa dốt lại vừa ngu.
Văn trường nào phải là đơn thuốc,
Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu!
(Ông cử Nhu)
Khách hỏi nhà ông đến
Nhà ông đã bán rồi
Vợ lăm le ở vú
Con tấp tểnh đi bồi
(Thăm bạn nghèo)
Những tiếng nói trong dân gian được nâng lên lên thành ngôn ngữ nghệ thuật là một biệt tài của Tú Xương. Hãy nghe Xuân Diệu bình một vài câu thơ của Tú Xương để ta thấy hết ma lực ngôn từ của một người từng tự trào “Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”: “Cũng là đả kích xã hội cũ, trong rất nhiều cây bút đả kích, ai đã đánh đến cái mức:
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.
Lọng cắm rợp trời, quan sứ đến,
Váy lê quét đất, mụ đầm ra.
Thơ đả kích thường làm theo lối chửi, mà chửi là đánh bằng lời nói, mà lời nói thì dễ gió bay. Tú Xương không chỉ đành lòng với thế, mà bám sát lấy đối tượng: thơ Tú Xương là một thứ a-xít đổ vào nó, cắn cho nó nát ra, cháy đi. Ngạn ngữ Âu Tây nói: “Cái lố bịch giết chết được người” (Le ridicule tue); thơ Tú Xương lố bịch hóa đến cao độ: câu trên cười mà thương cho “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ” để tương phản với câu dưới: các quan trường ậm ọe miệng thét loa, thét là oai phong lẫm lẫm, loa thì tiếng đưa đi rất xa, tiếng gì? Tiếng ậm ọe, đồng thanh với “dậm dọa”nhưng ậm là “ậm ừ”, ọe là “nôn ọe”, nói như là mửa, hách lắm, mà chẳng ai nghe rõ gì. Đến hai câu dưới, Tú Xương nấn rộng ra: váy lê quét đất; quan sứ đến, mụ đầm ra, cực nhục cho chúng ta biết bao nhiêu, chúng nó đến, chúng nó ra, đến cái kiểu, cái tuồng như thế. Tôi tự hỏi: trong tất cả các thơ đả kích, ai đã khắc họa đến mức:
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng.
Những bà đầm công sứ, bà đầm tòa án, bà đầm nhà đoan, bà đầm lục lộ, bà đầm chủ dây thép… những con mẹ “ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao” ấy ngồi bảnh chọe trên ghế, thỉnh thoảng muốn khoe sang, khoe cái oai vệ, lại ngoi đít vịt một cái, để thấy rằng ta đây ngồi đã thật nặng, thật vững. Chúng nó thỏa mãn. Trong khi đó, trong khi trên lễ đài cái đít đầm động đậy theo chiều ngang thì “dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng” cử chỉ theo chiều dọc, đội mũ cánh chuồn, ngẩng lên sụp xuống lạy tạ. Lạy ai? Lạy những cái đít đầm! Nhưng tựu trung, Tú Xương cũng trả thù ngầm cho các ông cữ bằng một chữ “ngỏng” (Các nhà thơ cổ điển Việt Nam – NXB Văn học tái bản năm 1987). Dù sống trong thời buổi:
Đạo học ngày nay đã chán rồi.
Mười người đi học, chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư luông nhấp nhỏm ngồi.
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi.
Biết thế, nhưng Tú Xương cũng không thể khác được, vẫn phải lều chõng với người ta. Vẫn phải “nở mặt nở mày” với thiên hạ. Nhưng than ôi! Trong cuộc đời ông có cả thẩy tám lần đi thi, nhưng cũng chỉ đậu tới… Tú tài! Không ít người cho rằng chính nhiều lần thi rớt, Tú Xương đâm ra cay cú, căm thù cuộc đời và phản ánh cay độc, sâu sắc qua thơ. Thiết nghĩ, điều đó chưa hẳn đúng, bởi đánh giá một con người – nhất là con người thi sĩ – trước hết phải ghi nhận bản lĩnh và thái độ sống của con người ấy. Chẳng hạn, với Nguyễn Khuyến dù thành đạt rực rỡ trên con đường khoa cử, ra làm quan lớn, được trọng dụng nhưng cụ vẫn không chấp nhận, thỏa hiệp với quyền lực của xã hội đương thời. Và Tú Xương, qua thơ của ông, ta cũng thấy rõ bản lĩnh và thái độ sống của ông. Không chỉ có một Tú Xương phản kháng, bất mãn khi những giá trị đích thực của văn hóa nước nhà bị đảo lộn,đến nỗi ông “Muốn bỏ văn chương, học võ biền” – mà còn có một Tú Xương ưu thời mẫn thế, trăn trở với vận mệnh của dân tộc, giàu lòng nhân ái, biết thương người túng quẫn, nghèo túng như mình. Ta có thể thấy được tấm lòng nhân hậu ấy qua các bài thơ trữ tình của ông như Sông lấp, Văn tế sống vợ, Thương vợ, Áo bông che đầu, Đi hát mất ô v.v… Đỉnh cao của vần thơ trữ tình này, theo tôi vẫn là bài thơ Sông lấp:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
Chính quá yêu bài lục bát trác tuyệt này mà mùa thu năm Mậu Dần (1998) cùng với nhà thơ, nhà biên kịch Đoàn Tuấn từ Hà Nội, chúng tôi đã đi xe hon-đa về thăm quê hương Tú Xương. Sau đây là những ghi chép thực địa: “Giữa trưa đứng bóng, nắng gắt, chúng tôi đã có mặt ở Thành Nam cảnh trí mà từ đầu thế kỷ XX những thi sĩ dân gian đã miêu tả:
Thành Nam cảnh trí an bài
Phố phường trên bộ, vạn chài dưới sông
Nhất thành là phố Cửa Đông Nhất lịch Hàng Lọng, Hàng Đồng, Hàng Thao
Hàng Giày đẹp khách yêu đào
Muốn tìm quốc sĩ thì vào Văn Nhân
Chúng tôi đã đến phố Hàng Nâu, sát Hàng Cót bên chợ Hoàng Vị để thăm ngôi nhà cũ của một nhà thơ lớn từng “Tự cười mình”:
Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành,
Mắt thời thao láo, mặt thời xanh.
Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó,
Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh.
Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ,
Rượu chè trai gái đủ tam khoanh.
Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi,
Cứ việc ăn chơi, chẳng học hành.
Nhà thơ Tú Xương, khi mất được an táng tại khu Cồn Vịt của làng Phụ Phong. Đây là đất xưa của Nam Định, thời đó chỉ là cánh đồng hoang, đất cao như cồn mà dân chúng dùng làm nghĩa trang. Rồi mãi sau này mới rước hài cốt về công viên Vị Xuyên. Tôi đọc quyển Thành Nam xưa của Vũ Ngọc Lý (Sở Văn hóa Thông tin Nam Định – 1997) thì được biết: Đến năm 1865 làng Vị Hoàng đổi thành làng Vị Xuyên. Lý do là khi cụ Trần Bích San thi trúng Tam nguyên vàochầu vua. Vua Tự Đức hỏi quê quán, cụ thưa người làng Vị Hoàng. Hoàng là ông tổ họ Nguyễn. Kiêng tên húy, vua Tự Đức cho đỗi Hoàng thành Xuyên. Từ đó, dân quen gọi đất ấy là làng Vị Xuyên. Đây là tên làng của Tú Xương – mà trong đất Vị Hoàng, ông viết:
Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sông
Năm 1883, Nam Định mất vào tay giặc Pháp. Năm 1913, Pháp lấy đất ở Hậu Đồng lấp một đoạn sông Vị ở phố Hàng Nâu, Hàng Mâm, Hàng Son. Đến năm 1956, nó mới được đào lại và ngày nay xây dựng thành công viên Vị Xuyên. Ngôi mộ của nhà Tú Xương hiện nay được xây dựng khang trang, nằm sát bên bờ sông gió thổi lồng lộng. Ngay trên mồ bằng đá có khắc tên tuổi nhà thơ lớn của dân tộc. Tôi và nhà thơ Đoàn Tuấn đọc rõ là Trần Tế Xương. Tuy nhiên gần đây nhiều người vẫn cho rằng, Trần Kế Xương mới đúng là tên thật của ông. “Kế” có nghĩa là “tiếp nối” và “xương” có nghĩa là thịnh vượng. Vậy “kế xương” có nghĩa là tiếp nối sự thịnh vượng. Còn “tế” có nghĩa là “cúng bái” (tế lễ), là nhỏ bé (tế bào, tế nhị), là cứu giúp (tế bần), là giao thiệp (tế giao)… Vậy “tế” đi với “xương” – là thịnh vượng – thì không hợp lý chăng? Vậy “tế” hay “kế”? Rất tiếc, chúng tôi không gặp được người xây bia mộ này để hỏi thêm cho rành rẽ. Có lẽ khi chọn chữ “tế” là người ta căn cứ vào một câu thơ của Tú Xương chăng? Bởi trong bài Thi hỏng khoa Quý Mão (1903), ông cáu tiết:
“Tế” đổi làm “Cao” sao chó thế,
“Kiện” trông ra “Tiệp” hỡi trời ôi!
Trong trưa nắng, thắp nén nhang lên mộ Tú Xương với tất cả lòng thành kính, bỗng nghe đâu đó trong gió vọng đến những câu thơ trong Vị Hoàng hoài cổ của ông:
Nô nức qua chơi đất Vị Hoàng,
Nơi này phong vận, đất nhiều quan.
Trời kia xuôi khiến sông nên bãi,
Ai khéo xoay ra phố cả làng.
Âm hưởng câu thơ buồn man mác ấy đã đưa chúng tôi quay về ngôi nhà mà thuở sinh thời ông đã sống. Ông chào đời tại ngôi nhà số 247 Hàng Nâu. Ngôi nhà này, ông nội Tú Xương là Trần Duy Năng đã để lại cho bố Tú Xương là Trần Duy Nhuận:
Nhà gỗ năm gian lợp lá sồi,
Trông dòng sông Vị, tựa non Côi.
Năm 1894, Tú Xương thi đậu Tú tài thì ngôi nhà bị cháy, về sau do làm ăn thua lỗ nên mẹ của ông đã đem cầm cố cho mụ Hai An – tay chuyên cho vay nặng lãi ở phố Khách. Lãi mẹ đẻ lãi con, cuối cùng không trả được nợ nên bị người ta xiết nhà. Sau khi “Nhà cửa giao canh nợ phải bồi” thì bố ông và các em ông phải ở nhờ nhà ông Trần Đăng Chu ở làng Đệ Tứ, còn vợ chồng ông thì dọn về nhà số 280 phố Hàng Nâu (nay là phố Nguyễn Thị Minh Khai). Đây là nhà của bà Hai Sửu – mẹ vợ nhà thơ Tú Xương – chia cho con gái là Phạm Thị Mẫn. Chính từ ngôi nhà này, thuở sinh thời ông tự cười mình:
Tiền bạc phó cho con mụ kiếm,
Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi.
Còn dăm ba chữ nhồi trong ruột,
Khéo khéo không mà nó lại rơi.
Hiện nay, chủ nhân ngôi nhà này là chị Thái – công nhân nhà máy dệt Nam Định. Chị kể:
– Gia đình chồng tôi mua lại ngôi nhà này từ năm 1952. Căn phòng dài 10 mét này, trước kia là cái sân của cụ Tú trồng cây cảnh, chúng tôi mới xây lên vài năm gần đây thôi. Hồi tôi mới về làm dâu thì sân này nhiều cây, nền thấp, hễ một cơn mưa là ngập.
Vậy đó, bây giờ đã là một căn phòng khang trang mọc lên. Bước ra phía sau thì mới đúng là căn nhà mà Tú Xương đã ở. Tất cả còn nguyên vẹn. Chị Thái nói tiếp:
– Nghe nói đây là di tích của nhà thơ Tú Xương nên chúng tôi tự ý thức giữ gìn, không sửa chửa thêm bớt gì cả, dù chẳng có ai ràng buộc phải giữ nguyên trạng ngôi nhà của cụ Tú.
Khoảng cách giữa căn phòng mới xây – nguyên là sân trồng cây – với nhà cũ của Tú Xương cũng là một sân dài độ ba mét. Từ dưới sân nhìn lên ngôi nhà, chúng tôi thấy một căn gác gỗ. Mặt tiền của căn gác được đóng cả thảy 15 tấm gỗ. Phía trên lợp ngói âm dương với những mảng rêu xám xịt. Từ căn gác ấy có cánh cửa nhỏ mở ra để ngắm nhìn trời xanh. Bao nhiêu bài thơ tuyệt vời trong thi ca Việt Nam hiện đại đã được Tú Xương viết từ căn gác chỉ có bề ngang ba mét? Bước vào trong nhà, chúng tôi đếm có được sáu cây cột gỗ và có lối đi lên gác, nhưng chị Thái bảo:
– Đừng lên. Gác xập xệ lắm rồi.
Căn nhà cũ của Tú Xương nay là phòng ngủ, phòng học của cháu gái mười bốn, mười lăm tuổi – con chị Thái. Gương mặt của cháu rạng rỡ khi biết chúng tôi đến thăm quan vì đây là nơi Tú Xương từng cư ngụ. Trong ánh mắt cháu sáng lên một niềm vui, một niềm tự hào khó tả. Hiện nay phố Hàng Nâu đã được đổi tên phố Nguyễn Thị Minh Khai. Ngồi trong nhà chị Thái, nhìn ra đường, tôi thấy vẫn còn đó nhiều cây nhãn mọc hai bên đường. Đường lộ đắp cao, sạch sẽ. Con đường này lần đầu tiên chúng tôi đến, nhưng cảm thấy thân quen tự thuở nào. Bởi lẽ danh tiếng của một nhà thơ đủ sức hấp dẫn, quyến rũ những người du lịch. Không riêng gì chúng tôi mà nhiều người khi đến Nam Định, vì yêu mến nhà thơ mà tìm đến nơi này.
Tôi sực nhớ đến đoạn văn mà nhà văn Nguyễn Tuân đã viết sau khi đến thăm ngôi nhà cũ của Tú Xương:
Hàng Nâu là một cái phố cũ, nhiều nhà gác, cửa kiểu mắt cáo, cái nhô ra cái lùi vào như hàng răng khểnh của một cô gái không đẹp nhưng rất có duyên. Phố có nhiều kiểu nhà theo lối kiến trúc cổ, trông dễ bồn chồn vướng vít. Khi còn con sông Vị ở ngay sau lưng phố, thuyền phố Nâu vào sát phố Minh Khai này, những cái cót nâu, bịch nâu lù lù trên bến và trong nhà. Nhưng dáng người tung nâu từ mạn thuyền tung lên, những tiếng đếm nâu, đếm từng củ một, nó không như tung gạch cặp díp đếm từng đôi một. Đúng với cái tên nâu sồng của nó, phố Hàng Nâu xưa là một cái phố lam lũ của người lao động chân tay. Nó cũng là cái phố của những nhà nho thanh bạch… Phố Hàng Nâu cứ tan chợ chiều là thấy diễn ra những quang gánh, thúng mẹt của những người bán tôm tép râu quả nhì nhằng. Nó là một cái phố ngoại ô, cái phố bìa bao tỉnh, giống như xóm nghèo vẹo bắn ra ở tận chân lũy tre làng. Nó rất đúng với cảnh trong thơ Tú Xương:
Trời kia khiến vậy sông nên bãi,
Ai khéo xoay ra phố cả làng…
Chao ơi! Đoạn văn của nhà văn bậc thầy Nguyễn Tuân lại càng làm tôi lưu luyến khi sắp sửa phải rời chân khỏi phố này. Và trong tôi, trong những giây phút tĩnh lặng đã xúc động tột cùng Tưởng nhớ Tú Xương – khi bâng khuâng nhớ đến câu thơ “Sông kia rày đã nên đồng” lẩn khuất đâu đó trong tiếng gọi đò da diết… Về cuộc đời riêng, năm 17 tuổi, Tú Xương bắt đầu lều chõng, trước đó một năm, gia đình đã cưới vợ cho ông – bà Phạm Thị Mẫn, người Hải Dương, sau lập nghiệp ở Nam Định. Hãy nghe ông mô tả về bà Tú với những nét hài hước:
Mặt nhẵn nhụi, tay chân trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn;
Người ung dung, tính hạnh khoan hòa, chỉ một nỗi hay gàn hay dở.
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười;
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào đơi nói thợ.
Hôn nhân
Những năm tháng làm vợ của một nhà nho bất đắc chí, một nhà thơ tài hoa đã đi qua cuộc đời bà Mẫn với nhiều sóng gió. Bởi vậy, ông mới có bài Văn tế sống vợ để “làm lành” với những câu giễu cợt “Duyên trăm năm ông nguyệt xe tơ, kiếp này đã lỡ”. Thực ra Tú Xương là người thương vợ và thủy chung rất mực. Lúc ấy, bà Tú một mình gánh vác lo toan nuôi 6 con trai, 2 con gái và nuôi… chồng! Tú Xương tự trào mình sướng như quan, nhưng “Hỏi ai quan ấy ăn lương vợ”!
Với tình yêu thủy chung lẫn tài năng, Tú Xương đã tạc chân dung bà Phạm Thị Mẫn vào nền thi ca Việt Nam bằng tuyệt bút “Thương vợ”:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nắng âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!
Cuối đời
Tú Xương mất ngày rằm tháng chạp năm Bính Ngọ (29/1/1907) thọ 37 xuân. Cái chết của ông thật khó ngờ: Hôm ấy ở quê ngoại ở làng Đệ Tứ, huyện Mỹ Lộc có giỗ, trời tiết lạnh, lất phất mưa, từ Nam Định, ông lội bộ về quê. Đến nơi, sau khi uống chén rượu cho ấm bụng, lấy cớ mệt, ông vào nhà trong ngả lưng đợi đến giờ cúng. Không ngờ, khi mọi việc xong, mọi người vào gọi dậy thì than ôi ông đã quy tiên tự bao giờ rồi!
Không cần sống nhiều, chỉ tồn tại trên trần gian này 37 năm, nhưng Tú Xương lại thọ, rất thọ nữa là khác. Trong thế kỷ XX, trên trường văn trận bút có nhiều người cũng bắt đầu sự nghiệp văn học cũng bằng chữ “Tú” của Tú Xương. Có lẽ, ông là người có nhiều “môn đệ” nhất: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Poanh, Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Xơn (Tout seul: chỉ có một mình – Phan Khôi), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Khờ, Tú Da… rồi Tú Kếu (Trần Đức Uyển), Tú Rua (Trần Ngọc Bảo)… cũng tiếp bước đi theo con đường nghệ thuật của ông.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ.