Bộ thứ 2: Cấn chỉ. Thượng đẳng, dương thần.
Bản chính ở từ đường quan Thượng thư Bộ Lễ triều ta.
Xưa nước Việt ta, Nam bang dựng nước phân cương vực theo sao Dực sao Chẩn; Bắc quốc mới phân phong, địa phận thẳng thẳng theo hướng sao Đầu sao Ngưu. Từ thời Hồng Bàng, Lạc Long Quân lấy tiên nữ Động Đình là Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai, đều là những bậc anh hùng tư chất hơn người, tài năng xuất chúng, không cần bú mớm mà tự lớn dần. Tới khi trưởng thành, đều thông minh hơn đời.
Bấy giờ Lạc Long Quân cai quản thủy phủ đã lâu, nhân đó mới bảo Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, tuy khí âm dương kết hợp mà sinh con nhưng giống loại [16] bất đồng, thủy hỏa tương khắc, ta chia năm mươi con theo cha về biển cai trị sông ngòi, năm mươi con theo mẹ lên rừng, chia nước mà cai quản rừng núi, xảy ra việc gì thì giúp lẫn nhau không hại lẫn nhau.
Âu Cơ cũng cho là như vậy, trăm người con trai cũng nghe lời. Long Quân bèn cùng năm mươi con từ biệt quay về thủy phủ, Âu Cơ đem năm mươi con trở về thành Phong Châu (nay là vùng đất Bạch Hạc Việt Trì- NC), lập quốc hiệu là Văn Lang, cử người tài giỏi làm vua, gọi là Hùng Vương, chia đất nước thành mười lăm bộ, ra lệnh cho các em mỗi người chiếm cứ một phương, cùng làm thần thuộc. Từ đó về sau, mười tám đời kế tiếp nhau hơn hai nghìn năm thịnh trị, đời đời cha truyền con nối, quốc hiệu đều xưng là Hùng Vương. Ngọc bạch xa thư1, non sông một mối, đó chính là tổ tiên của Bách Việt vậy. Về sau Nho tiên sinh Trần Liên Tử có thơ ca ngợi rằng [22]:
Hùng Vương sáng nghiệp tối du trường,
Nhất thống sơn hà thập bát vương.
Nghĩa Lĩnh hùng sơn tồn tích tại,
Lưu truyền hương hỏa vĩnh vô cương.
(Vua Hùng mở nghiệp lâu dài nhất,
Thống nhất sơn hà mười tám đời vua.
Núi hùng Nghĩa Lĩnh2 dấu tích còn đó,
Lưu truyền hương hỏa mãi vô cùng).
Lại nói về mười tám đời Hùng Vương truyền đến Duệ Vương không có người nối dõi bèn nhường nước cho Thục An Dương Vương. Dương Vương cai trị đất nước mới được 50 năm thì có người Chân Định họ Triệu tên Đà cất bình xâm chiếm nên nhà Thục tiêu vong. Triệu Đà có được đất nước, năm đời làm vương. Từ đó nước Việt ta thuộc về Hán. Đến đời vua Quang Vũ thời Đông Hán (năm 25-40 SCN), lấy Tô Định làm Thái thú Giao Châu (tức nước Văn Lang-NC). Định là người tham tàn bạo ngược, xâm chiếm Trung nguyên, khiến cho nhân dân lầm than cơ cực, không nơi nương tựa. Bấy giờ có nữ tướng quân họ Trưng tên Trắc người ở trang Phấn Dã huyện Chu Diên phủ Tam Đới đạo Sơn Tây là cháu ngoại của Hùng Vương, có chồng là Thi Sách bị Tô Định giết chết, [26] họ Trưng nổi giận bèn cùng người em gái là Trưng Nhị cất binh khởi nghĩa ở sông Hát Môn. Nhưng lúc bấy giờ, nam nhi thao lược, nữ tướng anh tài còn chưa tập hợp được nên tích trữ binh lương đợi chờ thời cơ mới phát tín hiệu. Có vua ấy ắt có thần ấy, rồng bay ở đầm, không có ý gọi mây mà mây ùn ùn kéo tới.
Lúc bấy giờ, ở trang Nông Cống, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên châu Ái nước Việt ta có một gia đình có học hành, xử thể hiểu thuận, người trụ cột gia đình họ Đào tên Minh, lấy vợ là Trần Thị Tố người cùng làng. Gia thế họ Đào vốn làm việc nhân tích đức, thường trợ giúp người nghèo hèn, không mảy may hại người, chẳng có ý tơ hào lợi mình, nhân dân cả vùng đều ca ngợi là bậc chí hiểu. Bấy giờ Đào công đã qua tuổi 60, Trần thị cũng ngoài 50 mà [3a] điềm lành “ngõa chương”3 vẫn chưa thấy nên thường sầu muộn không vui. Một hôm gặp đúng ngày giỗ của tiên tổ, hai vợ chồng than thở với nhau rằng:
– Người đời có 30 điều thì không có con nối dõi là điều bất hiếu lớn nhất. Ta năm nay tuổi đã cao, mà đường con cái vẫn muộn màng. Ví thử một sớm nào đó chết đi thì phần mộ tổ tiên biết cậy nhờ ai trông nom. Chẳng gì bằng tới một ngôi chùa linh thiêng để cầu xin đứa con nối dõi. Lòng người yên định, trời hằn giúp cho.
Nghe tin chùa Linh Quang ở núi An Tuy hết sức linh ứng, cầu được ước thấy, một lòng nguyện theo. Ngay hôm đó, vợ chồng đem tiền hương cúng lễ, khẩn rằng:
Chúng thần được giáng xuống nơi trần thế, của cải không thiếu thốn, chỉ hiểm nỗi chẳng có con, nguyện xin Phật từ bi chiếu giám tấc lòng thành mà ban phúc, để vợ chồng thần được chở che, muôn nhờ chư Phật chứng minh cho đức lớn.
Khấn xong, vợ chồng [3b] cùng nằm trước án, mơ màng thiếp đi. Bỗng nằm mộng thấy trong chùa sương báu rạng rỡ, khói hương ngạt ngào, rồi thấy một vị thần cùng một người mặc áo xanh, hai tay ôm một đứa trẻ đứng ở trước cửa, gọi vợ chồng ông mà bảo rằng:
– Gia đình ngươi làm việc thiện, âm đức trời đã tỏ, nay lệnh cho ta ban cho ngươi một tiên đồng, ngày sau ắt có thể làm hiển vinh dòng tộc, nổi danh thiên hạ. Sớm hay muộn thì cũng có số định, có chỉ phải phiền não!
Nói xong, trao đứa trẻ cho Trần thị. Trần thị ôm lấy đứa trẻ, đương lúc còn đang trong giấc mộng chưa kịp bái tạ bỗng nghe trên trời một tiếng sét đánh ầm vang, tự nhiên tỉnh giấc, biết là mộng lành. Hôm sau vợ chồng bèn dâng lễ bái tạ rồi ra về. Từ đó Trần thị có mang, từ lúc bắt đầu mang thai thường nghe từ trên không trung có người đọc thơ rằng [4a]:
Thiên tài đã định hứa Đào gia,
Vạn cổ danh phương đối hải hà,
Nhất trận táo thanh trừ nghịch tặc,
Ức niên hưởng lộc mộc ân ba.(Thiên tài đã định giúp họ Đào,
Vạn cổ tiếng thơm sánh hải hà.
Một trận quét xong trừ nghịch tặc,
Ức niên hưởng lộc gội ơn dày).
Lại nói về việc huyện Lương Giang mấy năm bị đói kém mất mùa, nhân dân đói khát cơ cực, lại thêm chuyện binh biển loạn lạc, hai vợ chồng họ Đào nói rằng:
– Đã nghèo như vậy lại gặp buổi loạn ly, biết lấy gì để lo sự sống còn. Chẳng bằng tìm đến một nơi đất lành mà giữ thân thì hơn.
Hai vợ chồng bèn gói ghém gia tài, dong thuyền ra đi, vượt bao sông núi, trải bao bộ hành cuối cùng đến trang Cối Giang huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc. Thấy dân nơi đây có một ngôi chùa nhỏ rất cổ gọi là Am Công, vợ chồng họ Đào bèn có lời với người dân xin được lưu lại trông nom chùa. Người dân chấp thuận và từ đó vợ chồng ở lại chùa, ngày thì hương hoa tiến cúng, đêm thì tụng [45] niệm chân kinh. Được chừng mười tháng thì Trần thị sinh hạ được một người con trai (sinh vào giờ Thân ngày 15 tháng 3-NC).
Cậu bé tướng mạo khôi ngô tuấn tú, quả có chút dáng dấp của các tiên đồng, thân thể khỏe mạnh khác thường, thật đúng như lời thần đã phán, vì thế cha mẹ hết sức yêu quý và đặt tên là Kỳ. Năm Kỷ lên 5 tuổi, cha mẹ cho theo học Hiên Đường tiên sinh, được vài năm mà văn chương đã thông tỏ, trí tuệ hơn người, võ nghệ tỉnh thông, tài năng xuất chúng. Lúc còn đi học, Kỳ thường nói với bạn bè rằng:
– Kẻ làm con thì nên giống như các bậc thánh hiền xưa, không tạo lập được công danh thi nên da ngựa bọc thây nơi chiến trường xa xôi, đó mới là chỉ khí đại trượng phu.
Nói xong bèn ngâm bài thơ rằng:
Nhĩ mục tu mi thiên phú vị,
Công danh sự nghiệp chính đương kỳ,
[50] Vì nhân tử giả đương như thị,
Phú tắc sa trường cách lõa thi.(Tai mắt râu mày trời ban cho,
Sự nghiệp công danh chính là lúc này đây.
Phận kẻ làm con nên như vậy,
Lẽ nào không ở sa trường ngựa bọc thây).
Bấy giờ Hiên đường tiên sinh nghe thấy thế liền bảo:
– Con người này, nhà nào có phúc mới sinh được trang nam tửnhư vậy. Ngày nào đó văn võ kiêm tài ắt sẽ thành người con tốt.
Lại nói tới khi ông 15 tuổi, than ôi sự biến chẳng ai liệu trước, họa vô đơn chí trong vòng một năm mà cha mẹ lần lượt qua đời. Ông thảm thiết kêu trời nhưng chẳng thể làm khác đành chọn nơi đất tốt mai táng mẹ cha, hương khói phụng thờ đúng như nghỉ lễ, thường gạt lệ mà nói rằng:
Cha mẹ đã sinh thành, chăm sóc ta, nuôi dưỡng ta, công lao cha mẹ tựa núi cao biển sâu, không thể kể hết. Nay tình cảnh thế này, chưa có chút gì để báo đáp, sau này dẫu có ngàn chuông muôn ngựa thì cũng đâu còn được nhìn thấy mẹ cha để đền đáp.
Ba năm để tang đã hết, [56] ông rảnh rang thực hiện chỉ lớn. Một hôm nghe chị em họ Trưng khởi binh ở đạo Sơn Tây, ngay hôm đó Kỳ công đốc suất gia nhân cùng hơn trăm người tới thẳng Hát Môn4 yết kiến chị em họ Trưng. Họ Trưng nhìn thấy người này tướng mạo đường hoàng, dáng vẻ ung dung, khí giới tinh nhuệ, kiếm kích chập chùng thì vô cùng mừng rỡ nói:
– Trời đã vì vua của ta mà sinh ra bậc hiền tài phò tá, mà sao gặp nhau lại muộn vậy.
Ngày hôm đó liền phong Kỳ công làm Đại nguyên soái thống lãnh tướng binh lập tức chỉ huy hai đạo quân thùy, bộ. Việc xong, họ Trưng cùng các tướng làm lễ cầu khẩn trời đất bách thần núi sông, tinh tú, khẩn rằng:
Thiếp phận nữ lưu, đau xót cảnh dân đen cơ cực, vì có một người Bắc quốc tên là Tô Định, thái độ hống hách, chính sách bạo tàn. Thiếp là con cháu dòng dõi vua Hùng, lẽ nào có thể ngồi yên, vì thể bên khởi binh [6a] diệt trừ giặc ác. Nguyện xin trời đất bách thần phù hộ cho chúng thiếp để chúng thiếp khôi phục cơ đồ xưa, tế tự sánh với trời, thảy đều nhờ vào đức lớn của đất trời trợ giúp.
Khấn xong chia quân cùng tiến thẳng vào thành của Tô Định đánh một trận quyết chiến. Quân Tô Định thua to, bỏ chạy về bản quốc, dư đảng cũng bị diệt sạch. Hơn 60 thành dựng bên ngoài núi Lĩnh lại được trở về đất của Nam bang. Họ Trưng tự lập làm vua, phong em Trưng Nhị làm Bình Khấu Công chúa. Còn lại các tướng tá nam nữ tùy cấp độ đều được ban tước phong ấp. Cho Kỳ công làm Huyện doân Đông Ngàn5. Kỳ công phụng mệnh tới phủ huyện nhậm chức. Cả một huyện nơi nào dân cư phồn thịnh đều dựng hành dinh tiếp đón. Ông thường trở về trang Cối Giang, khuyến khích nhân dân việc nông tang, làm cho mọi thứ trở nên thuận tiện, loại bỏ điều hại, dùng nhân nghĩa cố kết lòng dân, đem [66] hòa mục đúc thành mỹ tục, có công rất lớn đối với dân. Nhân dân, phụ lão ai nấy đều kính trọng ông.
Lại nói giặc Hán, ba năm sau cử các tướng Mã Viện, Lưu Long đem ba mươi vạn hùng bình sang đánh nước ta. Trưng Vương trước bài vị xin thề rửa nhục. Quân sĩ hô vang chấn động. [Giặc] tiến tới thành Lạng Sơn, Trưng Vương bèn truyền cho các tướng thảy đều hồi triều, bàn kế đánh giặc. Kỳ công bèn mở yến tiệc lớn mời các bậc phụ lão, nhân dân, nói rằng:
– Ta với nhân dân nghĩa tình lâu bền, lẽ nào một ngày có thể quên được. Nay ta có một đám đất giáp với ranh giới đất của người dân, sau này khi ta trăm tuổi thì hãy viết tên hiệu, lập miếu cho ta tại hành cung cũ để thờ phụng. Các bậc phụ lão nên nghe theo lời ta, chớ có di dời đi chỗ khác.
Nhân dân đều củi lạy tuân theo. Sau đó [7a] ông liền đem gia thần, binh sĩ kéo thẳng về triều. Trưng Vương cùng các tướng đem quân tới Lạng Sơn để chống cự quân giặc, hơn một năm mà không phân thắng bại. Trưng Vương và các tướng lui về giữ Cẩm Khê. Phía trước không thể nhờ cậy, phía sau chẳng nguồn tiếp lương. Quân Hán ồ ạt kéo tới bao vây. Trung Vương cùng các tướng rời thành đánh một trận lớn và đều bị chết hết. Than ôi, cơ đồ họ Trung đã thành ra một giấc mộng xuân.
Lại nói về lúc bấy giờ Kỷ công bị bao vây kín, một mình đơn đao độc ngựa, lúc đánh lúc lui, cuối cùng bị tướng Hán là Mã Viện phóng thương chém ngay trên mình ngựa. Bấy giờ (ngày mười lăm tháng Tám) trời đất bỗng nhiên tối sầm, giữa ban ngày mà như ban đêm. Kỳ công nhân lúc đó liền lấy hai tay nhấc đầu mình lên ngựa, chạy về tới Cổ Lũy thì trời đã sáng. Tầm ba, bốn khắc (giờ) ông gặp một bà lão [76] liền hỏi rằng:
– Xưa nay từng có chuyện không có đầu mà sống được không?
Lão bà đáp:
– Con người ta sống được thì thân thể phải toàn vẹn, chưa từng nghe có chuyện không đầu mà sống được.
Ông nghe xong liền ngã lăn ra đất, con ngựa cũng tự hóa. Trong chốc lát, giun dế côn trùng trong đất đã đùn thành một gò lớn.
Lại nói từ sau khi ông hóa, nhân dân trang Cối Giang thường bị bệnh tật, súc vật cũng không yên. Nhân dân dựa vào quẻ bói rồi lập tức dụng miếu thờ ở hành cung cũ, viết tên hiệu thần ở cung sở là Đào tướng quân để thờ phụng.
Trải đến Sĩ Vương [Sĩ Nhiếp] khi làm Thứ sử Giao Châu, thấy doanh cũ của họ Trưng, cảm khái nghĩ rằng trong đám nữ lưu chẳng ai tài giỏi bằng, bèn cho lập miếu thờ ở cửa sông Hát Giang để phụng thờ. Còn các tướng tá công thần thảy đều được gia phong mỹ tự Thượng đằng phúc thần; phong mỹ tự cho Kỳ công là Đào tướng quân Dũng lược Tế [83] thể Đại vương. Cho phép nhân dân trang Cối Giang được đón sắc phong, trùng tu miều điện để thờ phụng.
Từ đó về sau, Đinh, Lê, Lý, Trần bốn đời khai sáng cơ đồ, thần đều giúp nước cứu dân, xin nắng cầu mưa đều rất linh ứng. Cho nên trải các đời vua đều gia phong mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, bốn mùa được hương hỏa thờ phụng, mãi tới vô cùng, tốt lành mãi cùng đất nước, mãi là phép thường, công đức tốt đẹp thay.
Phong Đào tướng quân Dũng lược Tế thể Đại vương. Sinh ngày 15 tháng 3. Hóa ngày 15 tháng 8.
Chú thích:
- Ngọc bạch xa thư. Ý nói cùng chung văn hóa phong tục.
- Nghĩa Lĩnh: Núi Nghĩa Lĩnh nay thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Tương truyền các vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này.
- Ngõa chương: Đẻ con gái cho chơi ngôi, đẻ con trai cho chơi ngọc chương. Ý nói việc sinh con cái
- Hát Môn: Nay thuộc địa bàn xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
- Đông Ngàn: Nay là một phường thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Nguồn: “Trưng Vương Công thần nhất vị Đại vương phả lục”, ký hiệu AEa2/16, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.