Công chúa họ Lý, chị là Phúc, em là Lộc, người Long Hưng Thái Bình. Tổ tiên là người phương Bắc, tên gọi Lý Hành. Cuối thời Đông Hán, thiên hạ đại loạn, khổ vì nạn binh đao, ông đã dắt díu vợ con đi lánh nạn tại đất Nam. Ông có tài thao lược, lại cần mẫn với ruộng đồng, cả đến những người giàu mạnh ở đó cũng phải suy tôn thán phục. Từ ông Lý Hành đến Lý Thanh gồm 8 đời, đã quen với phong tục phương Nam. Đến năm Tống Nguyên Gia (424 – 453) Lý Thanh dẫn họ tộc hơn 3000 người theo Thứ sử Thiện Hòa dẹp giặc Lâm Ấp, có công được nhà Tống ban thường được đời đời kế tục làm thổ tù. Cháu tằng tôn của Lý Thanh là Lý Cạnh sinh con là Lý Bí.
Bí thiên tư kỳ vĩ, văn võ toàn tài, tỏ ra có khí tiết của bậc đế vương. Bấy giờ Thứ sử Vũ Lâm hầu Tiêu Tư tàn bạo, đa phần mất lòng, [136] dân chúng oán hận. Lý Bí ngầm cớ lấy chí tế thế an dân, bèn lui về Thái Bình khởi nghĩa. Chỉ trong mấy tuần ông đã chiêu mộ được không kể bao ức vạn quân. Từ đấy thư từ giao chiến qua lại và cùng đại chiến với Tiêu Tư, lấy được thiên hạ, tự xưng Nam Việt Vương đặt hiệu Thiên Đức đặt tên nước là Vạn Xuân.
Bấy giờ đế phi hoàng hậu 38 tuổi, đêm bà nằm mơ thấy có 2 nàng tố nga chèo thuyền rồng từ sông Cửu Đức lên, rồi đột nhập hậu cung. Bà quả nhiên mang thai. Được 15 tháng bà sinh được hai cô con gái mày ngài mắt phượng, mặt hoa da phấn, tóc mượt như mây. Bà đặt tên cô chị là Vạn Phúc, cô em là Vạn Lộc. Khi lớn lên các cô thích cảnh suối rừng, thích chơi sóng gió, thường bơi thuyền ngắm cảnh trên biển cả sông dài. Vua và hoàng hậu mỗi lần ra lệnh cấm thì nét buồn rầu tiều tụy, khổ sở [Các cô thưa với cha mẹ rằng]:
Trong nháy mắt tuổi thanh xuân chuyển đổi, trăm năm bỗng như bay, sao đủ để gánh nỗi lo phiền của thánh. [14a] Chúng con nguyện cưỡi gió đạp sóng, chém cá kình trên biển cả, cứu vớt dân sinh trong nước lửa. Không như vậy thì tấm thân nham thạch, khí tiết bách tùng há lại bắt chước người đời cúi đầu khom lưng làm tỳ thiếp, cam tâm phục dịch việc nhà hay sao?
Vua và hoàng hậu từ đó phải chấp thuận sở hiếu của các nàng.
Sau đó nhân có người bơi thuyền trên sông Tô bèn chèo thuyền đi theo sau, dừng chèo bên chân một núi đá nhỏ, bỗng nghe kể ở dưới núi có con cáo trắng. Con cáo có 9 đuôi, có phép biến hóa thần thông, làm cho cả người, cả vật kinh sợ đã từ lâu. Hai công chúa thầm nói với nhau rằng:
Đức độ mà không thắng được yêu quái thì còn gọi gì là đức nữa. Nhưng con cáo sống hơn 1000 năm, vốn được trời phú cho thành tỉnh, nếu không phải con trời giống tiên thì làm sao có thể trừ được nó.
Hai nàng lập tức quay thuyền về đi tìm học phép thuật. Thuyền đến sông Nguyệt Đức bỗng thấy một cô gái mặt rồng mũi hổ, đầu báo hàm yến, tay dài quá gối, tiếng vọng như chuông, thân dài chín thước, vú dài 8 thốn, [146] eo rộng 10 vòng, có sức đi mỗi ngày nghìn dặm, có thể lùa gió đồ sông, như thần đứng bên bờ đông. Hai công chúa nhìn, lấy làm lạ bèn đến hỏi họ tên, bảo hãy trình bày cho tỏ ngọn ngành, may chăng sẽ được thánh ban ơn. Cô gái nói:
Tôi Giác Hải bà vương, sớm sinh ra đã theo đạo phép chẳng phải người thường, có khả năng sai khiến. Nghe nói hai nàng có chítrừ khử yêu quái, cho nên đến để gặp mặt, muốn đem sức nhỏ bé này giúp buổi thanh bình. Vạn nhất, nếu được hai công chúa cho đây đích thực là vị phong đạo cốt thì hãy mời lên thuyền cùng về.
Về đến cung, vua nói:
Nhỡ chí của cáo cũng như vậy thì sao?
Người con gái vào yết kiến nhà vua, vua hỏi:
Con quái đó quấy nhiễu một vùng vốn không phải là một ngày vậy nhà người có phép thuật thông minh gì mà dám chống chọi.
Người con gái thưa:
– Thiếp sinh ra sức dài vai rộng, hùa theo [15a] cỏ cây, sớm dong biển cả, tối ở suối rừng, ăn sương móc, làm bạn với sóng. Nay được chúa nói về việc yêu quái cũng xin muốn được lưu danh hậu thế, hưởng tế nghìn thu. Thiếp chỉ có tâm nguyện như thế thôi.
Vua bảo:
Nhiều năm nay, sớm muộn trẫm cũng không được yên, ngươi có thể gọi mưa gọi gió để may chăng giải được uất chướng của thần dân.
Nói chưa dứt, trời bỗng tối sầm gió cát bụi mù, sấm động ầm vang, rồi gió mưa như trút, triều đình nhìn nhau thất sắc. Vua vui vẻ cười và nói:
– Cho dù biết là thần, nhưng việc xong mới có thể tin được. Nay ta muốn xé tan mây mù, triệt trừ sấm gió có được chăng?
Nàng thưa:
Được.
Lập tức mây tan trời lặng, hửng sáng rực rỡ. Nhà vua càng lấy làm lạ, bèn sai thợ dựng một lầu ở bên trái điện, đặt tên Vạn Thọ công chúa. Lại truyền cho hai con ngày đêm ở đó. Mới được khoảng sáu tháng thì cáo lại hoành hành. Một hôm vua xuống lầu hỏi:
– Việc ở núi đá các ngươi định đoạt ra sao?
Nhìn ra cả một vùng khốc liệt, cô gái liền nói:
– Thiếp đã lâu được ơn hoàng thượng mà chưa chút báo đền. Đến lúc thiên thời địa lợi cũng chưa làm được gì. Việc của con người cho dù làm cho hết cũng chẳng ích gì. Dám xin nhà vua ban chiếu cho bách quan rồi ngầm tới dưới chân núi lập đàn chay rồi mời chúa Chân quân trấn quỷ ở phương Bắc cho phép vào thống đàn. Đó là mong ước của thần.
Vua mừng cho làm theo lời nói. Đến ngày đó, đồ vật dụng đã đầy đủ, trước hết mời Huyền Thiên Chân quân Bắc phương chủ đàn thượng, đến các thần Bách bộ thần kỳ cứ thế lần lượt vào, nhà vua thân hành làm lễ. Cô gái mặt ngửa lên trời, hai tay cầm kiếm tay trái chỉ lên đàn, tay phải chỉ về đầu núi, bỗng làm một tiếng động lớn và nói:
Ta bẩm sinh từ tỉnh linh của nguyên khí. Sớm qua nhà vua bỗng thấy sứ giả nổi lên ở phương Nam quỳ tâu trước điện nói rằng giao cho Diêm yêu nữ biến [16a] làm hồ tinh, tung hoành mỗi ngày một ghê gớm. Hơn nữa thiên đình cao xa, suốt ngày bận bịu để dẫn đến tà ma làm càn, lạm dụng uy phúc. Nay thấy thiên tử mưu việc trị bình, công chúa hết lòng vì dân, thượng đế nổi giận sai ta xuống diệt trừ hồ quái, làm phúc lâu dài để sáng tỏ đức của quân vương, vâng mệnh trời yêu mến thần dân.
Niệm thần chú xong, trời đất ảm đạm, sấm chớp ầm ầm, lại chẳng ngờ mưa to gió lớn bỗng nổi lên, cây cỏ trong núi đồ gẫy, bay lên biến thành nghìn mẫu bùn lầy, sóng nước cuộn dâng, riêng các thứ trong đàn như đồ tế, trống cờ, lọng, tán vẫn yên như cũ, không chút dịch sai. Ở dưới đàn bỗng thấy một đám mây ngũ sắc lớn lơ lửng rồi cuồn cuộn xông thẳng lên trời. Vua liền quay nhìn về chỉ thấy còn lại hai công chúa khoanh tay, sau là trăm quan khấu đầu dưới chân, không thấy cô gái đâu nữa. Từ đó hồ [166] tỉnh cũng mất hẳn. Vua khen mãi không thôi và cho dựng sùng từ (miếu thờ) ngay tại nơi lập đàn, truy phong là “Trấn Tĩnh bà vương” sai hai công chúa sớm tối thờ phụng. Đại phàm trong dân gian có nạn lụt sâu lúa, bệnh dịch, đến xin cầu tại đền đều rất linh ứng.
Sau có giặc ở phương Nam xâm lược, vua ở trong thành Gia Bình, bị quân tướng nhà Lương là Bá Tiên bao vây, vua bèn sai Lý Hùng đến đền cầu nguyện, được một ngày nghe tiếng quân reo hò ngoài thành như sấm vua vội trèo lên thành xem thì thấy một vị nữ tướng vung đao, cưỡi ngựa, xông vào đuổi đánh, quân Lương thua chạy giẫm đạp lên nhau chết tới hơn ngàn người mưa gió bốn bề. Vua liền mở cổng thành cho quân ra rút về động Khuất Liêu chia giữ các hạt, ổn định quân sĩ, rồi sẽ lại ra đánh. Vì chướng khí ẩm thấp, vua bị ốm. Hai công chúa nghe tin, buồn bã đau thương quá đỗi, rồi nhảy xuống hồ Dâm Đàm kết liễu đời mình [17a]. Sau đó cũng rất linh nghiệm, dân gian cũng coi là thần và thờ ngay tại đền thờ đó.
Năm Trùng Hưng nguyên niên (1285) truy phong nàng Vạn Thọ là “Kính Thiên pháp tổ bà vương”. Vạn Phúc là “Đệ nhất công chúa”, Vạn Lộc là “Đệ nhị công chúa”. Năm thứ tư gia phong “Hiển ứng Hưng long”. Năm thứ 21 tặng là “Pháp Vân, Pháp Vũ bà vương”; Đệ nhất công chúa gia phong “Dực Thánh”; Đệ nhị công chúa gia phong “Hiệu Thuận” là để nói lên ý có công khi còn sống, ngầm giúp lúc qua đời.
Năm Trùng Hưng thứ 4 (1288) gia phong “Thượng đẳng thần”.
Năm Hưng Long thứ 21 (1313) gia phong mỹ tự.
Năm Thịnh Đức thứ 3 (1655) gia phong mỹ tự.
Năm thứ 4 lại gia phong, năm thứ 5 lại gia phong.
Năm Vĩnh Thọ thứ 3 (1660) gia phong mỹ tự.
[176] [Năm Vĩnh Thọ] Năm thứ 4 (1661) lại gia phong.
Năm Cảnh Trị thứ 8 (1670) gia phong mỹ tự.
Năm Dương Đức thứ 3 (1674) gia phong mỹ tự.
Năm Chính Hòa thứ 4 (1683) gia phong mỹ tự.
Năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) gia phong mỹ tự.
Năm Nhâm Dần, khảo khóa tại đàn Trung Sa dự vào hàng thứ 6, được gia phong “Tối linh”.
Năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730) gia phong mỹ tự.
Năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740) gia phong mỹ tự. Năm thứ 28 lại gia phong. Năm thứ 44 lại gia phong, cũng trong năm đó lại gia phong.
Năm Chiêu Thống nguyên niên (1787) gia phong mỹ tự.
Năm Quang Trung thứ 2 (1789) gia phong mỹ tự. Năm Cảnh Thịnh nguyên niên (1793) gia phong mỹ tự.
Năm Gia Long thứ 9 (1810) gia phong mỹ tự.
Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) gia phong mỹ tự.
Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) gia phong mỹ tự.
Năm thứ 6 lại gia phong. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) gia phong mỹ tự. Năm [Tự Đức] thứ 33 (1880) lại gia phong mỹ tự như trước.
Sau đây xin sao chép lại mỹ tự do các triều gia phong.
Thứ nhất, Vạn Phúc công chúa:
“Khang ninh tế thế, huệ minh hộ quốc, phương dung gia hạnh, nhân hiếu từ thuận, trinh khiết đoan trang, bạc tĩnh u nhàn, trinh thục thuần nhất, nhu ý phương dung, khoan hòa trinh tiết, ý đức mỹ hạnh, phương tư thuận tức, chiêu nghi dung đức, diệu linh nhã độ, nhàn nhã đoan trang, như ý khác cẩn, kính thuận huy từ, ôn hoa thục ý, lệ chất kiêu tư, trang nhã tháo nhu, [186] gia ý hạnh tuyên tử huệ hoa khuê tú, khôn phạm thục viên yểu điệu thanh kỳ, trình tĩnh đoan trang, túy mỹ nhàn uyển”.
Thứ hai, Vạn Lộc công chúa:
“Bảo khánh hậu đức, chí nhân nhu ý, từ hòa cần tiết, huệ ân phả tế, trinh thục trang nhất, cần tiết gia hạnh, phương dung trình tĩnh, thùy hưu diễn phú, tuy lộc diên tương, từ mỹ trình thục, hòa tắc chiêu nghi, phi thường yểu điệu, ôn nhã thuần túc, thuần hạnh gia huệ, ý đức phương tư, túc nghi trinh chính, đoan trang từ hậu, thần công ý đức, gia huệ ý phạm, vi du hồng từ, cần tiết ôn hòa, cần hạnh thành trang, thục ý từ phạm, ngọc chất phương tư, trinh tĩnh thục diệu”.
Thứ ba, Vạn Thọ chân tiên công chúa:
“Tư mỹ đoan trang, uyên tĩnh trinh thuận, thuần nhất nhu từ, gia khánh hậu đức, chí nhân phả huệ, triệu tường diên huống, trinh tĩnh tinh khiết, phương dung hòa mỹ, gia ngôn ý hạnh, thuần nhất cần tiết, từ nhân gia ngôn, giai tiết thuần hòa, cần khác trai trang, hiếu kính phụ đức, chinh cẩn ôn nhu, cung khắc thuận tắc, thục hạnh như ý, trinh khiết huệ hòa, khoan hậu từ tường, đoan trang thuần nhất, trinh tĩnh dung nghi, ý phạm phân phương, ngọc chất băng tư thục diệu”.
Chú thích:
- Nguyên văn là chữ “điên” (điên đảo), có lẽ nhầm từ chữ “đầu” (đầu cuối).
Nguồn: “Tam vị Công chúa linh phả”, trích trong Thần tích phường Trích Sài, ký hiệu AE.a2/34, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.