Thân thế
Nguyễn Phúc Khoát sinh năm Giáp Ngọ (1714) đời vua Lê Dụ Tông. Ông là con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Chú và và bà Trương thị.
Lúc đầu, Nguyễn Phúc Khoát được phong là Chưởng dinh Tiền Thủy, tước Hiểu Chính hầu, làm phủ đệ ở Cơ Tiền Dực tại làng Dương Xuân (Thừa Thiên – Huế).
Sự nghiệp chính trị
Năm Mậu Ngọ (1738), Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi khi mới 24 tuổi. Triều đình tôn ông là Thái bảo Hiểu Quận công. Do sùng đạo Phật, ông tự xưng hiệu Từ Tế đạo nhân. Sau khi lên ngôi, ông cho xây dựng phủ mới ở phía tả phủ cũ và tổ chức kiến thiết Đô thành Phú Xuân. Đến năm Kỷ Mùi (1739), các công trình hoàn tất và triều thần tôn ông là Thái phó Quốc công.
Cùng năm đó, vua Chân Lạp Nặc Bồn đem quân xâm phạm Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ và vợ là Nguyễn Thị Hiếu Túc tổ chức chống trả và đẩy lùi quân Chân Lạp. Khi nhận được tin báo, Chúa Võ phong Mạc Thiên Tứ giữ chức đô đốc và phong phu nhân cho vợ ông.
Năm Canh Thân (1740), Chúa Võ tiến hành cải định chế độ thi cử. Đến ngày 12 tháng 4 năm Giáp Tý (1744), dưới sự dân biểu của triều thần và thần dân, ông được tôn lên ngôi vương.
Từ thời điểm này, nhiều cải cách được công bố. Các phủ được đổi thành điện, văn thư trình lên vua gọi là tấu, Thân quân đổi thành Vũ lâm quân, văn chức đổi thành Hàn lâm viện. Bộ máy hành chính được quy định gồm sáu bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công. Văn thư vẫn sử dụng niên hiệu nhà Lê, nhưng khi giao tiếp với các thuộc quốc thì xưng là Thiên vương. Chế độ y phục của quan lại và dân chúng cũng được thay đổi theo quy định mới.
Chinh phạt Chân Lạp lần thứ nhất (1753–1756)
Tình trạng chính quyền Chân Lạp liên tục ức hiếp cộng đồng Côn Man khiến triều Đàng Trong quyết định phát binh. Năm 1753, chúa Võ cho sứ sang Xiêm thông báo chủ trương chinh phạt và đề nghị phối hợp nếu quốc vương Nặc Nguyên chạy sang Xiêm khi bại trận. Sau đó, Đàng Trong huy động quân năm dinh dưới quyền thống suất Thiện Chính và tham mưu Nguyễn Cư Trinh tiến vào Bến Nghé chuẩn bị chiến dịch.
Năm 1754, quân Nguyễn chia làm hai cánh từ Gia Định tiến vào Chân Lạp, hợp binh tại Lô Yêm. Nhiều phủ của Chân Lạp gồm Lôi Lạt, Tầm Bôn, Cầu Nam và Nam Vang nhanh chóng quy thuận, buộc Nặc Nguyên phải chạy sang Tầm Phong Thu. Trong quá trình hành quân, đoàn người Côn Man theo quân Việt bị quân Chân Lạp phục kích tại Vô Tà Ân. Thiện Chính không thể cứu viện vì địa hình hiểm trở, buộc Nguyễn Cư Trinh phải trực tiếp đưa quân giải nguy, đưa hơn năm nghìn dân Côn Man về vùng núi Bà Đen. Sự việc dẫn đến việc Thiện Chính bị giáng chức và Trương Phúc Du được cử thay thế.
Năm 1756, Nặc Nguyên cầu hòa và xin dâng hai phủ Lôi Lạt và Tầm Bôn. Nguyễn Cư Trinh dâng sớ khuyên chúa Võ nhận đất để tăng cường phòng tuyến và cho người Côn Man định cư ở khu vực biên giới nhằm ngăn ngừa xung đột về sau. Chúa Võ chấp thuận, khôi phục ngôi cho Nặc Nguyên và sắp xếp cho người Côn Man định cư tại Tây Ninh và một bộ phận chuyển đến An Giang. Từ đây hình thành cộng đồng Chà Châu Giang ở Châu Đốc.
Chinh phạt Chân Lạp lần thứ hai (1757)
Năm 1757, Nặc Nguyên qua đời. Người chú họ là Nặc Nhuận nối ngôi nhưng không được Đàng Trong công nhận và bị yêu cầu dâng hai phủ Trà Vang và Ba Thắc để được thừa nhận ngai vị. Khi việc dâng đất còn đang kéo dài, nội bộ Chân Lạp xảy ra biến loạn khi Nặc Hinh đem quân tấn công Nặc Tôn. Nặc Tôn phải chạy sang Hà Tiên nương nhờ Mạc Thiên Tứ. Mạc Thiên Tứ xin chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn về nước. Quân của họ Mạc và quân Đàng Trong phối hợp đánh dẹp, chiếm thành U Đông, buộc Nặc Hinh bỏ chạy rồi bị bắt và xử tử. Sau khi Nặc Nhuận mất, Nặc Tôn được lập làm vua. Để trả ơn cứu viện, ông dâng xứ Tầm Phong Long cho triều Nguyễn.
Chúa Võ tổ chức quản lý vùng đất mới bằng cách lập đạo Đông Khẩu ở Sa Đéc, đạo Tân Châu ở vùng Cù Lao Giêng và đạo Châu Đốc ở Hậu Giang, đồng thời đưa quân dinh Long Hồ đến trấn giữ. Ngoài ra, Nặc Tôn còn cắt thêm năm phủ dâng riêng cho Mạc Thiên Tứ. Họ Mạc lại dâng toàn bộ đất ấy cho triều Nguyễn và được giao cai quản Hà Tiên trấn. Triều đình thiết lập thêm đạo Kiên Giang tại Rạch Giá và đạo Long Xuyên tại Cà Mau, chiêu dân lập ấp, khiến lãnh thổ Hà Tiên mở rộng đáng kể.
Cuối năm 1757, theo đề xuất của Nguyễn Cư Trinh và Trương Phước Du, chúa Võ cho dời trị sở dinh Long Hồ và châu Định Viễn từ Cái Bè về Tầm Bào, nay thuộc Vĩnh Long. Việc thành lập các đạo Đông Khẩu, Tân Châu và Châu Đốc được hoàn thiện, tạo thành hệ thống phòng thủ biên giới vững chắc giữa Đàng Trong và Chân Lạp.
Chính sự cuối đời
Trong những năm cuối đời, Chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát dần trở nên tự mãn và sa vào hưởng lạc. Ông chìm đắm trong rượu và nữ sắc, không còn quan tâm đến việc triều chính. Theo ghi chép của dòng họ Nguyễn Phước, cuộc sống thanh bình và xa hoa kéo dài khiến ông xao nhãng trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền. Trương Phúc Loan, cậu ruột của Nguyễn Phúc Khoát, vì mưu đồ thao túng quyền lực, lại khuyến khích chúa đi sâu vào con đường tửu sắc. Trong số các cung phi được sủng ái có Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, con của Dận quốc công Nguyễn Phúc Điền. Chính những yếu tố này trở thành nguyên nhân làm suy yếu bộ máy chính quyền và góp phần vào sự suy tàn của triều Nguyễn ở Đàng Trong.
Cuối thời Nguyễn Phúc Khoát, hoạt động chính sự rơi vào tình trạng rối ren, gây nhiều hệ lụy cho dân chúng. Hệ thống thuế khóa trở nên nặng nề và phức tạp, quan lại địa phương lợi dụng để lạm thu, khiến người dân phải nộp vượt mức quy định. Thuế thổ sản vốn đã rất đa dạng, đến mức có hàng ngàn loại, kể cả những sản vật nhỏ. Năm 1741, Nguyễn Phúc Khoát ra lệnh truy thu thuế đối với cả những người đã bỏ trốn. Đến năm 1765, triều đình tiếp tục yêu cầu thu nốt số thuế còn thiếu của mười năm trước.
Bên cạnh đó, việc Nguyễn Phúc Khoát giao quyền hành vào tay Trương Phúc Loan khiến tình trạng bóc lột gia tăng. Loan nổi tiếng tham lam, chiếm đoạt của công và gian lận trong giao dịch với thương nhân nước ngoài. Có ghi chép kể rằng sau một trận lũ, sân nhà Loan tràn ngập vàng bạc đem ra phơi. Trong khi đó, thất bại quân sự trước Xiêm La, cộng với sưu thuế nặng nề và nạn tham nhũng lan rộng, làm cho chính quyền chúa Nguyễn ngày càng suy yếu.
Tầng lớp quan lại cấp dưới cũng noi theo lối sống xa hoa ấy, khiến tham ô và hối lộ trở thành vấn nạn phổ biến. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục ghi nhận rằng từ quan lớn đến quan nhỏ đều chạy theo lối sống phô trương, xây dựng nhà cửa xa xỉ, dùng đồ vật quý, khoe của cải như một thói tục phổ biến. Ông mô tả họ “coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn” và tiêu xài vô độ.
Chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát qua đời ngày 7 tháng 7 năm 1765, hưởng thọ 51 tuổi, và được an táng tại Trường Thái lăng ở làng La Khê, huyện Hương Trà (Thừa Thiên). Dưới triều Gia Long, ông được thờ tại Thái Tổ Miếu trong Hoàng thành Huế.
Sau khi ông mất, con trai thứ mười sáu là Nguyễn Phúc Thuần kế vị và dâng thụy hiệu cho cha là Trí Hiếu Vũ Vương. Đến năm Bính Dần 1806, vua Gia Long truy tôn ông là Trí Hiếu Võ Hoàng Đế, miếu hiệu Thế Tông.
Gia đình
Phi tần
Hiếu Vũ Hoàng hậu (Trương Thị Dung): Người Thanh Hóa, mẹ của Chúa Nguyễn Phúc Luân (cha Vua Gia Long). Được Gia Long truy tôn Hoàng hậu và thờ ở Thái Miếu.
Chiêu nghi (Trần Thị Xạ): Người Quảng Bình, được Chúa Vũ sủng ái, ban đầu là Quý nhân, sau truy phong Chiêu nghi.
Chiêu nghi (Nguyễn Phúc Ngọc Cầu): Con gái Nguyễn Phúc Điền. Bà này nổi tiếng vì đã cùng quyền thần Trương Phúc Loan lập mưu đưa Chúa Định Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi.
Hậu duệ
Thành công (Nguyễn Phúc Chương/Trà): Con của Hiếu Vũ Hoàng hậu Trương Thị Dung. Không giữ chức vị lúc đương thời. Sau được Gia Long truy tôn tước Thành công.
Hiếu Khang Hoàng đế (Nguyễn Phúc Luân): Cha của Vua Gia Long. Sơ phong Chưởng cơ. Bị quyền thần Trương Phúc Loan bắt giam để đưa Nguyễn Phúc Thuần lên thay, và chết trong ngục. Sau được truy tôn miếu hiệu Hưng Tổ.
Nội tả Chương doanh (Nguyễn Phúc Văn/Mão): Công nuôi dưỡng Gia Long. Bị quyền thần Trương Phúc Loan vu oan, dìm xuống phá Tam Giang.
Tiết chế thủy bộ Thành quân công (Nguyễn Phúc Cường Thịnh): (1735 – 1775). Được truy tặng tước Thành quân công. Cùng phe với chú là Định Nguyễn Phúc Thuần, bị bệnh nặng rồi mất.
Ý công (Nguyễn Phúc Đức/Bảo): (Ngày tháng không rõ). Con của Hiếu Vũ Hoàng hậu Trương Thị Dung. Không giữ chức vị, chỉ được truy tặng tước Ý công, thụy Chính Trực.
Thiếu phó (Nguyễn Phúc Chất): (1737 – 1777). Sau khi chúa Trịnh bị quân chúa Nguyễn đánh bại, ông cùng người em trai là Nguyễn Phúc Tuyển về theo Gia Định. Được truy tặng Thiếu phó.
Chưởng doanh Quận công (Nguyễn Phúc Kính): (Ngày tháng không rõ). Con của Chiêu nghi Trần Thị Xạ. Sơ phong chức Quận công. Bị quân chúa Trịnh bắt giam và mất trong ngục.
Công tử không rõ tên (Nguyễn Phúc Quý): (1739 – ?). Con của Chiêu nghi Trần Thị Xạ.
Hiếu Tuyên Hoàng đế (Nguyễn Phúc Hạo): (1739 – 1760). Con của Cung tần Trương Thị Hoàng. Khi mất được an táng ở Lăng Long Hồ (Thừa Thiên). Sau được Vua Gia Long truy tôn Hoàng đế.
Cai cơ (Nguyễn Phúc Ân/Chiêu): (1740 – 1772). Con của Đặng Thị Trúc. Sơ phong Thủy cơ Cai đội.
Cai đội (Nguyễn Phúc Tuấn): (1742 – 1764). Con của Chiêu nghi Trần Thị Xạ. Không có con trai.
Tiết chế doanh Quận công (Nguyễn Phúc Viêm): (1743 – 1776). Con của Chiêu nghi Trần Thị Xạ. Sơ phong Tiết chế doanh Quận công. Có một con trai là Hân, mất sớm.
Tiết chế doanh công (Nguyễn Phúc Đàn Trường): (1744 – 1786). Mẹ là Trần Thị Thanh. Là em cùng mẹ với công tử Xuân, người đã giúp Gia Định đánh bại quân Tây Sơn, nhưng bị đố kỵ và giết hại.
Nguyễn Phúc Quyền: (1749 – ?). Bị quyến thần Trương Phúc Loan bắt giam, sau khi mất được dân chúng thờ phụng.
Thiếu bảo Quận công (Nguyễn Phúc Diệu): (1753 – ?). Con nuôi của Nguyễn Phúc Ngọc Cầu. Được truy tặng Thiếu bảo Quận công.
Hiếu Định Hoàng đế (Nguyễn Phúc Thuần): (1754 – 1777). Con của Nguyễn Phúc Ngọc Cầu. Là người được quyền thần Trương Phúc Loan đưa lên ngôi thay thế Nguyễn Phúc Luân. Bị quân Trịnh bắt và mất ở trại giam. Được Gia Long truy tôn miếu hiệu Duệ Tông.
Chưởng cơ Thuần quận công (Nguyễn Phúc Xuân): (1757 – 1780). Con của Cung tần Vũ Thị Huyền. Sơ phong Chưởng cơ. Ông bị vu oan và giết hại. Sau được Gia Long truy tặng Thiếu phó.
Công nữ (Nguyễn Phúc Tuyên): (1738 – 1809). Con của Cung tần Tôn Thị Vị. Chồng là Tiết chế Chưởng doanh Nguyễn Công Trứ. Bà có công lớn trong việc dụ Lê Chất ra hàng.
Công nữ (Nguyễn Phúc Ngọc Nguyên): (1726 – 1773). Chồng là Cựu doanh trấn thủ Trương Phúc Thặng, là con của Trương Phúc Loan.
Công nữ (Nguyễn Phúc Ngọc Thanh): (1740 – 1773). Chồng là Nội tả Chưởng doanh Nguyễn Cửu Quận, con của Nguyễn Cửu Kiều.
Công nữ (Nguyễn Phúc Ngọc Ái): (1743 – 1775). Chồng là Tiết chế Chưởng doanh Nguyễn Cửu Sách, con của Nguyễn Cửu Pháp.
Công nữ (Nguyễn Phúc Ngọc Muội): (1749 – 1825). Con của Cung tần Trương Thị Bích. Chồng là Úy Tôn Tư.
Công nữ (Nguyễn Phúc Ngọc Quần): (1751 – 1776). Chồng là Chưởng doanh, Thái bảo Quận công Tống Phúc Khuông. Vợ chồng không hòa hợp, nên ông bị dìm chết và bà được Gia Long đưa về và an táng.
Công nữ (Nguyễn Phúc Thụ): (1739 – 1775). Chồng là Cai cơ Trương Phúc Nhạc (con của Trương Phúc Loan). Mất theo Gia Định, mộ ở Long Hồ.
Công nữ (Nguyễn Phúc Ngọc Xuyên/Ngọc Huy): (Ngày tháng không rõ). Chồng là Cai cơ Nguyễn Cửu Tù, con của Nguyễn Cửu Thông.
Tài liệu tham khảo
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Vo Vuong Nguyen Phuc Khoat (1714–1765)
Background
Nguyen Phuc Khoat was born in the year Giap Ngo (1714), during the reign of King Le Du Tong. He was the eldest son of Lord Nguyen Phuc Chu and Lady Truong Thi.
At first, Nguyen Phuc Khoat was granted the title Chuong dinh Tien Thuy and the rank Hieu Chinh hau, residing in Co Tien Duc in Duong Xuan village (Thua Thien – Hue).
Political Career
In the year Mau Ngo (1738), Nguyen Phuc Khoat ascended the throne at the age of twenty-four. The court honored him as Thai bao Hieu Quan cong. Devoted to Buddhism, he proclaimed himself Tu Te dao nhan. After taking power, he ordered the construction of a new palace to the left of the old one and initiated the building of the capital Phu Xuan. In the year Ky Mui (1739), the construction was completed, and he was elevated to Thai pho Quoc cong.
That same year, King of Chan Lap Nac Bon invaded Ha Tien. Mac Thien Tu and his wife Nguyen Thi Hieu Tuc organized the defense and repelled Chan Lap forces. Receiving the report, Lord Vo granted Mac Thien Tu the rank of do doc and conferred a noble title upon his wife.
In the year Canh Than (1740), Lord Vo reformed the examination system. On April 12 of the year Giap Ty (1744), at the petition of court officials and the populace, he was elevated to the rank of king.
From this time onward, numerous reforms were announced. Phu were renamed dien; documents submitted to the king were called tau; Than quan troops were renamed Vu lam quan; and civil positions were reorganized into the Han lam vien. The administrative structure was fixed at six ministries: Lai, Ho, Le, Binh, Hinh, and Cong. Documents continued to use the Le dynasty era name, but in relations with subordinate states, he called himself Thien vuong. Clothing regulations for officials and commoners were also revised.
First Campaign Against Chan Lap (1753–1756)
Oppression of the Con Man community by the Chan Lap authorities prompted Dang Trong to launch a military campaign. In 1753, Lord Vo sent envoys to Xiem announcing his intention to attack and asking for cooperation in case King Nac Nguyen fled to Xiem after defeat. Dang Trong mobilized troops from five dinh, placed under Thong suat Thien Chinh and adviser Nguyen Cu Trinh, and advanced to Ben Nghe to prepare for the campaign.
In 1754, Vietnamese forces split into two wings from Gia Dinh, entering Chan Lap and joining at Lo Yem. Many territories—Loi Lat, Tam Bon, Cau Nam, and Nam Vang—quickly surrendered, forcing Nac Nguyen to flee to Tam Phong Thu. During the advance, the Con Man group accompanying Vietnamese troops was ambushed at Vo Ta An. Because of the terrain, Thien Chinh could not rescue them, so Nguyen Cu Trinh personally led forces to save them and relocated over five thousand Con Man to Ba Den Mountain. As a result, Thien Chinh was demoted and replaced by Truong Phuc Du.
In 1756, Nac Nguyen sued for peace and offered the territories Loi Lat and Tam Bon. Nguyen Cu Trinh advised Lord Vo to accept the land to strengthen the frontier and settle the Con Man near the border to prevent future conflict. Lord Vo agreed, restored Nac Nguyen’s kingship, and arranged for the Con Man to settle in Tay Ninh, with a portion moving to An Giang, forming the Cha Chau Giang community in Chau Doc.
Second Campaign Against Chan Lap (1757)
In 1757, Nac Nguyen died. His cousin Nac Nhuan succeeded the throne but was not recognized by Dang Trong and was required to cede Tra Vang and Ba Thac in exchange for legitimacy. While negotiations continued, internal conflict erupted when Nac Hinh attacked Nac Ton. Nac Ton fled to Ha Tien seeking Mac Thien Tu’s protection. Mac Thien Tu requested Nguyen forces to escort him back. Joint forces captured U Dong, forcing Nac Hinh to flee; he was later captured and executed. After Nac Nhuan’s death, Nac Ton ascended the throne and, in gratitude, offered Tam Phong Long to Dang Trong.
Lord Vo organized the new territory by creating Dong Khau in Sa Dec, Tan Chau in Cu Lao Gieng, and Chau Doc in Hau Giang, and deploying troops from dinh Long Ho. Additionally, Nac Ton ceded five more territories to Mac Thien Tu, who in turn offered them to Dang Trong and was appointed governor of Ha Tien tran. The court further established Kien Giang in Rach Gia and Long Xuyen in Ca Mau, encouraging settlement and expanding Ha Tien’s territory significantly.
Late in 1757, at the proposal of Nguyen Cu Trinh and Truong Phuoc Du, Lord Vo moved the administrative center of dinh Long Ho and chau Dinh Vien from Cai Be to Tam Bao (modern Vinh Long). The establishment of Dong Khau, Tan Chau, and Chau Doc completed a strong border defense system between Dang Trong and Chan Lap.
Late Reign
In his final years, Lord Vo Nguyen Phuc Khoat became complacent and indulgent in pleasure. He immersed himself in wine and women, neglecting governance. According to Nguyen Phuoc family records, prolonged peace and luxury caused him to abandon his duties. Truong Phuc Loan, his maternal uncle, seeking to control power, encouraged him in this lifestyle. Among the favored concubines was Cong nu Nguyen Phuc Ngoc Cau, daughter of Dan Quoc cong Nguyen Phuc Dien. These factors weakened the government and contributed to the decline of the Nguyen regime in Dang Trong.
Toward the end of his reign, governance deteriorated, causing hardship for the populace. The tax system became burdensome and complex; local officials exploited loopholes to overtax the people. Natural-resource taxes became excessively varied—numbering in the thousands, including trivial items. In 1741, Nguyen Phuc Khoat ordered tax collection even from those who had fled. By 1765, arrears from ten years prior were still demanded.
Entrusting power to Truong Phuc Loan worsened oppression. Loan was notorious for greed, embezzlement, and fraud in dealings with foreign merchants. One account states that after a flood, his courtyard was filled with gold and silver laid out to dry. Military failures against Siam, combined with heavy taxes and rampant corruption, weakened Nguyen authority.
Lower-ranking officials followed this extravagant lifestyle, spreading bribery and embezzlement. In Phu bien tap luc, Le Quy Don wrote that officials large and small pursued lavish living, building luxurious houses and flaunting wealth. He remarked that they “treated gold like sand and rice like mud,” spending recklessly.
Lord Vo Nguyen Phuc Khoat died on July 7, 1765, aged fifty-one, and was buried in Truong Thai tomb in La Khe village, Huong Tra district (Thua Thien). Under King Gia Long, he was worshiped at the Thai To Mieu in the Imperial City of Hue.
After his death, his sixteenth son Nguyen Phuc Thuan succeeded and granted him the posthumous title Tri Hieu Vu Vuong. In 1806 (year Binh Dan), Emperor Gia Long posthumously elevated him to Tri Hieu Vo Hoang De, with the temple name The Tong.
Family
Consorts
- Hieu Vu Hoang hau (Truong Thi Dung): From Thanh Hoa; mother of Nguyen Phuc Luan (father of Emperor Gia Long). Posthumously honored as Empress.
- Chieu nghi (Tran Thi Xa): From Quang Binh; initially Quy nhan, later posthumously elevated to Chieu nghi.
- Chieu nghi (Nguyen Phuc Ngoc Cau): Daughter of Nguyen Phuc Dien; involved with Truong Phuc Loan in placing Nguyen Phuc Thuan on the throne.
Offspring
- Thanh cong (Nguyen Phuc Chuong/Tra): Son of Empress Truong Thi Dung. Held no position; posthumously honored.
- Hieu Khang Hoang de (Nguyen Phuc Luan): Father of Emperor Gia Long; initially Chuong co; imprisoned by Truong Phuc Loan and died in jail; later venerated as Hung To.
- Noi ta Chuong doanh (Nguyen Phuc Van/Mao): Foster father of Gia Long; falsely accused by Truong Phuc Loan and drowned in pha Tam Giang.
- Tiet che thuy bo Thanh quan cong (Nguyen Phuc Cuong Thinh) (1735–1775): Posthumously titled; aligned with Nguyen Phuc Thuan.
- Y cong (Nguyen Phuc Duc/Bao): Posthumously titled Y cong, with the posthumous name Chinh Truc.
- Thieu pho (Nguyen Phuc Chat) (1737–1777): Later honored as Thieu pho.
- Chuong doanh Quan cong (Nguyen Phuc Kinh): Son of Tran Thi Xa; captured and died in Trinh prisons.
- Nguyen Phuc Quy: Captured by Truong Phuc Loan; later worshiped by the people.
- Thieu bao Quan cong (Nguyen Phuc Dieu): Adopted son of Ngoc Cau; posthumously honored.
- Hieu Dinh Hoang de (Nguyen Phuc Thuan) (1754–1777): Installed by Truong Phuc Loan; captured by Trinh forces and died in prison; posthumously honored as Due Tong.
- Chuong co Thuan quan cong (Nguyen Phuc Xuan) (1757–1780): Wrongfully accused and killed; later honored.
- Cong nu (Nguyen Phuc Tuyen) (1738–1809): Wife of Tiet che Chuong doanh Nguyen Cong Tru; credited for persuading Le Chat to surrender.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Nguyen) (1726–1773): Wife of Truong Phuc Thang, son of Truong Phuc Loan.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Thanh) (1740–1773): Wife of Nguyen Cuu Quan.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Ai) (1743–1775): Wife of Nguyen Cuu Sach.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Muoi) (1749–1825): Wife of Uy Ton Tu.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Quan) (1751–1776): Wife of Tong Phuc Khuong; later retrieved and buried by Gia Long.
- Cong nu (Nguyen Phuc Thu) (1739–1775): Wife of Truong Phuc Nhac.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Xuyen/Ngoc Huy): Wife of Nguyen Cuu Tu.
References
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp
Vo Vuong Nguyen Phuc Khoat (1714–1765)
Origines
Nguyen Phuc Khoat naquit en l’année Giap Ngo (1714), sous le règne du roi Le Du Tong. Il était le fils aîné du seigneur Nguyen Phuc Chu et de madame Truong Thi.
À ses débuts, Nguyen Phuc Khoat reçut le titre de Chuong dinh Tien Thuy, fut anobli Hieu Chinh hau et établit sa résidence princière à Co Tien Duc, au village de Duong Xuan (Thua Thien – Hue).
Carrière politique
En l’année Mau Ngo (1738), à l’âge de vingt-quatre ans, Nguyen Phuc Khoat monta au pouvoir. La cour le proclama Thai bao Hieu Quan cong. Profondément dévot au bouddhisme, il se donna le titre religieux de Tu Te dao nhan. Après son avènement, il fit construire une nouvelle résidence princière à gauche de l’ancienne et lança l’aménagement de la capitale de Phu Xuan.
En l’année Ky Mui (1739), les travaux furent achevés et les dignitaires le promurent Thai pho Quoc cong.
La même année, le roi du Chan Lap, Nac Bon, mena une offensive contre Ha Tien. Mac Thien Tu et son épouse Nguyen Thi Hieu Tuc organisèrent la défense et repoussèrent les troupes ennemies. À la réception de cette nouvelle, le seigneur Vo décerna à Mac Thien Tu le titre de Do doc et anoblit son épouse.
En l’année Canh Than (1740), le seigneur Vo réforma le système des concours mandarinaux. Le 12 avril de l’année Giap Ty (1744), à la demande des dignitaires et du peuple, il fut officiellement proclamé roi.
À partir de ce moment, de nombreuses réformes furent annoncées : les phu devinrent des dien ; les documents soumis au roi furent nommés tau ; les Than quan furent renommés Vu lam quan ; les fonctions civiles adoptèrent la dénomination Han lam vien. L’administration centrale fut organisée en six ministères : Lai, Ho, Le, Binh, Hinh et Cong. Les documents officiels conservaient l’ère calendaire des Le, mais dans les relations avec les États tributaires, il s’intitulait Thien vuong. Le système vestimentaire des fonctionnaires et du peuple fut également restructuré.
Première expédition contre le Chan Lap (1753–1756)
Face aux exactions répétées du gouvernement du Chan Lap contre la communauté Con Man, la cour de Dang Trong décida d’intervenir militairement.
En 1753, le seigneur Vo envoya un émissaire à Siam pour annoncer son projet de campagne et solliciter la coopération en cas de fuite du roi Nac Nguyen. Ensuite, il mobilisa les troupes des cinq dinh sous le commandement de Thien Chinh et du conseiller Nguyen Cu Trinh, qui se dirigèrent vers Ben Nghe pour préparer l’opération.
En 1754, les forces vietnamiennes, divisées en deux colonnes depuis Gia Dinh, pénétrèrent au Chan Lap et se rejoignirent à Lo Yem. Plusieurs phu du Chan Lap — dont Loi Lat, Tam Bon, Cau Nam et Nam Vang — se rendirent rapidement, poussant Nac Nguyen à se réfugier à Tam Phong Thu.
Durant l’avancée, le convoi Con Man accompagnant l’armée fut attaqué à Vo Ta An. Thien Chinh, bloqué par le relief escarpé, ne put intervenir ; Nguyen Cu Trinh dut mener lui-même une troupe au secours des réfugiés et escorta plus de cinq mille personnes vers la région du mont Ba Den. Cet incident entraîna la destitution de Thien Chinh, remplacé par Truong Phuc Du.
En 1756, Nac Nguyen demanda la paix et proposa de céder les deux phu Loi Lat et Tam Bon. Nguyen Cu Trinh recommanda d’accepter ces territoires pour renforcer la ligne défensive et installer les Con Man sur la frontière afin de prévenir les conflits futurs. Le seigneur Vo approuva, rétablit Nac Nguyen sur son trône et fit installer les Con Man à Tay Ninh, tandis qu’un autre groupe fut déplacé vers An Giang. Ainsi naquit la communauté Cha Chau Giang à Chau Doc.
Deuxième expédition contre le Chan Lap (1757)
En 1757, à la mort de Nac Nguyen, son oncle Nac Nhuan lui succéda, mais il ne fut pas reconnu par Dang Trong et dut proposer la cession de deux phu — Tra Vang et Ba Thac — pour obtenir la légitimation.
Alors que les négociations traînaient, une guerre interne éclata : Nac Hinh attaqua Nac Ton, qui dut fuir à Ha Tien pour demander l’aide de Mac Thien Tu. Celui-ci sollicita le seigneur Nguyen pour restaurer Nac Ton.
Les forces de Mac Thien Tu et celles de Dang Trong capturèrent U Dong, forçant Nac Hinh à fuir. Il fut arrêté puis exécuté. À la mort de Nac Nhuan, Nac Ton fut installé sur le trône. En reconnaissance, il offrit la région de Tam Phong Long à la cour des Nguyen.
Le seigneur Vo organisa l’administration du nouveau territoire : création du dao Dong Khau à Sa Dec, du dao Tan Chau dans la région de Cu Lao Gieng et du dao Chau Doc à Hau Giang, sous la protection des troupes du dinh Long Ho.
De plus, Nac Ton céda cinq phu supplémentaires à Mac Thien Tu, qui les remit entièrement à la cour Nguyen et reçut la charge de gouverner le tran Ha Tien.
La cour créa ensuite les dao Kien Giang à Rach Gia et Long Xuyen à Ca Mau, développa des villages, et étendit remarquablement le territoire de Ha Tien.
À la fin de 1757, sur recommandation de Nguyen Cu Trinh et Truong Phuoc Du, le seigneur Vo transféra le siège administratif du dinh Long Ho et du chau Dinh Vien de Cai Be vers Tam Bao, correspondant aujourd’hui à Vinh Long.
La mise en place des dao Dong Khau, Tan Chau et Chau Doc fut ainsi achevée, constituant une ligne défensive solide entre Dang Trong et le Chan Lap.
Affaires politiques de la fin de son règne
Dans ses dernières années, le seigneur Vo Nguyen Phuc Khoat devint de plus en plus satisfait de lui-même et se laissa aller aux plaisirs. Il s’abandonna aux femmes et à l’alcool, négligeant la gestion de l’État.
Selon les archives de la lignée Nguyen Phuoc, la longue période de prospérité et de luxe l’avait rendu insouciant. Truong Phuc Loan, son oncle maternel, désireux de s’emparer du pouvoir, l’encouragea à s’adonner davantage aux plaisirs. Parmi les favorites, on comptait la princesse Nguyen Phuc Ngoc Cau, fille de Dan Quoc cong Nguyen Phuc Dien.
Cette situation affaiblit gravement le gouvernement et contribua au déclin du régime Nguyen à Dang Trong.
L’administration devint chaotique, ce qui pesait lourdement sur la population. Les taxes devinrent excessives et compliquées, et les fonctionnaires locaux en profitèrent pour surexiger les impôts.
Le système des taxes sur les produits régionaux, déjà très varié, comptait des milliers de catégories, y compris pour des biens mineurs. En 1741, Nguyen Phuc Khoat ordonna même de recouvrer les taxes auprès des personnes ayant fui. En 1765, il exigea encore la collecte des impôts impayés des dix années précédentes.
La délégation du pouvoir à Truong Phuc Loan accentua l’exploitation. Loan, connu pour sa cupidité, détourna les fonds publics et manipula le commerce avec les marchands étrangers. Une chronique rapporte qu’après une inondation, sa cour était remplie d’or et d’argent mis à sécher.
Les défaites militaires face à Siam, les taxations lourdes et la corruption généralisée affaiblirent davantage le gouvernement.
Les fonctionnaires inférieurs imitèrent ce mode de vie fastueux, rendant la corruption omniprésente. Dans le Phu bien tap luc, Le Quy Don décrivit comment, des grands mandarinats aux plus petits, tous vivaient dans l’ostentation, bâtissaient des demeures luxueuses et dépensaient sans compter, « considérant l’or comme du sable et le riz comme de la boue ».
Le seigneur Vo Nguyen Phuc Khoat mourut le 7 juillet 1765, à l’âge de 51 ans, et fut inhumé au Truong Thai lang du village de La Khe, district de Huong Tra (Thua Thien). Sous le règne de Gia Long, il fut honoré dans le Thai To Mieu de la Cité impériale de Hue.
Après sa mort, son seizième fils, Nguyen Phuc Thuan, monta sur le trône et lui conféra le titre posthume Tri Hieu Vu Vuong. En 1806 (année Binh Dan), l’empereur Gia Long le proclama Tri Hieu Vo Hoang De, avec le temple posthume The Tong.
Famille
Épouses et concubines
- Hieu Vu Hoang hau (Truong Thi Dung) : Originaire de Thanh Hoa, mère de Nguyen Phuc Luan (père de Gia Long). Honorée comme impératrice par Gia Long et vénérée au Thai Mieu.
- Chieu nghi (Tran Thi Xa) : Originaire de Quang Binh ; favorite du seigneur Vo ; d’abord Quy nhan, puis promue Chieu nghi à titre posthume.
- Chieu nghi (Nguyen Phuc Ngoc Cau) : Fille de Nguyen Phuc Dien ; connue pour avoir conspiré avec Truong Phuc Loan afin de porter Nguyen Phuc Thuan au pouvoir.
Descendance
- Thanh cong (Nguyen Phuc Chuong/Tra) : Fils de Hieu Vu Hoang hau Truong Thi Dung ; sans fonction de son vivant ; honoré du titre Thanh cong.
- Hieu Khang Hoang de (Nguyen Phuc Luan) : Père de Gia Long ; initialement Chuong co ; emprisonné par Truong Phuc Loan et mort en captivité ; plus tard honoré comme Hung To.
- Noi ta Chuong doanh (Nguyen Phuc Van/Mao) : Nourricier de Gia Long ; faussement accusé et noyé dans les eaux de pha Tam Giang.
- Tiet che thuy bo Thanh quan cong (Nguyen Phuc Cuong Thinh) (1735–1775) : Honoré du titre Thanh quan cong ; allié de Nguyen Phuc Thuan ; mort de maladie.
- Y cong (Nguyen Phuc Duc/Bao) : Fils de Hieu Vu Hoang hau ; honoré du titre Y cong, avec la dénomination posthume Chinh Truc.
- Thieu pho (Nguyen Phuc Chat) (1737–1777) : Après la défaite des Trinh, il rejoignit Gia Dinh ; honoré du titre Thieu pho.
- Chuong doanh Quan cong (Nguyen Phuc Kinh) : Fils de Chieu nghi Tran Thi Xa ; capturé par les Trinh et mort en prison.
- Nguyen Phuc Quy (1739–?) : Fils de Tran Thi Xa ; emprisonné par Truong Phuc Loan ; vénéré après sa mort.
- Hieu Tuyen Hoang de (Nguyen Phuc Hao) (1739–1760) : Fils de Cung tan Truong Thi Hoang ; inhumé au Lang Long Ho ; honoré empereur par Gia Long.
- Cai co (Nguyen Phuc An/Chieu) (1740–1772) : Fils de Dang Thi Truc ; officier naval Cai doi.
- Cai doi (Nguyen Phuc Tuan) (1742–1764) : Fils de Tran Thi Xa ; sans héritier mâle.
- Tiet che doanh Quan cong (Nguyen Phuc Viem) (1743–1776) : Fils de Tran Thi Xa ; un fils nommé Han, mort jeune.
- Tiet che doanh cong (Nguyen Phuc Dan Truong) (1744–1786) : Fils de Tran Thi Thanh ; frère de Nguyen Phuc Xuan ; tué par jalousie malgré son service contre Tay Son.
- Nguyen Phuc Quyen (1749–?) : Emprisonné par Truong Phuc Loan ; vénéré après sa mort.
- Thieu bao Quan cong (Nguyen Phuc Dieu) (1753–?) : Fils adoptif de Ngoc Cau ; honoré Thieu bao Quan cong.
- Hieu Dinh Hoang de (Nguyen Phuc Thuan) (1754–1777) : Monté sur le trône grâce à Truong Phuc Loan ; capturé par les Trinh et mort en captivité ; honoré Due Tong.
- Chuong co Thuan quan cong (Nguyen Phuc Xuan) (1757–1780) : Fils de Vu Thi Huyen ; tué injustement ; honoré Thieu pho.
- Cong nu (Nguyen Phuc Tuyen) (1738–1809) : Épouse de Nguyen Cong Tru ; contribua à la reddition de Le Chat.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Nguyen) (1726–1773) : Épouse de Truong Phuc Thang, fils de Truong Phuc Loan.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Thanh) (1740–1773) : Épouse de Nguyen Cuu Quan.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Ai) (1743–1775) : Épouse de Nguyen Cuu Sach.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Muoi) (1749–1825) : Épouse de Uy Ton Tu.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Quan) (1751–1776) : Épouse de Tong Phuc Khuong ; après le meurtre de ce dernier, elle fut ramenée et ensevelie par Gia Long.
- Cong nu (Nguyen Phuc Thu) (1739–1775) : Épouse de Truong Phuc Nhac ; morte à Gia Dinh ; tombe à Long Ho.
- Cong nu (Nguyen Phuc Ngoc Xuyen/Ngoc Huy) : Épouse de Nguyen Cuu Tu.
Références
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục(tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Trung
武王阮福闊(Nguyen Phuc Khoat,1714–1765)
身世
阮福闊(Nguyen Phuc Khoat)生於甲午年(1714),時屬黎裕宗朝。他是阮福主(Nguyen Phuc Chu)與張氏(Truong thi)之長子。
初時,阮福闊被封為掌營前水,爵號曉正侯,在承天順化之楊春村的 cơ Tien Duc 建府第。
政治生涯
戊午年(1738),阮福闊二十四歲即位,廷臣尊為太保曉郡公。因篤信佛教,他自號「慈濟道人」。登位後,他在舊府之左建新府,並著手營建富春都城。至己未年(1739),工程完竣,群臣再尊為太傅國公。
同年,真臘國王匿盆(Nac Bon)率軍侵犯河仙。麥天賜(Mac Thien Tu)及其夫人阮氏曉肅(Nguyen Thi Hieu Tuc)組織抵禦並擊退真臘軍。武主聞報後,封麥天賜為都督,其妻亦受封夫人。
庚申年(1740),武主改革科舉制度。至甲子年四月十二日(1744),在臣民推舉之下,他被尊為王。
自此,多項改革陸續公布:
各府改稱殿,文書呈請稱奏;親軍改為武林軍;文官改隸翰林院。行政機構規定為六部:吏、戶、禮、兵、刑、工。對內仍用黎朝年號,對屬國則稱「天王」。官民服制亦依新規全面更改。
第一次征討真臘(1753–1756)
真臘政權長期欺壓坤曼(Con Man)社群,使南方朝廷決定興兵。1753 年,武主遣使赴暹羅通報征討方針,並商請若匿元(Nac Nguyen)戰敗逃暹時協助處理。隨後,南方動員五營,由統率善政(Thien Chinh)與參謀阮居澄(Nguyen Cu Trinh)前進濱藝準備作戰。
1754 年,越軍自嘉定分成兩路入真臘,在 Lô Yem 合軍。真臘多處如雷辣(Loi Lat)、尋盆(Tam Bon)、 Cầu Nam、南望(Nam Vang)相繼歸附,迫使匿元逃往尋豐樹。途中,坤曼民眾隨軍卻在無朵恩遭伏擊。善政因地勢險阻無法救援,阮居澄遂親率軍隊解救,護送五千餘坤曼人入巴㮝山區。此事導致善政被降職,由張福由(Truong Phuc Du)取代。
1756 年,匿元求和,獻上雷辣與尋盆二府。阮居澄上疏勸武主受地以強化邊防,並安置坤曼人於邊境以防後患。武主允之,復立匿元為王,並分置坤曼人於西寧與安江。此後形成了洲瀆(Chau Doc)之茶洲江社群。
第二次征討真臘(1757)
1757 年,匿元亡。其族叔匿潤(Nac Nhuan)繼位,但不為南方承認,被要求獻茶望(Tra Vang)與 Ba Thac 二府方可受認。期間真臘內亂,匿興攻匿宗(Nac Ton),匿宗逃往河仙依附麥天賜。麥天賜向阮主請兵送匿宗復位。麥氏與南方軍合力攻克烏東(U Dong),匿興敗逃後被捕處死。匿潤死後,匿宗立為王,為報救援之恩,獻尋豐龍地域。
武主於新地設立東口道(Sa Dec)、新洲道(Tan Chau)、洲瀆道(Chau Doc),並派隆湖營駐防。匿宗又割五府獻給麥天賜,麥氏再全獻於阮朝,被授以河仙鎮統治權。朝廷又設堅江道(Kien Giang)於 Rach Gia,龍川道(Long Xuyen)於 Ca Mau,招民立社,使河仙領土大幅擴展。
1757 年末,依阮居澄與張福由建議,武主遷隆湖營與定遠州治所於尋包(今永隆)。東口、新洲、洲瀆三道建置完備,形成堅固邊防體系。
晚年政事
晚年,武主阮福闊愈發自滿沉溺,酗酒嗜色,不問政事。據阮福氏族譜記載,長期安逸奢華使其怠於政務。其舅張福攣(Truong Phuc Loan)欲操控權力,反鼓勵其荒淫。受寵嬪妃中有工女阮福玉球(Nguyen Phuc Ngoc Cau),為鄞國公阮福田(Nguyen Phuc Dien)之女。此諸因素使政權衰弱,促成南方阮朝的敗亡。
阮福闊末年,政局混亂,民間受害甚深。稅制繁重錯雜,地方官藉機苛徵,使民負擔超額。土產稅繁多,上千項目。1741 年,武主下令追徵逃戶積欠之稅;1765 年再令將前十年欠稅徵收完畢。
他將權力交給張福攣,導致剝削更劇。攣貪婪成性,侵吞公款,欺詐外商。傳稱洪水後,其家院滿地日曬金銀。加之對暹羅戰事失利、沉重稅賦、腐敗蔓延,阮政權愈加危弱。
下層官僚亦效仿奢靡之風,使貪污賄賂成常態。黎貴惇(Le Quy Don)在《府編雜錄》中記載,自大至小官皆慕奢華,建豪宅,用珍物,以財自炫。他形容其「視金銀如沙,視穀米如泥」,揮霍無度。
武主阮福闊於 1765 年七月七日逝世,享年五十一歲,葬於承天之羅溪縣之長泰陵。嘉隆朝時,被祀於皇城太祖廟。
其死後,第十六子阮福純(Nguyen Phuc Thuan)繼位,奉諡「智孝武王」。至丙寅 1806 年,嘉隆帝追尊其為「智孝武皇帝」,廟號世宗。
家庭
妃嬪
- 孝武皇后(張氏融 Trương Thị Dung):清化人,阮福淪(Nguyen Phuc Luan)之母。嘉隆追尊皇后,祀於太廟。
- 昭儀(陳氏舍 Tran Thi Xa):廣平人,受武主寵愛,初為貴人,後追封昭儀。
- 昭儀(阮福玉球 Nguyen Phuc Ngoc Cau):阮福田(Nguyen Phuc Dien)之女,與權臣張福攣共謀立阮福純。
後裔
(以下依原序逐一翻譯)
- 成公(阮福章/茶 Nguyen Phuc Chuong/Tra):孝武皇后張氏融之子。生前未任職,嘉隆追封成公。
- 孝康皇帝(阮福淪 Nguyen Phuc Luan):嘉隆帝之父,初封掌奇,被張福攣囚殺,後追尊為興祖。
- 內左章營(阮福文/卯 Nguyen Phuc Van/Mao):撫養嘉隆,被張福攣陷害,溺死於三江潟。
- 節制水陸成郡公(阮福強盛 Nguyen Phuc Cuong Thinh,1735–1775):病亡,後追封成郡公。
- 懿公(阮福德/保 Nguyen Phuc Duc/Bao):孝武皇后之子,後追封懿公,諡正直。
- 少傅(阮福質 Nguyen Phuc Chat,1737–1777):後歸嘉定,被追贈少傅。
- 掌營郡公(阮福敬 Nguyen Phuc Kinh):昭儀陳氏舍之子,被北軍囚死。
- 公子(阮福貴 Nguyen Phuc Quy,1739–?):陳氏舍之子。
- 孝宣皇帝(阮福浩 Nguyen Phuc Hao,1739–1760):葬於隆湖陵,嘉隆追尊皇帝。
- 該奇(阮福恩/昭 Nguyen Phuc An/Chieu,1740–1772):鄧氏竹之子。
- 該隊(阮福俊 Nguyen Phuc Tuan,1742–1764):陳氏舍之子,無嗣。
- 節制營郡公(阮福炎 Nguyen Phuc Viem,1743–1776):陳氏舍之子。
- 節制營公(阮福檀長 Nguyen Phuc Dan Truong,1744–1786):陳氏清之子。
- 阮福權(Nguyen Phuc Quyen,1749–?):被張福攣捕,死後為民所祀。
- 少保郡公(阮福耀 Nguyen Phuc Dieu,1753–?):阮福玉球之養子。
- 孝定皇帝(阮福純 Nguyen Phuc Thuan,1754–1777):被北軍擒亡。嘉隆追尊諡曰睿宗。
- 掌奇純郡公(阮福春 Nguyen Phuc Xuan,1757–1780):被謀殺,後追贈少傅。
- 公女(阮福宣 Nguyen Phuc Tuyen,1738–1809):嫁節制掌營阮公著(Nguyen Cong Tru)。
- 公女(阮福玉原 Nguyen Phuc Ngoc Nguyen,1726–1773):嫁張福勝(Truong Phuc Thang)。
- 公女(阮福玉清 Nguyen Phuc Ngoc Thanh,1740–1773):嫁內左掌營阮久郡(Nguyen Cuu Quan)。
- 公女(阮福玉愛 Nguyen Phuc Ngoc Ai,1743–1775):嫁節制掌營阮久冊(Nguyen Cuu Sach)。
- 公女(阮福玉妹 Nguyen Phuc Ngoc Muoi,1749–1825):嫁蔚尊資(Uy Ton Tu)。
- 公女(阮福玉群 Nguyen Phuc Ngoc Quan,1751–1776):嫁審保郡公宋福匡(Tong Phuc Khuong)。
- 公女(阮福樹 Nguyen Phuc Thu,1739–1775):嫁該奇張福樂(Truong Phuc Nhac)。
- 公女(阮福玉川/玉輝 Nguyen Phuc Ngoc Xuyen/Ngoc Huy):嫁該奇阮久囚(Nguyen Cuu Tu)。
參考文獻
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục(tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.