Khái quát
Hà Nội năm 1930. Nắng hầm hập. Nắng như đổ lửa. Mồ hôi túa ròng ròng trên khuôn mặt xanh xao vì đói, nhưng tay thư ký vẫn cắm cúi gõ trên chiếc máy chữ cũ rích. Chàng cao độ thước sáu, mảnh khảnh, mắt một mí, đôi quai hàm vuông thước thợ, vai vuông, tóc rễ tre rẽ lệch, lưng hơi gù và màu da mai mái. Chàng đang soạn thảo công văn cho ông chủ nhà in Viễn Đông (IDEO) chăng? Không! Chàng đang viết văn. Đã một lần ông chủ bắt gặp, chàng phải hứng lấy một cú tát đau điếng trên khuôn mặt non choẹt. Nỗi tủi nhục ấy vẫn còn nguyên vẹn, nhưng chàng vẫn quyết tâm tranh thủ thời gian để viết. Phải viết. Viết để tố cáo, để trút những căm hờn về cái xã hội nhố nhăng trên trang giấy đã ngả sang màu vàng úa. Chàng nghiến răng… Và trong trí nhớ chợt hiện lên hình ảnh một người bạn dong dỏng cao, miệng cười tươi, hai môi đỏ như son.
Đó là Đoàn Trần Nghiệp sinh năm 1908 tại làng Khúc Thủy, huyện Thanh Oai (Hà Đông), con của ông Đoàn Văn Ba và Định Thị Thuận hiện đang sống tại Hàng Bạc – Hà Nội. Trước đây, sau khi học hết cấp một ở trường Hàng Vôi, chàng nộp đơn thi vào trường sư phạm (sơ cấp) nhưng không trúng tuyển, đành phải đi kiếm việc làm để nuôi mẹ, bà ngoại. May mắn, chàng được được nhận làm thư ký cho nhà buôn Godard (nay là Cửa hàng Bách hóa tổng hợp). Tuổi 16 với biết bao hăm hở và ngây thơ nhìn cuộc đời bằng cặp mắt trong veo không gợi một chút bụi bặm, chàng đã được gặp Đoàn Trần Nghiệp lớn hơn chàng năm tuổi. Cả hai kết bạn với nhau. Chính Nghiệp là người đầu tiên đã nói cho chàng nghe về thực trạng của xã hội, để chàng không ảo tưởng về những ngày kiếm cơm bằng máu và nước mắt, để sau này khi viết văn, những trang văn của chàng ít nhiều có sự tác động sau những lần trò chuyện tâm tình với anh Nghiệp. Nhưng làm việc tại đây không bao lâu thì cả hai cùng bị đuổi việc. Chàng xin vào hãng IDEO để làm chân thư ký đánh máy, còn Nghiệp gia nhập vào Việt Nam Quốc dân Đảng, có bí danh là Doãn, được giao nhiệm vụ coi kho, làm sổ sách cho Việt Nam khách sạn – cơ quan kinh tài của Đảng- mọi người thường gọi đùa là “thầy ký” và do nhỏ con nên mới “chết tên” là Ký Con. Ừ thì mình cũng là “thầy ký” nhưng “sáng vác ô đi tối vác về” tẻ nhạt biết bao nhiêu, người ta sai gì làm nấy, nhiều lúc lại bị mắng oan nhục hơn con chó! Nghĩ vậy, chàng lại tiếp tục cày những trang văn bằng thái độ căm thù và phê phán không khoan nhượng vào xã hội thối nát. Giữa lúc nguồn cảm hứng đang ùa vào trang viết thì ông chủ hãng lặng lẽ bước vào. Nhìn thấy mớ giấy ngổn ngang trên bàn làm việc, biết thư ký đang tranh thủ viết văn trong giờ làm việc như những lần trước, không nói không rằng, ông ta chậm rãi bước đến và vung thẳng ba-tong vào đầu của người đang say sưa thả hồn theo văn chương. Chàng bừng tỉnh. Một dòng máu đỏ tươi chảy ròng ròng xuống khuôn mặt. Chàng đứng dậy. Điên tiết. Cầm luôn cả chiếc bàn máy đánh chữ ném thẳng vào ông chủ. Ngày hôm sau chàng nghỉ việc. Từ đây chàng chính thức sống bằng nghề viết văn và nổi tiếng với cái tên không lẫn lộn trong văn học sử Việt Nam: Vũ Trọng Phụng.
Đó là một nhà văn mà sau này Tiến sĩ sử học Peter Zinoman – dạy khoa Lịch sử, Đại học California, Berkeley (Hoa Kỳ) khi nghiên cứu về văn học Việt Nam đã đánh giá: “Tôi có cảm tưởng rằng Vũ Trọng Phụng là nhà văn lớn, rất lớn, không kém nhà văn lớn nào của các nền văn học khác. Càng đọc văn ông, tôi càng ngạc nhiên về tuổi trẻ, sức trẻ trong sự sáng tạo của ông. Vũ Trọng Phụng chỉ sống đến 27 tuổi. Ở tuổi ấy, nhà văn Pháp Balzac còn hầu như chưa viết được gì đáng kể. Tôi chưa có dịp nghiên cứu kỹ văn học châu Á nói chung cũng như Đông Nam Á nói riêng, nên chưa có thể nói gì về vị trí của Vũ Trọng Phụng trong nền văn học đó. Đọc Vũ Trọng Phụng, tôi thường nghĩ đến nhà văn Anh George Owell. Cả Vũ Trọng Phụng lẫn Owell (1903 – 1950) đều chú ý đến ba vấn đề lớn của nhân loại thế kỷ XX là chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát-xít. Chỉ có điều Owell gắn với nước Anh, với châu Âu, tức là với trung tâm của đời sống trí thức, dễ dàng nắm bắt các nguồn thông tin.
Vũ Trọng Phụng thì sống ở một nước thuộc địa lạc hậu, thiếu thốn rất nhiều, song ông đã chạm đến những sự thật lớn, đã phản ánh khá chính xác những vấn đề lớn của thời đại. Ngòi bút văn học của Vũ Trọng Phụng có sức chinh phục nghệ thuật rất lớn. Số đỏ là một tác phẩm tuyệt vời” (Thể thao và Văn hóa số 22/10/2002). Thật vậy, chỉ sống trên trần gian này vỏn vẹn 27 năm, nhưng Vũ Trọng Phụng đã kịp trở thành nhà văn lớn, đã lao động cật lực để hoàn thành một khối lượng tác phẩm đồ sộ: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Một huyện ăn Tết, Lục xì, Vẽ nhọ bôi hề... (phóng sự); Dứt tình, Lấy nhau vì tình, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ, Trúng số độc đắc, Quý phái, Người tù được tha… (tiểu thuyết); Không một tiếng vang, Tài tử, Phân bua, Tết cụ cố... (kịch); Đời cạo giấy (ký sự); Giết mẹ... (dịch vở Luccrèce Borgia của V.Huygo) và hàng trăm truyện ngắn, bài báo, bút chiến văn học v.v…
Cho đến nay vẫn chưa nhà văn Việt Nam nào vượt qua ông về việc xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Nếu văn học thế giới đã có những nhân vật điển hình như Hamlet (W. Shakespeaere), A. Q (Lỗ Tấn), Don Kichotte (M. de Cervantes), Tào Tháo, Khổng Minh (La Quán Trung), Eugénie Grandet (Honoré de Balzac) v.v… hoặc trong văn học Việt Nam có Chí Phèo (Nam Cao), kép Tư Bền (Nguyễn Công Hoan), chị Dậu (Ngô Tất Tố)… thì với Vũ Trọng Phụng, ông đã có những nhân vật điển hình như Xuân Tóc Đỏ, Nghị Hách, Thị Mịch… mà hầu những ai đã đọc tác phẩm thì khó quên được những câu “cửa miệng” mà nhân vật của ông đã thốt ra: “Biết rồi! Biết rồi, khổ lắm… nói mãi!”; “Nước mẹ gì nữa!”, “Vâng, vâng tôi, tôi là người chồng mọc sừng” v.v… Nổi tiếng nhất vẫn là Xuân Tóc Đỏ (Số đỏ), từ một kẻ đàng điếm, thất học nhặt banh trong sân quần vợt đã leo vào giới thượng lưu, trở thành nhà cải cách xã hội! Sau này, nhiều nhà thơ, nhà văn vẫn tâm đắc:
Xuân Tóc Đỏ bịp đời, cực giỏi leo thang
Đã bị anh bêu đầu trên ngọn bút
(Trần Lê Văn)
Đã qua rồi một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân Tóc Đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ
(Xuân Sách)
Thân thế
Vũ Trọng Phụng có tên cúng cơm là Tý, quê gốc ở Bần Yên Nhân (làng Hảo), huyện Mỹ Hào (nay thuộc Hưng Yên), nhưng sinh ngày 20/10/1912 tại Hà Nội trong một gia đình mà nói như nhà văn Ngô Tất Tố là “nghèo gia truyền”, con ông Vũ Văn Lân và bà Phạm Thị Khánh. Lúc Vũ Trọng Phụng mới bảy tháng tuổi thì bố mất vì bệnh ho lao, mẹ góa chồng từ năm 24 tuổi nhưng không “đi bước nữa” mà ở vậy nuôi con, nuôi mẹ bằng nghề khâu vá thuê. Gia đình có lúc ở phố Hàng Gai, nhưng chủ yếu ở phố Hàng Bạc. Từ năm 1929, Vũ Trọng Phụng bắt đầu sống bằng nghề viết báo và sáng tác văn học, thường ký bút danh Thiên Hư, Phụng Hoàng và tên thật.
Tờ báo mà ông cộng tác đầu tiên là tờ Ngọ báo với sự khuyến khích của nhà văn đàn anh đi trước ông về nghề là Tam Lang, tác giả Tôi kéo xe – thiên phóng sự đầu tiên của nước ta. Sau khi bị đuổi việc ở nhà in I.D.E.O, ông xin vào làm việc tại tòa báo này với nhiệm vụ đánh máy bên trị sự và viết bài bên tòa soạn. Nhưng ít lâu sau, ông cũng bị đuổi do bê trễ công việc trị sự vì chỉ lo viết văn. Bẵng đi một thời gian “im hơi lặng tiếng”, Vũ Trọng Phụng đột ngột xuất hiện lại trên trường văn trận bút. Với thiên phóng sự Cạm bẫy người in từng kỳ trên báo Nhật tân công chúng bắt đầu chú ý đến văn tài của ông. Tam Lang cho biết: “Rồi liên tiếp, hoặc trên tờ báo ấy, hoặc trên tờ báo khác, những thiên phóng sự khác kế tiếp nhau ra đời nào Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô v.v…
Đọc những thiên phóng sự ấy, tôi nhận thấy rằng Vũ Trọng Phụng về mặt phóng sự – một lối văn do tôi khởi xướng đầu tiên – đã bỏ tôi xa lắm”. Thật khó lý giải, tại sao chỉ với tuổi đời ngoài hai mươi nhưng ngòi bút của ông đã xoáy mãnh liệt vào được tận cùng những vấn đề “cặn bã” của xã hội? Mà ở thể loại này, để trang viết có sức sống, thu hút người đọc thì người viết phải sống thật, phải lăn lộn vào trong lãnh vực ấy, chứ không thể viết bằng sự tưởng tượng, hư cấu. Đã thế, trong sáng tác văn học Vũ Trọng Phụng còn là người “bất mãn thường trực” với hiện thực xã hội. “Tất cả cái sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng là phơi bày, là chế nhạo tất cả những cái rởm, cái xấu, cái bần tiện, cái đồi bại của một hạng người, của một thời đại. Vũ Trọng Phụng đối với thời đại của Vũ Trọng Phụng, cũng giống như Balzac đối với thời đại của Balzac. Hai văn tài tuy có cách biệt nhưng ở đâu người ta cũng thấy một cái giọng chua chát, bực dọc ấy” (Lưu Trọng Lư). Trang viết của ông hừng hực lửa căm hờn tố cáo sự bất công, thối nát của xã hội; phê phán đạo đức giả, đua đòi học làm sang, ăn chơi trác táng của lớp thượng lưu trí thức “chó đểu”; miệt thị lớp vô sản lưu manh; mạt sát mánh khoé làm tiền của bọn quan lại, nghị viên… mà trong trang văn ấy có người cho là đầy rẫy chi tiết “dâm đãng” quá, đồi trụy quá, ô uế quá, vô đạo đức quá, tàn nhẫn quá!
Con người Vũ Trọng Phụng
Thế thì trong đời sống, Vũ Trọng Phụng là con người như thế nào?
Người ta nói “Văn tức là người”, nhưng điều này không đúng với tác giả Số đỏ. Qua những hồi ký của các nhà văn sống cùng thời là bạn bè với ông, ta thấy lại hiện lên một con người khác hẳn. Nhà văn Lan Khai cho biết có lần Vũ Trọng Phụng tâm sự: “Tôi ấy à? Tôi sợ nhất là những lá thư của bạn. Là vì nhỡ bố nào có hứng hỏi vay tiền thì thực là tai vạ. Trong chỗ chúng bạn, tôi ghét nhất là sự vay mượn. Ở đâu mà đồng tiền lọt đến, sự tốt đẹp không còn nữa…”; “Anh không bao giờ để ai mời đi ăn một bữa, đi hát một chầu mà không tìm hết cách đáp lại ngay. Nhà văn này tặng anh một cuốn sách; anh tặng lại ngay cuốn khác liền. Anh cho tình bạn có thế mới bền. Anh rất ghét sự bừa bãi là cái tật chung của nghệ sĩ, anh sòng phẳng đến nỗi một lần Lưu Trọng Lư đã gắt ầm lên, gọi anh là “viên chức trong làng văn” (Lan Khai). “Về tiền nong thằng Phụng phân minh về chỗ tài thượng lắm, nhưng nhiều khi hắn cẩn thận như một người công chức. Về xã giao hắn quan tâm nhất về chỗ kẻ cười người khóc. Ai phúng nhà mình một nghìn vàng, một thẻ hương, ai mừng một chai rượu, hắn đều có biên cả. Để rồi chờ đợi mà biếu lại, mà mừng lại. Có ai quen Phụng, dầu là sơ sơ, mà ốm, Phụng là người đầu tiên vào nhà thương để thăm hỏi” (Nguyễn Tuân); “Vũ Trọng Phụng là một nghệ sĩ không bừa bãi. Anh thủ tín và giữ lễ như một nhà nho tự trọng, một nhà đạo đức chính tông. Không bao giờ anh chịu sai lời hẹn với nhà xuất bản, ông chủ báo khi đã hứa viết bài, đưa tác phẩm. Trước mặt anh một tấm thời khắc biểu đóng trên tường, kèm bên một tờ giấy lớn, viết bằng mực đỏ ghi ngày tháng phải viết xong và danh sách những người đã đặt tiền mua văn phẩm. Anh làm việc chăm chỉ như một cậu học trò nghèo và ngày đêm lo thanh toán nợ văn chương, không muốn để ai được phép làm tổn thương danh dự và lòng tự trọng” (Ngọc Giao); “Không có tiền thì không tiêu, anh không hỏi vay của ai bao giờ và cũng ít phàn nàn với ai rằng mình khổ” (Vũ Bằng); “Đó là một con người thật thà đôn hậu, có nghĩa có tình, có trước có sau, hoàn toàn không giống như trong văn phong của anh” (Bùi Huy Phồn)…
Đã qua rồi cái thời mà thiên hạ quan niệm là người nổi tiếng, người của công chúng thì được quyền sống “khác người” nghĩa là cứ chơi bời hút xách, nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng, sống với mối tình tay ba tay tư… miễn là có tác phẩm hay, có vai diễn “để đời” (!) Giữa lúc nhà văn Việt Nam ít nhiều có người sống rất “nghệ sĩ” như thế thì trường hợp của Vũ Trọng Phụng thật đáng quý. Vì nghèo, phải cật lực viết văn để nuôi bà, nuôi mẹ rồi sau này nuôi vợ, con gái nên ông phải tằn tiện từng xu. Hàng ngày, đi đến tòa báo chỉ dám cuốc bộ; không dám ăn những món ăn đắt tiền, chỉ quanh quẩn với phở xào, đậu rán, bún chả, bún bung… Có lần, được gặp thi sĩ nổi danh nhất thời bấy giờ là Tản Đà, với lòng ngưỡng mộ chân thành, Vũ Trọng Phụng liền chạy đi mua một cái gì đó mà theo ông là “thức ngon vật lạ” để mời tác giả Thề non nước. Nhưng khi vừa rụt rè, vừa thành kính: “Mời cụ xơi kẹo lạc” thì Tản Đà quay lại: “Ông bảo cái gì?”, Vũ Trọng Phụng nhắc lại: “Dạ, kẹo lạc va ni. Giòn và thơm lắm!”. Không ngờ nhà thi sĩ lại vốn là người sành ăn bậc nhất, người đã nâng ẩm thực lên thành một nghệ thuật, một lạc thú ở đời đã “dội ngay một gáo nước lạnh” vào sự hăm hở, nhiệt tình ấy: “Kẹo lạc, ăn ra cái quái gì”. Ở đây, chưa nói đến thái độ “kềnh càng” vốn có của Tản Đà, nhưng qua đó để thấy với Vũ Trọng Phụng thì ngay cả những món quà rẻ tiền tầm thường như thế ông cũng chỉ mua khi thật cần thiết mà thôi. Trước lúc lìa đời vì vi trùng Koor đục thủng nát lá phổi, ông than thở: “Giá mỗi ngày tôi có một miếng bít-tết để ăn thì đâu đã đến nông nỗi này”.
Chỉ vài chi tiết nhỏ, đủ thấy Vũ Trọng Phụng xa lạ với chính những nhân vật do ông sáng tạo ra. Ngay cả khi viết văn, ông cũng chỉ dám dùng thứ giấy 6 xu một thếp đã kẻ sẵn, dùng ngòi bút học trò chấm mực xanh. Có một điều rất cảm động là mỗi đêm ông ngồi viết văn, bao giờ bà mẹ nhân hậu cũng ngồi bên cạnh quạt mát, xua muỗi cho con trai mình. Trong thời gian này, tình yêu đã đến với Vũ Trọng Phụng. Ông quen với bà Vũ Mî Lương – con gái của ông Cửu Tích, xã Nhân Mục (tên Nôm là làng Mọc). Mỗi tuần ông thường thức thâu đêm viết cho người yêu một lá thư tình dài 5, 6 trang giấy. Hai bên gia đình đều nghèo nên chuyện đám cưới của họ cứ lần lữa mãi. Mãi đến đầu năm 1938 dự định hôn nhân mới trở thành sự thật. Hôm nhận được thiệp hồng, nhà văn Tam Lang đã ngẫm nghĩ: “Tôi lo hơn mừng cho anh. Tôi nghĩ bụng: một cây bút, mặc dầu không lúc nào ráo mực, làm sao đủ cung cho mấy nhân mạng những nhu cầu trong cái thời buổi khó khăn này?”. Để đủ tiền cưới vợ, nhà văn của chúng ta phải làm việc cật lực. Hôm đám cưới của ông rất đông bạn bè là nhà văn, nhà báo đi dự. Thời ấy trẻ con trong làng có lệ đón đường các đám nhà trai đến rước dâu. Chúng giăng một sợi dây dài ngang đường, khiến đoàn đón dâu phải dừng lại, cho chúng món tiền nhỏ gọi là tiền “giăng dây” thì chúng mới bỏ dây để nhà trai tiếp tục đi vào nhà gái. Nhưng đám cưới Vũ Trọng Phụng, vì biết ông nghèo nên người lớn đã khuyên bọn trẻ bỏ lệ ấy và dọa trong đoàn nhà trai có nhiều nhà văn, nhà báo sẽ bị đưa lên mặt báo… Đám cưới xong, bà Vũ Mî Lương về sống với Vũ Trọng Phụng ở phố Hàng Bạc. Hai người chỉ có một con gái duy nhất, đặt tên Vũ Mî Hằng.
Do làm việc ghê gớm nên sức khỏe của ông sa sút rất nhanh, ông bị lao, lúc nào cũng đau ngực, đau sườn, hâm hấp sốt và sắc mặt xanh như người hết máu. Sau khi ông mất, nhà văn Lê Văn Trương có đến nhà ông và nhận xét: “Nhà rất hẹp lòng. Một chiếc giường kê sát tường, chỉ còn dành cho một lối đi để đến một cái tủ “búp-phê”, trên đó tôi nhìn thấy bức ảnh của anh Vũ Trọng Phụng, dựng sau một bình hương. Cạnh chiếc “búp-phê”, một cái tủ kính toàn sách, di tích của nhà văn, của một người con, của một người chồng yêu quý. Cạnh đầu giường một chồng thúng mủng và mấy cái vại kê liền ngay cửa ra đằng sau. Tất cả tố cáo sự nghèo nàn”. Theo nhà văn Ngô Tất Tố “Người khác nghe những chuyện đó, có lẽ cho ông xấu số. Nhưng tôi, tôi nhận thấy nó chính là cái may của ông” vì tác giả Tắt đèn cho rằng: “Hình như riêng ở phương Đông, cái nghèo cũng là cái trường đúc nên văn sĩ”. Quan niệm này cũng rất cần thiết để chúng ta suy nghĩ khi nhìn lại đời sống nhà văn ta thời trước Cách mạng tháng Tám.
Khi viết tập phê bình văn học gần như xuất hiện đầu tiên ở nước ta, Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã xếp Vũ Trọng Phụng vào lớp nhà văn chuyên viết phóng sự cùng với Tam Lang, Trọng Lang, Ngô Tất Tố. Tất nhiên, sự sắp xếp như thế chỉ phù hợp với thời kỳ đầu cầm bút của Vũ Trọng Phụng. Đây là thời kỳ mà sau khi nổi đình nổi đám với vở kịch Không một tiếng vang, ông đã tung ra một loạt phóng sự phản ánh được những số phận con người trong nhiều ngóc ngách của xã hội. Mà đặc điểm độc đáo nhất trong phóng sự của ông theo chúng tôi vẫn là yếu tố bi hài, hài hước một cách tự nhiên không lẫn lộn với ai khác. Trong Lục xì, ông điều tra về nạn mãi dâm, nói lên nỗi tủi nhục của người phụ nữ trong xã hội cũ; Cạm bẫy người lật tẩy các mánh khóe cờ gian bạc lận; Vẽ nhọ bôi hề, điều tra về các rạp hát và đời đào kép; Hải Phòng 1934, viết về đời sống cơ cực của công nhân, phu khuân vác tại bến tàu v.v…
Sức viết như thế là dữ dội, phẩm chất của một nhà báo lành nghề đã được thể hiện phong phú trên mặt báo và sẵn sàng sống chết với nghề. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà ông được dư luận xã hội phong là “Ông vua phóng sự đất Bắc”. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng, Vũ Trọng Phụng là “một cây bút phóng sự sắc sảo và khôn ngoan, sau ông luyện nó ra một cây bút tiểu thuyết, nhưng cái giọng phóng sự vẫn còn”. Tương tự như vậy, nhà phê bình Văn Tân cũng cho rằng: “Vũ Trọng Phụng dường như sinh ra để viết phóng sự và tiểu thuyết (phóng sự của Vũ Trọng Phụng có yếu tố tiểu thuyết và tiểu thuyết của ông thường có nhiều chất phóng sự): một óc quan sát hết sức mau lẹ và sắc sảo một khả năng ký họa tài tình, có thể tóm tắt được rất nhanh những mẫu người khác nhau bằng vài nét phác thảo bạo tay. Nhiều chương viết thật đầy tài năng, như chiếu lên trước mặt người đọc những đoạn phim vừa có giá trị tư liệu vừa có giá trị nghệ thuật, đặc biệt là những đoạn đối thoại đầy kịch tính bằng ngôn ngữ và giọng điệu “nghề nghiệp”. Vũ Trọng phụng cũng có cái tài mô tả những cảnh đám đông láo nháo, hỗn tạp, phơi bày thực trạng đời sống những người thuộc từng lớp dưới đáy của xã hội thành thị ngày trước. Ông còn có một lối kể chuyện hết sức hoạt bát và tự nhiên, lắm lúcnhư là trò chuyện hay tranh cãi trực tiếp cùng người đọc, với những “sao lại không!”, “chứ sao?”, “thì thôi?! v.v… một cách rất thoải mái và vui. Để dẫn dắt các tình tiết và tổ chức các tình huống một cách linh hoạt, nhà văn đã sáng tạo ra một nhân vật khá độc đáo: nhân vật tôi. Một nhân vật không phải Vũ Trọng Phụng nhưng lại rất Vũ Trọng Phụng: Ăn nói hóm hỉnh với những cách ví von bất ngờ mà ác, những nhận xét, những lời bình luận hết sức thông minh, sắc sảo, và có duyên”.
Sự nghiệp sáng tác
Thật vậy, trong tiểu thuyết của ông, ta thấy bên cạnh những đoạn văn, những tình tiết cay độc, tàn nhẫn thì vẫn ẩn hiện đâu đó những tiếng cười châm biếm sâu sắc. Nét độc đáo nhất trong nghệ thuật tiếng cười của Vũ Trọng Phụng là ông đã biết tiếp thu truyền thống folklore Việt Nam, biết tiếp nhận mọi vấn đề thời sự đang diễn ra bằng con mắt của một nhà báo xông xáo để tạo nên những tình huống cười và những kiểu cười rất khác nhau. Hầu như các vấn đề nổi cộm trong nửa đầu thế kỷ XX như phong trào Bình dân, thể thao vui vẻ trẻ trung, chấn hưng tôn giáo, Âu hóa… cũng đều được ông sử dụng làm chất liệu gây cười trong tác phẩm của mình. Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Trung đã viết Tiếng cười Vũ Trọng Phụng (NXB Văn hóa Thông tin – 2002) có nhận xét chính xác: “Đúng là chủ âm giễu nhại chi phối tất cả, bao trùm tất cả, khiến tiếng cười của ông đa thanh, đa điệu, như chính bản hợp xướng của “cuộc đối thoại lớn” của đời sống. Song đó là bản hợp xướng vừa thống nhất trong tổng thể, vừa hòa trộn nhiều cung bậc, giọng điệu khác nhau, nó hài hòa trong những đối lập, những đột ngột phi lý, những đứt quãng lạ lẫm đến hoang mang, thách thức táo bạo với logic thông thường, đề tạo ra một phản logic, phản ngữ pháp làm chóng mặt những người đọc dễ dãi, phản ánh đúng cái bề bộn hỗn tạp của đời sống xã hội. Tiếng cười của ông không phải không có lúc quá đà, nhưng phần lớn là trúng đích, lúc thân mật bông lơn suồng sã, lúc gay gắt quyết liệt, lúc tiêu diệt, lúc hồi sinh, lúc đau đớn, lúc tươi trẻ… Tất cả đều cất lên từ chữ, từ văn bản Vũ Trọng Phụng, ngôn ngữ gắn với giọng điệu, chữ vừa là chữ, vừa là ngoài chữ gắn với một ngữ nghĩa dày đặc, sâu sắc, mãnh liệt khủng khiếp. Chỉ có tài năng lớn mới tạo ra sức sống mãnh liệt cho nghệ thuật như thế” (tr. 189 – 190)
So với các tiểu thuyết Dứt tình, Lấy nhau vì tình, Vỡ đê, Làm đĩ, Trúng số độc đắc, Quý phái, Người tù được tha… thì Số đỏ là tác phẩm nhiều chất hoạt kê hơn cả. Về tác phẩm này, giá trị nghệ thuật của nó đã được các nhà nghiên cứu, nhà văn ghi nhận: “đáng được gọi là những kiệt tác” (Nguyễn Đăng Mạnh); “cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho một nền văn học” (Nguyễn Khải); “là không ai bắt chước được, không ai theo kịp được” (Vũ Bằng); “là một tác phẩm độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại xét về mặt thể loại” (Hoàng Thiếu Sơn) v.v… Trước khi đi vào tóm tắt nội dung, ta thử đọc một đoạn văn diễn tả lúc Xuân Tóc Đỏ đang đi với bạn tình thì có chàng thi sĩ trẻ tuổi đi sau lưng đọc thơ trêu ghẹo: “Cử chỉ của nhà thi sĩ khiến Tuyết phải nói:
– Thế có cảm không, hở anh? Ấy anh chàng theo đuổi tôi đã mấy tháng nay rồi đấy. Anh chàng thì cảm quá rồi mà mình lại không cảm kia chứ!
Xuân Tóc Đỏ nghiến răng hỏi dồn:
– Có thực nó cảm không?
– Thì lại còn thế nào mới là cảm nữa?
Trong óc Xuân lúc ấy có một luồng tư tưởng văn chương chạy qua. Nó tự thấy đáng hổ thẹn, nếu không đọc thơ như kẻ tình địch. Mà muốn ngâm thơ thì nào có khó gì? Nó nhớ ngay đến những bài thơ nó đã học làu làu mấy năm xưa khi còn làm nghề bán nói trước máy phóng thanh cho những nhà bán thuốc. Nó bèn bảo Tuyết:
– Em muốn anh ứng khẩu một bài thơ cho gã ấy không?
Tuyết vỗ tay reo:
– Nếu được như thế thì còn danh giá nào bằng!
Xuân Tóc Đỏ bèn chắp tay sau lưng, tiến đến gần nhà thi sĩ, ngâm nga rất dõng dạc:
Dù già cả, dù ấu nhi,
Sương hàn, nắng gió bất kỳ – biết đâu?
Sinh ra cảm, sốt nhức đầu,
Da khô mình nóng, âu sầu, ủ ê…
Đêm ngày nói sảng, nói mê…
Chân tay mệt mỏi, khó bề yên vui.
Vậy xin mách bảo đôi lời:
“Nhức đầu giải cảm” liệu thời dùng ngay!
Xuân Tóc Đỏ còn muốn đọc làu làu nữa, nhưng thiếu niên vội xua chịu hàng:
– Xin lỗi ngài! Thế thôi cũng đủ là một bài học cho bỉ nhân… tâm phục! Vậy để rồi bỉ nhân luyện lối trào phúng thì mới mong đối đáp ngài được.
Nói xong, nhà… thi sĩ ấy cúi đầu kính cẩn chào Xuân rồi chuồn mất với cái mặt đỏ những hổ thẹn. Xuân đến gần Tuyết, được khen:
– Giời ơi, anh là một bậc kỳ tài! Thật là xuất khẩu thành chương. Mà thơ như thế thì thật trào phúng lắm không kém gì Tú Mỡ. Nhưng mà thơ anh sao có nhiều mùi thuốc thế?
Không biết cắt nghĩa ra sao, Xuân bèn đố lại:
– Đố biết đấy.
Tuyết tự trả lời cho câu của mình:
– À phải rồi! Tại anh đã học trường thuốc nên thơ anh cũng có mùi khoa học chứ gì? Thật là văn chương đốc – tờ đấy!”
Lần đầu tiên, Số đỏ được in từng kỳ trên Hà Nội báo từ số 40 ngày 7/10/1936, hai năm sau, NXB Lê Cường in thành sách. Trong Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam của Viện Văn học (NXB Văn học – 2001), nhà nghiên cứu Mai Hương tóm tắt: “Xuân (thường gọi là Xuân Tóc Đỏ) – nhân vật chính của tiểu thuyết, vốn là một đứa trẻ mồ côi, từng sống vạ vật khắp các vỉa hè Hà Nội với đủ nghề “hạ lưu” (trèo me, trèo sấu, bán phá xa, nhật trình, chạy cờ rạp hát, đọc quảng cáo cho một ông vua thuốclậu…). Đang làm nghề nhặt banh cho một hội quán thể thao, Xuân bị đuổi việc vì “bị bắt quả tang nhìn trộm một cô đầm lúc cô thay váy”. Được bà Phó Đoan – một me Tây góa dâm đãng thương tình giới thiệu Xuân đến làm việc ở hiệu Âu hóa, chuyên may các mốt y phục “phục vụ phái đẹp trong công cuộc Âu hóa”, của vợ chồng Văn Minh, cháu bà Phó Đoan. Sốt sắng với phong trào thể thao, bà Phó Đoan đã cho phá khu vườn hoa để xây sân quần vợt. Xuân Tóc Đỏ lại được giao huấn luyện quần vợt cho bà Phó Đoan và vợ Văn Minh. Từ đó, Xuân bắt đầu len những bước đầu tiên vào giới thượng lưu.
Nhờ vốn liếng có được từ cái nghề “hạ lưu” quảng cáo thuốc lậu trước đó và được Văn Minh lỡ lời giới thiệu là “một sinh viên trường thuốc”, rồi lại có công làm cho cụ tổ chết – điều mà con cháu cụ đã mong đợi từ lâu – Xuân được gia đình Văn Minh nể phục. Nhờ thế, từ một kẻ lưu manh, Xuân nghiễm nhiên được tôn sùng trở thành “đốc tờ Xuân”, “nhà quản lý tiệm may Âu hóa”, “nhà cải cách xã hội”, “nhà triết học”, “nhà thi sĩ”, “giáo sư quần vợt”. Hắn gia nhập xã hội thượng lưu, thường xuyên giao tiếp với giới thượng lưu: Đốc tờ Trực Ngôn, nhà chính trị bảo hoàng Giô-dép Thiết, ông Phán dây thép mọc sừng, họa sĩ thiết kế mốt quần áo Típ-phờ-nờ, gia đình bà Phó Đoan, cụ Phó Hồng danh giá… Cô Tuyết – con gái cụ cố Hồng, em gái ông Văn Minh – kính nể và đem lòng yêu Xuân, rủ hắn thuê phòng ở khách sạn Bồng Lai và mong được hắn “hại cả đời con gái” của mình. Bà Phó Đoan “danh giá” khát khao được và đã được hắn “làm tình”. Bà còn mời hắn làm người giáo dục, chăm sóc cậu“con giời, con phật” quý tử của bà. Sư Tăng Phú mời hắn làm cố vấn cho báo Gõ mõ để góp phần chấn hưng đạo Phật. Hai nhà cảnh sát Min-Đơ, Min-Toa tâng bốc hắn là “Me sừ Xuân, giáo sư quần vợt, cái hy vọng của Bắc Kỳ”… Cứ thế càng ngày tên tuổi Xuân càng nổi như cồn và Xuân càng được mọi người kính phục, nể sợ. Duy có vợ chồng Văn Minh là người biết đến ngọn ngành lai lịch của Xuân, nhưng lại ở tình thế “há miệng mắc quai”, đành nuốt hận thừa nhận hắn, thậm chí đã có lúc phải nhũn với hắn và tô vẽ cho hắn để vớt vát chút sĩ diện cho gia thế nếu như phải gả Tuyết – cô em gái của Văn Minh đã mang tai tiếng hư hỏng với Xuân- cho hắn. Văn Minh buộc lòng phải đưa Xuân đến Tổng cục thể thao hội quán đăng ký làm tài tử quần vợt tham gia dự giải vô địch trong dịp vua Xiêm sang thăm Bắc Kỳ. Từ đấy Xuân “đã có một địa vị to tát trong đám những bậc thượng lưu”. Cụ cố Hồng tuyên bố gả Tuyết cho Xuân. Vị hôn phu của Tuyết biết chuyện, bàn mưu tính kế hại hắn để trả thù. Nhưng may nghe lỏm được, biết trước và bằng mưu vặt, Xuân đã gạt được mọi hiểm họa sang cho hai đối thủ quần vợt lợi hại của hắn – hai nhà quán quân Hải và Thục. Dịp may hiếm có đã đến. Trong khi hai nhà quán quân đã nằm trong nhà giam, Xuân đường hoàng là người “đại diện cho Hà Thành, để giữ cái danh dự cho Tổ quốc trước nhà vô địch Xiêm”, trước hai đức vua Xiêm – Việt, đông đảo các quan khách và hàng vạn công chúng Hà Thành. Trận đấu đang hồi gay cấn, Xuân được lệnh nhường phần thắng cho nhà vô địch Xiêm, để giữ hòa khí hai nước, tránh cho dân, cho nước cái thảm họa núi xương, sông máu. Trên đường về, Xuân ngồi trên mui xe, hùng hồn diễn thuyết, giải thích cho đám “quần chúng nông nổi” về “lòng hy sinh cao thượng” của người biết “xả thân cứu nước” đã phải chối từ danh vọng riêng để “góp một phần vào việc tiến bộ trong trật tự hòa bình của Tổ quốc”. Với những thành tích đó, Xuân đã leo lên đến tột đỉnh vinh quang. Từ một thằng lưu manh hắn đã thành “vĩ nhân”, anh hùng cứu nước’”. Hắn được phủ Toàn quyền quyết định ân thưởng Bắc đẩu Bội tinh; được hội Khai trí Tiến đức mời vào hội; thứ ngôn ngữ hạ lưu của hắn được trịnh trọng ghi vào từ điển. Xuân trở thành chồng của Tuyết, chàng rể sáng giá của gia đình cụ Cố Hồng danh giá. Thông qua nhân vật Xuân Tóc Đỏ và thế giới nhân vật với đủ các hạng người kỳ quặc, phi lý, Vũ Trọng Phụng đã đả kích sâu cay xã hội đồi bại,nhố nhăng, vô nghĩa lý đương thời, mà cái trục trọng tâm của nó là phong trào Âu hóa, với tất cả sự bi hài của cái phong trào “Âu hóa”, “thể thao”, “giải phóng nữ quyền”, dưới danh nghĩa “văn minh”, “tiến bộ”, “cải cách xã hội”. Thực chất đó chỉ là một xã hội bịp bợm: Âu hóa bịp, cải cách bịp, khoa học bịp, thể thao bịp, tu hành bịp đến cả vĩ nhân anh hùng cũng bịp…
Giá trị hiện thực sâu sắc của Số đỏ chính là ở sự phát hiện sắc sảo và chân xác ấy về bản chất bịp và cơ chế bịp của những ông chủ, bà chủ của xã hội thành thị Việt Nam thời Pháp thuộc, thông qua vận mệnh của Xuân Tóc Đỏ. Với Số đỏ Vũ Trọng Phụng đã đạt tới một nghệ thuật trào phúng hài hước hoàn hảo. Thông qua những tình tiết, tình huống hài hước và một loạt chân dung ký họa, biếm họa hết sức độc đáo, sinh động cùng với những thủ pháp gây cười độc đáo trên nhiều khía cạnh: dùng từ, đặt câu, cách ví von so sánh, cách tả người, tả cảnh, cho đến lời nói của nhân vật Số đỏ đã gây được tiếng cười có ý nghĩa phủ định cả một xã hội nhố nhăng, lố bịch và khôi hài. Số đỏ là một thành tựu nghệ thuật đặc sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết trào phúng” (tr.341- 343).
Sống một cuộc đời như người nông dân cần mẫn cày đến kiệt sức trên cánh đồng chữ nghĩa, ngoài những tác phẩm gây chấn động dư luận, Vũ Trọng Phụng còn tham gia vào nhiều trận bút chiến nhằm bảo vệ khuynh hướng sáng tác của mình. Những ngày cuối cùng của cuộc đời ông, nhà văn Ngô Tất Tố có kể lại thật cảm động: “Ông đau từ mấy năm trước. Trước khi chết độ sáu bảy tháng, đã có một đêm nguy kịch. Sáng sớm hôm sau, ông cho gọi tôi lên nhà thăm bệnh và nói cho tôi biết rằng: Chiều hôm trướcmột viên bác sĩ chữa bệnh cho ông đã khuyên ông đi nhà thương. Trong đêm vừa rồi ông đã làm sẵn mấy bản chúc thư. Ông bị đau phổi, vẫn sốt hâm hấp, ho ra đờm đặc. Từ mấy bữa trước, không thể gượng ngồi dậy được và chỉ nằm được một bên sườn. Ho cũng đau, nói cũng đau, hễ hơi trở mình thì ở trong sườn, nghe có tiếng nước óc ách. Bấy giờ người ông tuy đã tiêu tước, nhưng mạch hai tay vẫn còn có lực. Sau khi coi mạch và hỏi các chứng, tôi kê cho ông bài “Nhị trần thang” hợp bài “Nung thang” gia một lạng ý dĩ và dặn ông uống một ngày hai thang. Sáng mai, tôi lại lên thăm, ông khoe với tôi bệnh đã bớt nhiều, có lẽ không chết. Từ đó, ông cứ uống mãi đơn ấy, tuy thỉnh thoảng cũng thay đổi ít nhiều, nhưng đại thể vẫn không ngoài hai phương thuốc trước. Một tháng sau, ông dậy được, đã đến thăm tôi ở báo Thời vụ. Đau ngực, đau sườn, tiếng nước óc ách, khỏi cả, chỉ còn cái sốt hâm không khỏi và sắc mặt của ông vẫn xanh như người hết máu. Rồi ông nói cho tôi biết trong vài bữa nữa, ông sẽ lên nghỉ Tam Đảo để tránh cái không khí tù hãm của Hà Nội. Lúc ấy, tôi có khuyên ông đừng đi, bởi vì ở đó, không khí ẩm thấp, không lợi cho người đau phổi. Nhưng ông không nghe. Lên Tam Đảo được tám ngày, thì ông phải về, vì ho nhiều và hai ống chân bị bại. Bấy giờ ông mới chịu tôi nói đúng và lại bảo tôi kê đơn. Nghĩ không còn cách gì hơn, tôi lại thêm bớt hai bài thuốc cũ để ông uống xen với bài “Nhân sâm dưỡng vinh” bỏ quế và kỳ. Lần này không có công hiệu, uống năm thang thuốc, bệnh tuy không tăng, nhưng cũng không giảm, hai chân vẫn bại không đứng dậy được. Vì muốn trút trách nhiệm cho người khác, tôi cố khuyên ông hãy dùng thuốc Tây. Hình như ông cũng nhận thấy ý tôi, nên mới hỏi rằng:
– Bác tưởng tôi có chết không?
Câu hỏi của ông làm cho tôi buồn vô hạn, nhưng tôi vẫn cố bình tĩnh và đáp lại rằng:
– Chết làm sao được?
Tôi nói dối ông. Thật ra, bệnh trạng của ông, còn ai dám chắc rằng sống?
Tôi đã nhiều lần than thở với bạn bè rằng ông khó mà được đến mùa rét. Nhưng ông tin tôi, cho nên trong hai tháng trời thôi thuốc ta uống thuốc tây, ông vẫn cho lời tôi nói có lý.
Nghe nói mấy bữa trước ngày lâm chung, ông mong tôi lắm. Không biết mong để làm gì, hay để trách tôi nói dối.
Nếu quả thế, tôi đành phụ ông. Nhưng vì không muốn để ông trước khi từ giã cuộc đời, ngoài cái lo nghèo, lại thêm một cái lo chết.”
Cuối đời
Vũ Trọng Phụng mất lúc 13 giờ ngày 13/10/1939 tại nhà số 73 Ngã tư Sở (Hà Nội). Cái chết đột ngột của ông đã gây niềm thương tiếc trong giới văn chương. Tạp chí Tao Đàn đã dành hẳn một số báo để tưởng nhớ ông. Một cỗ xe tang lặng lẽ đi về nghĩa trang Quảng Thiện ở khu Thanh Xuân. Tiếng khóc não nùng của người vợ trẻ vang lên nức nở, còn con gái của nhà văn là Vũ Mĩ Hằng, lúc đó gần đầy một năm tuổi. Trước huyệt ông, những nhà văn Lưu Trọng Lư, Nguyễn Vỹ… đã đọc điếu văn trong nước mắt. Nhà thơ Đồ Phồn viết câu đối mà nay nhiều người còn nhớ:
“Cạm bẫy người” tạo hóa khéo giăng chi, qua “Giông tố” tưởng thêm “Số đỏ”;
Số độc đắc văn chương vừa trúng thế, bỗng “Dứt tình” “Không một tiếng vang”!
Tháng 10/1995, Nhà lưu niệm Vũ Trọng Phụng (số 5, tổ 2, xóm Giáp Nhất, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân-Hà Nội) được khánh thành với sự giúp đỡ của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhân dịp này, Nguyễn Đình Thi – Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam đã gửi thư cho bà Vũ Mî Hằng, con gái nhà văn, trong thư có đoạn: “Đây là dịp để tôi và các đồng nghiệp chia sẻ cùng quý gia đình niềm vinh dự cho những người cầm bút, trong ngày tưởng nhớ nhà văn lớn tiền bối của chúng ta”. Tháng 7/1996, Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết nghị lấy một phố gần nơi ông ở ngày xưa để đặt tên phố Vũ Trọng Phụng. Trường hợp của Vũ Trọng Phụng đã cho thấy một quy luật khách quan: nếu một tác phẩm văn học thật sự có giá trị thì dù trải qua nhiều thăng trầm do các định kiến khác nhau, cuối cùng nó vẫn tồn tại như chính nó. Không một quyền lực nào có thể can thiệp được vàoTháng 10/1995, Nhà lưu niệm Vũ Trọng Phụng (số 5, tổ 2, xóm Giáp Nhất, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân-Hà Nội) được khánh thành với sự giúp đỡ của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhân dịp này, Nguyễn Đình Thi – Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam đã gửi thư cho bà Vũ Mî Hằng, con gái nhà văn, trong thư có đoạn: “Đây là dịp để tôi và các đồng nghiệp chia sẻ cùng quý gia đình niềm vinh dự cho những người cầm bút, trong ngày tưởng nhớ nhà văn lớn tiền bối của chúng ta”. Tháng 7/1996, Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết nghị lấy một phố gần nơi ông ở ngày xưa để đặt tên phố Vũ Trọng Phụng.
Trường hợp của Vũ Trọng Phụng đã cho thấy một quy luật khách quan: nếu một tác phẩm văn học thật sự có giá trị thì dù trải qua nhiều thăng trầm do các định kiến khác nhau, cuối cùng nó vẫn tồn tại như chính nó. Không một quyền lực nào có thể can thiệp được vàoVũ Trọng Phụng, đồng thời mở đầu cho việc đánh giá lại nền văn học hiện đại Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ trước 1945. Tôi nhớ mãi lời than thở của anh Trần Lê Văn: “Các cậu phải làm thế nào chứ? Ai lại để cả nền văn học Việt Nam hiện đại phong phú như thế, nhiều tài năng đa dạng như thế, gọt mãi, đẽo mãi, biến nó thành bộ xương khô” (50 năm Nhà xuất bản Văn học, tr. 352). Từ suy nghĩ đó, ông Châu quyết định in lại các Tuyển tập cho nhà văn từ Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Tuân, Thế Lữ… đến Tô Hoài v.v… mà bước “thể nghiệm” trước nhất là Vỡ đê. May mắn, tác phẩm này ra kịp vào ngày giỗ Vũ Trọng Phụng. Ngày 13/10/1982, lần đầu tiên bà Vũ Mĩ Hằng được nâng niu tác phẩm của bố, đặt Vỡ đê lên bàn thơ bố, nước mắt giàn giụa:
– Bố ơi! Bố sống lại rồi!
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ.