Vua Lê Thuần Tông (1699 – 1735)

Vua Lê Thuần Tông (1699 – 1735)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Lê Thuần Tông (chữ Hán: 黎純宗; 16 tháng 3 năm 1699 – 5 tháng 6 năm 1735) là vị Hoàng đế thứ 13 của triều Lê Trung hưng và là Hoàng đế thứ 24 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Đại Việt. Ông tên thật là Lê Duy Tường (các tài liệu còn chép là 黎維祥 hoặc 黎維祜), là con trai trưởng của vua Lê Dụ Tông và Cung phi Trần Thị.

Trị vì

Tháng 8 năm 1732, vua Lê Duy Phường bị chúa Trịnh Giang, con Trịnh Cương phế làm Hôn Đức công. Cũng trong tháng 8, Lê Duy Tường ông được Trịnh Giang rước vào cung Từ Thọ làm lễ đăng quang, lấy niên hiệu Long Đức, trở thành hoàng đế thứ 13 của triều Lê trung hưng, tức Lê Thuần Tông.

Ngay sau khi lên ngôi, nhà vua cho cử hành lễ tế Thái miếu, ban cáo thiên hạ, thực hiện nhiều chính sách khoan dung và ân xá: xóa bỏ các khoản thuế còn tồn đọng, miễn nộp tiền chuộc tội còn nợ chất chồng, và xem xét phục chức cho những quan lại từng bị cách chức vì sai lầm trước đây. Những hành động này thể hiện mong muốn của Lê Thuần Tông trong việc ổn định triều chính, củng cố lòng dân và xây dựng lại uy tín của hoàng gia sau biến động quyền lực dưới thời các vua tiền nhiệm.

Gia quyến

Vua Lê Thuần Tông là trưởng nam của vua Lê Dụ Tông và Cung phi Trần Thị, người sau này được truy tôn là Trang Từ Hoàng thái hậu.

Hoàng hậu chính thất của ông là Nhu Thuận Giản Hoàng hậu Đào Thị, con gái của Đào Phúc Kiên, quê ở vùng Nghĩa Trụ. Trong truyền thuyết dân gian, bà thường được gọi là Đào Thị Ngọc Liễu.

Về hậu duệ, Lê Thuần Tông có bốn hoàng tử và bốn công chúa. Trưởng tử là Lê Duy Diêu, sau này lên ngôi lấy niên hiệu Hiển Tông (1717 – 1786). Ông trị vì trong 47 năm, trở thành vị hoàng đế tại vị lâu nhất của triều Hậu Lê. Ngoài ra, Thuần Tông còn có các hoàng tử khác là Lê Duy Đàm, Lê Duy Hiên và Lê Duy Du.

Các công chúa được ghi nhận gồm có Lê Ngọc Toán, Lê Ngọc Tri, Lê Ngọc Tích và Lê Ngọc Canh.

Cuối đời

Triều đại của Lê Thuần Tông kéo dài vỏn vẹn bốn năm. Ông qua đời vào tháng 4 năm 1735, hưởng dương 37 tuổi. Sau khi băng hà, triều thần tôn thụy hiệu là Thuần Tông Giản Hoàng đế.

Sự ra đi đột ngột của nhà vua gây nhiều đồn đoán. Hoàng thân Lê Duy Mật, em ruột của Thuần Tông và sau này là thủ lĩnh cuộc khởi binh chống chính quyền họ Trịnh năm 1740, từng nghi ngờ rằng anh trai mình đã bị Chúa Trịnh Giang đầu độc.

Hoàng tử Lê Duy Diêu, tức Lê Hiển Tông con trưởng của Thuần Tông và Nhu Thuận Giản Hoàng hậu Đào Thị Ngọc Liễu được nối ngôi.

Lê Thuần Tông được an táng tại lăng Bình Ngô, nay thuộc thôn Bình Ngô, xã Thiệu Ngọc, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Tài liệu tham khảo 

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

________________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Background

Le Thuan Tong (Chinese: 黎純宗; 16 March 1699 – 5 June 1735) was the 13th emperor of the Le Restoration and the 24th emperor of the Later Le dynasty in the history of Dai Viet. His birth name was Le Duy Tuong (some records also note 黎維祥 or 黎維祜). He was the eldest son of Emperor Le Du Tong and Consort Tran Thi.

Reign

In August 1732, Emperor Le Duy Phuong was deposed by Trinh Giang, son of Trinh Cuong, and demoted to the title Duke Hon Duc. That same month, Le Duy Tuong was escorted by Trinh Giang to Tu Tho Palace, where he was enthroned under the reign title Long Duc, becoming the 13th emperor of the Le Restoration, known posthumously as Le Thuan Tong.

Immediately after ascending the throne, the emperor held a sacrificial ceremony at the Imperial Ancestral Temple, issued an edict to the realm, and enacted several lenient policies of amnesty: canceling tax arrears, exempting unpaid redemption fees, and reinstating officials previously dismissed for past mistakes. These actions reflected Le Thuan Tong’s desire to stabilize the court, win back popular support, and restore the prestige of the royal house after the turmoil of power struggles under his predecessors.

Family

Le Thuan Tong was the eldest son of Emperor Le Du Tong and Consort Tran Thi, who was later posthumously honored as Empress Dowager Trang Tu.

His principal empress was Empress Nhu Thuan Jian Dao Thi, daughter of Dao Phuc Kien, from Nghia Tru. In folk tradition, she was often called Dao Thi Ngoc Lieu.

Le Thuan Tong had four princes and four princesses. His eldest son, Le Duy Dieu, later ascended the throne as Le Hien Tong (1717–1786). He reigned for 47 years, becoming the longest-reigning emperor of the Later Le dynasty. Other princes included Le Duy Dam, Le Duy Hien, and Le Duy Du.

The princesses recorded were Le Ngoc Toan, Le Ngoc Tri, Le Ngoc Tich, and Le Ngoc Canh.

Final years

Le Thuan Tong’s reign lasted only four years. He passed away in April 1735, at the age of 37. After his death, the court honored him with the posthumous title Thuan Tong Jian Emperor.

His sudden death gave rise to many rumors. Le Duy Mat, Prince of the royal house, younger brother of Thuan Tong and later leader of the 1740 rebellion against the Trinh regime, suspected that his elder brother had been poisoned by Lord Trinh Giang.

Crown Prince Le Duy Dieu (later Le Hien Tong), the eldest son of Thuan Tong and Empress Dao Thi Ngoc Lieu, succeeded him.

Le Thuan Tong was buried at Binh Ngo Tomb, located in present-day Binh Ngo Hamlet, Thieu Ngoc Commune, Thieu Hoa District, Thanh Hoa Province.

References

  1. Quynh Cu, Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Thanh Nien Publishing.
  2. Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Giao Duc Publishing.
  3. Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Dong Thap General Publishing.
  4. Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien, … (1993), Dai Viet su ky toan thu, Social Sciences Publishing.
  5. Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, The Nom Preservation Society.
  6. Le trieu ngoc pha.
  7. Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Bac Thanh Printing House.
  8. Quoc su quan trieu Nguyen (1962), Dai Nam thuc luc tien bien, Su Hoc Publishing.
  9. Quoc su quan trieu Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam Cuong muc, Giao Duc Publishing.

________________

Tiếng Pháp (français’)

Origines

Le Thuan Tong (chữ Hán : 黎純宗 ; 16 mars 1699 – 5 juin 1735) fut le treizième empereur de la période Le trung hung et le vingt-quatrième souverain de la dynastie Hau Le dans l’histoire du Dai Viet. Son nom personnel était Le Duy Tuong (les sources mentionnent aussi 黎維祥 ou 黎維祜). Il était le fils aîné de l’empereur Le Du Tong et de la concubine Tran Thi.

Règne

En août 1732, l’empereur Le Duy Phuong fut déposé par le seigneur Trinh Giang, fils de Trinh Cuong, et rétrogradé au rang de Hon Duc cong. Ce même mois, Le Duy Tuong fut conduit par Trinh Giang au palais Tu Tho pour être intronisé. Il prit l’ère Long Duc et devint le treizième empereur de la restauration des Le, sous le nom de Le Thuan Tong.

À peine monté sur le trône, l’empereur fit célébrer le culte au temple ancestral, publia une proclamation générale, et adopta plusieurs mesures de clémence et d’amnistie : suppression des impôts arriérés, remise des amendes encore dues, et réintégration de certains mandarins destitués pour des fautes passées. Ces gestes manifestaient la volonté de Le Thuan Tong de stabiliser le gouvernement, de regagner la confiance du peuple et de restaurer le prestige de la famille royale après les bouleversements provoqués par ses prédécesseurs.

Famille

Le Thuan Tong était le fils aîné de l’empereur Le Du Tong et de la concubine Tran Thi, élevée à titre posthume au rang de Trang Tu Hoang thai hau.

Son épouse principale fut Nhu Thuan Gian hoang hau Dao Thi, fille de Dao Phuc Kien, originaire de la région de Nghia Tru. Dans la tradition populaire, elle est souvent appelée Dao Thi Ngoc Lieu.

En ce qui concerne la descendance, Le Thuan Tong eut quatre princes et quatre princesses.

Son fils aîné fut Le Duy Dieu, qui monta ensuite sur le trône sous l’ère Hien Tong (1717–1786). Celui-ci régna 47 ans, devenant l’empereur le plus longévif de la dynastie Hau Le.

Les autres fils étaient Le Duy Dam, Le Duy Hien et Le Duy Du.

Les princesses connues sont Le Ngoc Toan, Le Ngoc Tri, Le Ngoc Tich et Le Ngoc Canh.

Fin de vie

Le règne de Le Thuan Tong ne dura que quatre ans. Il mourut en avril 1735, à l’âge de 37 ans. À sa mort, il reçut le titre posthume de Thuan Tong Gian hoang de.

Sa disparition soudaine suscita de nombreuses rumeurs. Le prince Le Duy Mat, frère cadet de Thuan Tong et futur chef de la rébellion contre les Trinh en 1740, soupçonna que son frère avait été empoisonné par le seigneur Trinh Giang.

Le prince héritier Le Duy Dieu (futur Le Hien Tong), fils aîné de Thuan Tong et de l’impératrice Dao Thi Ngoc Lieu, monta sur le trône.

Le Thuan Tong fut inhumé au mausolée Binh Ngo, situé dans le village Binh Ngo, commune Thieu Ngoc, district Thieu Hoa, province de Thanh Hoa.

Références

  1. Quynh Cu, Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Nxb Thanh Nien.
  2. Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Nxb Giao duc.
  3. Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Nxb Tong hop Dong Thap.
  4. Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien, … (1993), Dai Viet su ky toan thu, Nxb Khoa hoc Xa hoi.
  5. Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, Hoi Bao ton di san chu Nom.
  6. Le trieu ngoc pha.
  7. Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Nha in Bac Thanh.
  8. Quoc su quan trieu Nguyen (1962), Dai Nam thuc luc tien bien, Nxb Su hoc.
  9. Quoc su quan trieu Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Nxb Giao duc.

________________

Tiếng Trung (中文)

身世

黎純宗(1699年3月16日—1735年6月5日),为黎中兴第十三位皇帝、后黎朝第二十四位皇帝。其本名黎維祥(或作黎維祜),是黎裕宗与宫妃陳氏之长子。

在位

1732年八月,黎維芳被鄭江(鄭綱之子)废为婚德公。同月,黎維祥为鄭江迎入慈寿宫即位,建元“隆德”,成为黎中兴第十三帝,即黎純宗。

登极之后,帝即行祭告太庙、颁诏天下,施行宽仁赦令:免除积欠税赋,豁免囚赎之债,复核先前因过失而罢黜之官吏。此等举措,显其欲安定朝局、固结人心、重建皇室威望,以弥补前朝权变所致之动荡。

家属

純宗为黎裕宗与宫妃陳氏之长子,陳氏后被追尊为莊慈皇太后。

其正配为孺顺簡皇后陶氏,陶福堅之女,籍贯义宁社,民间传说称之为陶氏玉柳。

后嗣方面,純宗有四皇子、四公主:

长子黎維祧,后即位为顯宗(1717—1786),在位四十七年,为后黎最长寿、在位最久之君。

另有皇子黎維潭、黎維軒、黎維裕。

公主则有黎氏玉纂、黎氏玉枝、黎氏玉积、黎氏玉庚。

末年

純宗在位仅四年,于1735年四月崩,享年三十七。谥曰“純宗簡皇帝”。

其骤逝引人疑窦。皇弟黎維密(后于1740年起兵抗鄭)曾疑兄为鄭江所毒。

皇长子黎維祧,即顯宗,由孺顺簡皇后陶氏玉柳所出,嗣位。

純宗葬于平吳陵,今属清化省紹化县紹玉社平吳村。

参考文献

  1. 瓊居、杜德雄(2001),《越南历代》,青年出版社。
  2. 潘輝注(2007),《历朝宪章类志》,教育出版社。
  3. 黎貴惇(1993),《大越通史》,同塔综合出版社。
  4. 黎文休、潘孚先、吳士連等(1993),《大越史记全书》,社会科学出版社。
  5. 黎嵩,《大越通监总论》,喃字文献保护会。
  6. 《黎朝玉谱》。
  7. 陳仲金(1943),《越南史略》,北城印书馆。
  8. 阮朝国史馆(1962),《大南实录前编》,史学出版社。
  9. 阮朝国史馆(1998),《欽定越史通鑑綱目》,教育出版社。
Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)