Kính nghĩ: thần là một kẻ ra từ cửa hàn vi, may gặp được vận hội thịnh vượng. Khoa Bính Thìn (1676) dự trúng Tiến sĩ cập đệ, được vượt phận có ngôi ở trong triều đình, làm Bồi tụng nơi chính phủ, cố gắng chăm lo chức phận, tham tán mọi việc cơ mật phiền phức, may gặp được bậc thượng đức thương yêu đãi ngộ một cách sâu sắc đặc biệt, tin cậy và ủy nhiệm rất quan trọng. Thẹn mình không làm được việc gì có chút hiệu quả mong manh để phu phi tấm lòng bề trên trách vọng. Nay tuổi đã 70, nghĩ phận mình và xét sức mình, đáng nên về hưu rồi. Vả lại, theo như các vị tiên hiền các triều đại đều theo Kinh Lễ đã dạy, đến tuổi thì về nghỉ, đi dưỡng chút tuổi thừa cho được an nhàn. Tự xét: tài và đức của thần, còn kém xa các bậc tiên hiền, may trời ban cho được đến tuổi trí sĩ, thế mà không biết noi theo việc làm của tiên hiền, treo mũ, cáo lão, thì e có cản trở đến đường lối đi tới của người hiền, và không khỏi bị tiếng chê là luyến tiếc quyền vị. Nhân đó, thần vin lệ cũ, xin nghỉ việc, kính cẩn dâng tờ khải cầu xin như sau:
Nép nghĩ: mặt trời buổi sớm tỏa ra ánh sáng soi rọi rực rỡ; tuổi đã về già, xin trình bày những lời biết đủ thì lui. Mấy hàng ân cần, vài lời nhỏ mọn.
Thần thiết nghĩ: theo lễ đã đặt, bảy mươi được trí sĩ, lời thánh dạy rõ ràng là thế. Trong hào “lục tứ” quẻ “khôn” Kinh Dịch,“Văn ngôn” cũng nói rõ rằng người làm tôi biết nói ít, như cái túi thắt miệng lại thì không có lỗi. Vì vậy, hạng minh triết khéo giữ mình thảy đều sáng suốt trong lúc đang được bề trên thương yêu. Quan A hành nhà Ân trình bày xong ý nghĩa “vua tôi nhất đức” rồi, cáo lão lui về; quan Chủng tể nhà Chu đem việc hiểu rõ nghề nông để bày tỏ chí mình. Chẳng những các bậc thánh thần như vậy, mà xét đến đạo trời cũng thế. Người làm quan giữ về ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa và thổ, phối hợp với khí tiết bốn mùa, khi làm được thành công rồi thì rút lui ngay. Mây núi Thái Sơn khi đã tan ra thành mưa, rẩy khắp chín cánh đồng rồi, sự mong muốn đã được yên ủi rồi thì liền quay về. So sánh sự việc giữa trời và người, thấy cùng chung một lý, mà lẽ thường từ xưa đến nay cũng cùng một nghĩa.
Như Quý Đức thần đây, tài mọn chỉ được một đấu, may gặp vận sao Khuê rực sáng, được chiếm bảng vàng, lạm trúng vào đệ nhất giáp trong tam giáp, trải bước hoạn đồ hàng 42 năm. Chỉ biết trỏ đường thẳng để hướng dẫn người, còn rảnh đâu làm vẻ cung kính bề ngoài để nịnh đời nữa! May sao được Chiêu miếu tri ngộ, thần giữ một lòng chung thủy, không dám sớm tối trễ tràng; thẹn mình được nhận lời trối trăng giúp rập thánh cung, nên thần phải chạy vạy, có ý lo những điều đáng lo trước thiên hạ. Tự biết có nhiều gặp gỡ may mắn, dám đâu nói rằng một mình siêng năng khó nhọc. Xét mình chẳng có gì là khác thường, chỉ là được cho ăn cơm gạo và cho mặc vải lụa. Nghĩ mình được lạm gánh trách nhiệm nặng nề, thẹn không xứng đáng làm men để chế rượu, làm muối và mỡ để pha canh! Được ơn quá nhiều về sự ủy nhiệm, thần lại càng lo sợ về sự gánh vác. Trong hơn 10 năm nay, thần cài bút bên mũ để ghi mọi việc triều đình, rồi xếp vào trong một chiếc túi [để gặp việc thì giúp đỡ can ngăn], nhưng cũng chưa làm nổi ý nghĩa sửa chữa những điều dở trong lòng vương thượng. Thấy nhà chúa một ngày bận rộn hàng muôn việc, phải lo cởi gỡ những điều mắc míu khó khăn, vậy mà thần không có tài giúp đỡ nhà chúa trong khi trị nước đang bận rộn! Quan to mà làm việc lại ít có hiệu quả; tiếng cả danh lừng thì những lời gièm pha sẽ đến. Giữ tính vụng về chỉ biết gắn chắc vào một chỗ, còn nghĩ đâu đến ân oán trong một đời; may được Vương thượng sáng suốt, như ánh mặt trời chiếu xuống chậu úp: Được đãi ngộ một cách khác thường, đã là một sự không ngờ, còn đâu dám ngấp nghé đến sự đặc biệt vượt ngoài phận mình. Ưa may được đứng vào ban thứ các quan, lạm theo hai vị thái sư, thái bảo là những bậc hiền giả được dùng để làm gương mẫu cho đời, Tháng lại năm qua, thấm thoắt đã đến 70 tuổi; tuổi đã già rồi, thể lệ trí sĩ có thể vin được. Nếu không biết yên phận bằng cách hiểu nghĩa lý, vui mệnh trời thì sao đủ gọi là người biết cư xử trong cảnh công danh? Dẫu rằng triều đình đương lúc hữu đạo, giữa người nọ với người kia không có chuyện như Công Tôn Hoằng hằn học lườm Viên Cố; nhưng trời đất vẫn chán ghét những cảnh thừa bứa tràn trề rồi sinh lòng kiêu căng, sao lại không nên nghĩ đến lời răn của Lão Tử “biết vừa đủ rồi” thì không đến bị nhục! Vả lại, tuổi nhiều, lòng cũng theo đó sinh nản, người già thì trí khôn cũng kém, từ ăn uống đến làm lụng và nếp sống hằng ngày đã không bằng trước, răng tóc, hình dáng và sức vóc lại kém hẳn xưa. [Nếu tham ở lại] thì chẳng những liệu sức không làm nổi, mà cũng đáng sợ là làm cản bước người hiền. Nếu không tự lượng phận mình chỉ như con vẹt quanh quẩn học nói là đã đủ rồi, nếu bé mọn như con muỗi mà lại đòi vác quả núi to thì cuối cùng chỉ chuốc lấy hổ thẹn vào mình. Huống chi thần là Quý Đức này đã được mặc phẩm phục màu tía, tự lấy làm thẹn là Tổ tướng đứng đầu, cầm cân nảy mực việc nước; con là Quý Ân lại đỗ Hoàng giáp, theo gót cha được đứng trong hàng Hàn lâm, làm việc coi xem bản thảo để góp ý kiến vào những văn thư và chiếu chỉ… Một nhà được đội ơn tri ngộ đặc biệt, trong lòng càng thêm sợ hãi về sự đã tràn trề thỏa thuê, dễ sinh kiêu căng. Đó là vì theo ý nghĩa quẻ Khảm thì như nước chảy đi, mà quẻ Cấn thì như núi dừng lại, chỉ cầu mong cho hợp nghi với nghĩa tùy thời. Được thịnh như quẻ Đỉnh đã nói và được sang như quẻ Hằng đã trình bày, há dám coi thường ơn trời ban cho? Cởi mở giãi tỏ khúc nhôi, run sợ mạo muội đề đạt lên bậc cao minh.
Cúi mong nhà chúa suy rộng long nhân “ tòng tâm sở dục”, mở to độ lượng bao dung, rủ lòng ưng thuận, cho thần được ưu du nhàn hạ, ngõ hầu cùng các bạn già gõ nhịp hát mà vui chơi ở đường cái đời Đế Nghiêu; cầm bút ngâm vịnh, hợp các anh tài già cả mua vui trong hội Kỳ anh ở Lạc Trung. Như vậy thì trời đất sinh thành, trước sau thần được bảo toàn không ra ngoài vòng ân huệ bồi dưỡng; thần cảm kích như khuyển mã sớm tối được nuôi, ơn ấy khắc sâu xương tủy. Tình riêng khôn xiết trông mong với bao run rẩy sợ hãi, thần xin kính cẩn dâng tờ khải để lọt đến tai nhà chúa”.