|
華 程 詩 集 |
HOA TRÌNH THI TẬP |
天姬探花堂軒阮貴德
THIÊN MỴ THĂM HOA
ĐƯỜNG HIÊN NGUYỄN QUÝ ĐỨC
Tham Tuyên Nguyễn Quý Liêm tuyển chọn, sao chép phiên âm và dịch thơ 1960
桂林景致
星斗天垂元氣斟
鑄成好景桂之林
拎瓏剔透奇山狀
澄徹晶瑩萃水心
深洞懸崖藏攀剎
橫船壓烺結茳襟
玩餘愽訪初來勣
瀲灩蓮湖展綠陰
Quế Lâm cảnh trí
Tinh đẩu thiên thùy nguyên khí châm
Dung thành hảo cảnh quế chi lâm
Linh lung tích thấu kỳ sơn trạng
Trừng triệt tinh huỳnh doanh thủy tâm
Thâm động huyền nhai tàng phan sát
Hoành thuyền áp lãng kết giang khâm
Ngoạn dư bác phỏng sơ lai tích
Kiểm diễm liên hồ triển lục âm
dịch thơ:
Phong cảnh Quế Lâm
Ánh tinh đẩu toả đầy nguyên khí
Vùng Quế Lâm cảnh trí rạng hình
Núi đèo kì quái lung linh
Nước trong suốt đáy lửa hình sáng soi
Lưng vách núi ẩn ngôi chùa cổ
Giúp sóng cồn thuyền chặn khúc sông
Lần xem cảnh lạ mênh mông
Hồ sen thấp thoáng xa trông xanh rì
__________________________________________________
洞庭秀色
玉鏡溶溶水一壺
城中佳景洞庭湖
東西遠浦雲迷處
上下光天水弄珠
桂魄三秋爭餅喚
錦鱗萬頃任歡娛
滔滔眾水同流海
源派溪分蜀與吳
Động Đình tú sắc
Ngọc kính dung dung thủy nhất hồ
Thành trung giai cảnh Động Đình hồ
Đông tây viễn phố vân mê nhạn
Thượng hạ quang thiên thủy lộng châu
Quế phách tam thu tranh giảo khiết
Cẩm lân vạn khoảnh nhậm hoan ngô
Thao thao chúng thủy đồng lưu hải
Nguyên phái khê phân Thục dữ Ngô.
dịch thơ:
Hồ Động Đình sắc tươi đẹp
Gương ngọc rung rinh nước một bầu
Giữa thành hồ đẹp Động Đình sâu
Đông tây đối cảnh mây mờ nhạt
Trên dưới giời liền nước giỡn châu
Vằng vặc ba thu trăng choán bóng
Chờn vờn muôn khoảnh sóng dồn nhau
Bao dòng cuồn cuộn cùng ra bể
Nào phải Ngô đâu phải Thục đâu.
__________________________________________________
武昌佳景湖北
遠接衡陽近漢陽
此間山水獨明昌
春茫浪滾桃花暖
秋月光浮桂子香
黃鶴樓邊山筆翠
伏龍橋上水交涼
仙人舊跡今何在
文寺相傳總薈茫
Vũ xương giai cảnh Hồ Bắc
Viễn tiếp Hành Dương cận Hán Dương
Thử gian sơn thủy độc minh xương
Xuân giang lặng cồn đào hoa noãn
Thu nguyệt quang phù quế tử hương
Hoàng Hạc lâu biên sơn tủng thúy
Phục Long kiều thượng thủy giao lương
Tiên nhân cựu tích kim hà tại
Văn tự tương truyền tổng diệu mang
Dịch thơ:
Cảnh đẹp Vũ Xương
Hành Xương xa Hán Dương kề đó
Riêng vùng đây rực rỡ thanh cao
Sông xuân ấm sóng hoa đào
Lững lờ vừng quế ngạt ngào hương đêm
Lầu Hoàng Hạc ven thềm núi ngất
Cầu Phục Long nước hắt hơi lên
Nào đâu dấu cũ người tiên
Mà bao sách vở tương truyền mênh mang.
__________________________________________________
餞伴欽差送張回北京
公私界限判靈臺
半點都無為利回
紫沼擎雲天上降
金鍾和籟日邊來
燕城趙壁三冬雪
漢浦湘江一朵梅
此日主賓應暫試
早栽大任屬高才
Tiễn Khâm sai bạn tống Trương hồi Bắc Kinh
Công tư giới hạn phán linh đài
Bán điểm đô vô vi lợi hồi
Tử chiểu kình vân thiên thượng giáng
Kim phiêu hoà lai nhận biên lai
Yến thành triệu bích tam đông tuyết
Mạc Phố Tương giang nhất đoá mai
Thử nhật chủ tân ứng đám thí
Tảo chi đại nhiệm thuộc tài cao
Dịch thơ:
Tiễn quan Khâm sai họ Trương về Bắc Kinh
Công tư rõ rệt vẹn mười mươi
Mẩy lợi khi về bụng chẳng sai
Chiếu gấm mây đưa từ bệ chúa
Kẻng vàng gió đón tại cung trời
Thành Yên vách triệu ba đông tuyết
Bến hợp dòng tượng một đoá mai
Chủ khách ngày năng nên nhắn biết
Mới hay đại nhiệm phải cao tài.
__________________________________________________
再贈欽差送張回北京
懇懇相送伏波岩
惜別情懷兩不堪
飲餞未酬前日好
無情筏伯返風帆
Tái tặng Khâm sai bạn tống Trương hồi Bắc Kinh
Ân cần tường tống Phục Ba nham
Tích biệt tình hoài lưỡng bất kham
Ẩm tiễn vị thù tiền nhật hảo
Vô tình cơ bá trục phong phàm
Dịch thơ:
Lại tiễn quan Khâm sai họ Trương về Bắc Kinh(*)
Tiễn bạn ân cần núi Phục Ba
Chia tay tình nặng cả đôi ta
Tiệc đưa hữu hảo sương còn đượm
Ngọn gió dong buồm vội chảy xa
(*) Khi đoàn sứ bộ do Nguyễn Quý Đức trở về nước, nhà Thanh có cử khâm sai họ Trương đưa tiễn đoàn nửa quãng đường. Đến chỗ phải chia tay Thăm hoa đặt tiệc, làm hai bài thơ trên để tặng quan khâm sai họ Trương quay về Bắc Kinh.
__________________________________________________
魚梁澤
曵迴西上到魚梁
水淺難平景界光
縱步高丘舒望眼
江山栩是很封疆
Ngu Lương trạch
Tố hồi tây thượng đáo Ngư Lương
Thuỷ thiển nan bình cảnh giới quang
Túng bộ cao khâu thư vọng nhỡn
Giang sơn chi thị hận phong cương
Dịch thơ:
Đầm Ngu Lương
Hương đoài ngược tới Ngu Lương
Nước xuống ghềnh phôi cảnh rõ ràng
Thẳng bước gò cao tầm mắt phóng
Núi sông rõ đấy mốc phong cương.
__________________________________________________
尖角檣即事
江上風吹水浪浮
晚來停檣便維俦
今朝正是長春節
曉整朝衣一叩頭
Tiêm Giác quán tức sự
Giang thượng phong xuy thuỷ lãng phù
Vãn lai đình trác tiện duy chu
Kim triều chính thị trường xuân tiết
Mang chỉnh triều y nhất khấu đầu.
Dịch thơ:
Quán Tiêm Giác
Lòng sông gió thổi sóng cồn lên
Chiều hôm dừng lại tạm neo thuyền
Nắng tiết trường xuân về từ sớm
Áo chầu vội chỉnh vái Hoàng thiên
__________________________________________________
南開會同
一嗅梅花報履端
北南界限會交關
雲趨冠蓋連平野
日麗旌旗映遠山
侯度貢儀遵古制
天恩龍命荷欽頒
功彪覺得從茲始
肥馬輕裘任往還
Nam khai hội đồng
Nhất đoá mai hoa báo lý đoan
Bắc nam giới hạn hội giao quan
Vân sấn quan cái liên bình dã
Nhật lệ tinh kỳ ánh viễn sơn
Hầu độ cống nghi tuân cổ chế
Thiên ân sủng mệnh hà khâm ban
Công thành giác đắc tòng tư thuỷ
Phì mã khinh cừu nhậm vãng hoàn
Dịch thơ:
Họp tại cửa Nam Quan
Mai báo đông về một đoá hoa
Bắc Nam giới hạn cửa này qua
Mây chen mũ áo liền đồng phỏng
Nắng hửng cờ tán ánh núi xa
Hầu quốc cống nghi theo lệ định
Thiên triều ân sủng tự trên xa
Thành công nắm chắc từ đây trước
Cừu mã đi nhanh mặc sức ta.
__________________________________________________
北使述懷
壯歲叱登相將科
經應盛選賜皇華
馬馳嶺嶠山消瘴
船渡江淮水佔波
燕北驅駕通夏禹
交南早早返周車
歸期有幸全君命
忠孝初心矢靡他
Bắc sứ thuật hoài
Tráng tuế thao đăng tướng tướng khoa
Lạm ứng thịnh tuyển phú Hoàng Hoa
Mã trì lĩnh kiệu sơn tiêu chướng
Thuyền độ giang hoài thuỷ chiếm ba
Yên Bắc xâm xâm thông Hạ Vũ
Giao Nam tảo tảo phận Chu xa
Quy kỳ hữu hạnh toàn quân mệnh
Trung hiếu sơ tâm thỉ mỵ tha
Dịch thơ:
Kể chuyện đi sứ phương Bắc
Tuổi trẻ ghi tên trước bảng vàng
Hoàng Hoa thư vịnh được ân mông
Ngựa lồng kiệu lĩnh sương tan núi
Thuyền vượt giang hoài sóng lặng sông
Yên Bắc cống theo đời Hạ Vũ
Giao Nam xe hẹn lối Chu Công
Mang toàn quân mệnh mau về trước
Trung hiếu sau xưa dốc một lòng.
__________________________________________________
南還過遂平遇雪凝駐來
無端膝下飛花
萬里征夫懶整車
案上頻頻催酒卒
掀簾總總喚陽婆
詩成墨凍備輝管
客就蛟深樂著靴
今日莫嫌攀一宿
來朝會見靜風沙
Nam hoàn quá Toại Bình ngộ tuyến ngưng trú lại
Vô đoan đẳng lục hạ phi hoa
Vạn lý chinh phu lãn chỉnh xa
Án thượng tân tân thôi tửu tốt
Tháp biên luyến luyến hoán dương bà
Thi thành mặc đống dung huy quản
Khách tựu băng thâm lạc trước hoa
Kim nhật mạc hiềm trì nhất túc
Lai triều hối kiến tịnh phong sa.
Dịch thơ:
Về qua Toại Bình gặp tuyết
Bỗng đâu thân tuyết thả hoa bay
Xe ruổi đường trường bánh ngại xoay
Trốc án rượu hâm truyền mãi rót
Bên giường lồng ấp nhắc luôn tay
Thơ nên mực động lười đưa bút
Khách đến bằng đồng thích để giầy
Nghỉ lại một đêm chi ngại muộn
Sáng rồi gió thổi tuyết tan ngay.
__________________________________________________
Hoa phù dung
Thu độc cửu xuân ái mộc liên
Lộng sương thổ điện hướng giai tiên
Phong lưu khước nhã thiềm cung khách
Thái độ biến nghi lang uyển tiên
Yêm ảnh tịnh song thiêm cẩm tú
Điểm trang lệ cảnh bội thiền quyên
Vãn lương nghĩ dục chiêu bằng ẩm
Cộng thưởng phương phi tuý lạc thiên.
Dịch nghĩa:
Riêng mùa thu và mùa xuân đẹp thì người ta yêu hoa phù dung.
Đùa rỡn với sương thu nhả cái diễm lệ ở trước thềm
Dáng vẻ phong lưu, tao nhã làm khách của chị Hằng
Hình dáng như tiên nữ trên vườn ngự uyển
Cành hoa hững hờ lại điểm thêm vẻ gấm vóc
điểm tô thêm cảnh đẹp càng bội phần mỹ lệ
Buổi chiều lạnh nghĩ muốn vời bằng hữu tới uống rượu
Cùng nhau thưởng thức cái hương thơm mà say sưa với đất trời
Dịch thơ:
Hương thơm toả ngát xuân về
Mong manh sương khói say mê lòng người
Lâng lâng nhẹ lướt lên trời
Cánh hoa hờ hững gọi mời thiết tha
Điểm tô gấm vóc sơn hà
Như vầng nhật nguyệt, như hoa hồng trà
Chạnh lòng nhớ bạn trời xa
Bên nhau tao ngộ để mà say sưa.
Phần chú thích:
Mộc liên: hoa phù dung. Phù dung là loại hoa thân gỗ, hoa to từ 10 đến 15cm sáng hoa màu trắng, trưa hoa màu hồng, chiều màu đỏ.
Đừng nhầm phù dung với phù du một loại côn trùng (phù du sớm nở tối tàn) có chuyện ngụ ngôn: Phù du sáng nở, chiều đã chết nên không biết đêm tối, khi thấy đom đóm có cái đèn phù du hỏi để làm gì? đom đóm bảo để thắp sáng lúc ban đêm, phù du cười và bảo cả cuộc đời tôi có thấy lúc nào trời tối đâu. Phù du chết mà vẫn không hiểu được thế nào là đêm.
__________________________________________________
紫薇花
Tử vi hoa
Bất tuỳ đào lý giác xuân nghiên
Trực bá phương tình chiếm hạ thiên
Ứng vũ nộn điều tân thuý lệ
Hà vân nùng tí ám hương truyền
Gia danh hảo dữ thiên viên cộng
Thù sắc biến nghi tương tỉnh liên
Thùy đạo bất tri quan huống vị
Thức khan tử thụ phát giai tiền
Dịch nghĩa:
Hoa Tường vi
Không theo loài mận đào mà cũng toả được cái đẹp của mùa xuân
Đem cái tinh thơm mà chiếm lấy mùa hè
Gặp mưa thì cành lá non của nó xanh mướt đẹp đẽ
Hoa như ráng mây chiều, lá xum xuê truyền hương thơm
Tên hoa đẹp đẽ sánh cùng trời đất
Màu hoa riêng phù hợp với những người yêu thương nhau
Ai nói rằng không biết cái mùi vị của cảnh quan trường
Thì thử xem cánh hoa tử vi đang phát phơ trước gió.
Dịch thơ:
Hoa Tường vi
Xuân lan Thu cúc Hạ tường vi
Chói chang hoa nở lá xanh rì.
Như mây ngũ sắc trôi theo gió
Hương hương, sắc sắc trời ban cho
Hoa mang trên mình tình đôi lứa
Thì thầm trong lá chuyện ngày xưa
Lòng ta cánh cánh tiếng hoa nhủ
Nghĩa, tín, trí, nhân đời muốn đủ
Tường vi: nghĩa là rõ ràng, minh bạch, tường tận đến từng li từng tí.
Nguyễn Quý Đức là người của công việc ông ngắm hoa đẹp nhưng lại liên hệ luôn đến trách nhiệm của người làm quan phải có đủ nhân nghĩa trí tín, đúng như nghĩa mà hoa mang tên, chứ không phải làm quan để hưởng thụ.
__________________________________________________
Hoa Ngạc Cần Chính lâu
Hưng khánh tây nam trước địa đầu
Đường Hoàng tằng tử trí danh lâu
Quang Vân hàm quải nguyệt câu.
Nhật thượng tiếu đàm phu hữu ái
Trầm hương nhất tự đam tình hậu
Khả tích sơ tâm bất tự du.
Dịch nghĩa:
Phía tây nam Hưng Khánh là vùng đất nổi tiếng
Đường Minh Hoàng từng dựng cái lầu danh tiếng ở đây
Cái hiên lầu được ánh mây chiếu, còn trăng treo trên trời giống như lưỡi câu
Hàng ngày cười nói với tình cảm thực âu yếm.
Thường thường suy nghĩ tìm tòi những kế sâu xa
Đình trầm hương là nơi Đường Minh Hoàng tự đến sau cuộc say mê.
Chi tiếc cho tấm lòng ban đầu không được an nhàn tự tại
Dịch thơ: (chưa có hậu thế dịch)
