Thơ Nôm Nguyễn Quý Đức

Thơ Nôm Nguyễn Quý Đức

Nội dung chính

Phụng mệnh vãng khám Hạ Cát giới đê lộ lưu miễn nhị ty quan

奉命往勘下獦界堤路留勉二司官

東井分司水勢昌,
堤防難可敵懷襄。
平居野子催登閣,
食力田家委望洋。
百姓何牽遭勢溺,
九重有意切思量。
澤民本是吾儒事,
擬揭横流拯一方。

Phiên âm:

Phụng mệnh vãng khám Hạ Cát giới đê lộ lưu miễn nhị ty quan

Đông tỉnh phân tư thuỷ thế xương,
Đê phòng nan khả địch hoài tương.
Bình cư dã tử thôi đăng các,
Thực lực điền gia uỷ vọng dương.
Bách tính hà khiên tao thế nịch,
Cửu trùng hữu ý thiết tư lương.
Trạch dân bản thị ngô nho sự,
Nghĩ yết hoành lưu chửng nhất phương.

Dịch nghĩa:

Giếng đông chia nhánh, thế nước mạnh
Đê phòng khó có thể địch nổi nước bung ra
Dân lành đang ở yên phải giục nhau lên gác
Nhà nông thu hoạch đành trông thế nước cường
Trăm họ tội tình gì mà chịu lũ lụt
Chín bệ có ý lo nghĩ mọi bề
Cứu dân vốn là việc của làng nho ta
Tính cách chặn ngang dòng dữ để cứu cả một phương dân

Nguồn: Toàn Việt thi lục. Bản dịch: Nhóm Phạm Hoàng Giang, Các tác gia Hán Nôm Thăng Long – Hà Nội, NXB KHXH, 2009.

Quốc Tử Giám song khổng tước

國子監雙孔雀

久馴明教戀明倫,
止路奚惟瑞啟文。
日向聖庭聯舞翅,
時棲青樹映祥雲。
文章錦繡雖無異,
冠距雌雄似有分。
羽族看來誰並美,
九皋鳴鶴好同群。

Phiên âm:
Quốc Tử Giám song khổng tước

Cửu tuần minh giáo luyến minh luân,
Chỉ lộ hề duy thuỵ khải văn.
Nhật hướng thánh đình liên vũ sí,
Thời thê thanh thụ ánh tường vân.
Văn chương cẩm tú tuy vô dị,
Quán cự thư hùng tự hữu phần.
Vũ tộc khán lai thuỳ tịnh mỹ,
Cửu cao minh hạc hiếu đồng quần.

Dịch nghĩa:
Đôi chim công ở Quốc Tử Giám

Vốn từ xưa đã tuân theo minh giáo, yêu thích luân thường tốt đẹp,
Dừng bước nào chỉ để mở mang kiến thức.
Ngày ngày vỗ cánh bay về phía thánh đình,
Thường đậu trên cây cỏ mơn mởn ánh sắc mây lành.
Dáng vẻ đẹp đẽ tuy không khác nhau,
Nhưng lông tóc chân cựa lại phân chia rõ ràng trống mái.
Tất cả mọi loài chim xem ra chẳng loài nào sánh được vẻ đẹp,
Giữa chốn nước sâu cất cao tiếng hạc ưa thích sống cùng bầy.

Nguồn: Toàn Việt thi lục. Bản dịch: Phan Văn Các. Các tác gia Hán Nôm Thăng Long – Hà Nội, NXB KHXH, 2009.

Vịnh Hồ Tây

莊嚴景静坦之園

莊嚴景静坦之園
趣味牟尼世界仙
香拂朶梅花碧彙
月來曨竹印青蓮
霜潭碧葉花籠院
雪暎痕苔月住船
良晚貝京鋪玉印
風光佔潦潦眞澶

Phiên âm:

Trang nghiêm cảnh tỉnh thản chi viên
Thú vị màu ni thế giới tiên
Hương phật băng mai hòa bích vựng
Nguyệt lai lung trúc, ấn thanh liên
Sương đàm bích diệp hoa lung viện
Tuyết ánh ngân dài, nguyệt trữ thuyền
Lương vấn bôi kinh phô ngọc án
Phong quang chiếm liễu liễu chân thiền

Đọc ngược thành Nôm:

Thiền chân lẻo lẻo chiếm phong quang
Ấn ngọc phô kinh buổi vấn hương
Thuyền chứa nguyệt: dài ngân ánh tuyết
Viện lồng hoa diệp bích màu sương
Sen xanh in trúc lung lay nguyệt
Vừng biếc hòa mai phẳng phất hương
Tiên giới thế này màu vị thú
Vườn chi đất tỉnh cảnh nghiêm trang

Nguồn: Thăng Long thi văn tuyển, Bùi Hạnh Cẩn dịch, NXB Văn hóa Thông tin, 2001.

Phụng canh ngự chế Tây Phương tự[1]

奉更御製西方寺

Phong quang bỡ ngỡ khí thiều quang
Nảy thú ty phương lạt địa phương[2]
Đất mẽ Kim Đan, non mẽ[3] ngọc
Sông dường ngân đái[4] nước dường gương.
Hương đòi thì[5] cúng hương ngọt ngào
Nguyệt chiếm phần nhiều nguyệt[6] tỏ tường
Ngoài cõi được đăng lên cõi ấy[7]
Phúc cho toàn đội phúc quân vương.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Dưỡng nhàn

養閒

Dưỡng nhàn quê tiện[8] góc bên tây,
Phen học[9] hiền xưa thú Lạc Tây[10].
Cảnh cũ mảng vui vun rãnh cúc[11],
Hơi dương mừng thấy rạng vườn tây.
Bạc vàng ban xuống nhuần ơn bể,
Hoa cổn[12] vâng cho nức cõi tây.
Hai chữ đồng hưu[13] nguyền tạc dạ,
Trỏ Tam Đảo bắc Tản Viên tây.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Hạ Đặng quốc lão[14]

賀鄧國老

Ơn trên ưu lão[15] được ưu nhàn,
Danh giá thêm lừng cửa thế quan[16].
Áo gấm thủ hoa giong tử lý[17],
Túi thơ hợp bậu kết Hương Sơn[18].
Vườn xuân đủng đỉnh người Tây Lạc[19],
Kho nguyệt thừa lưa[20] khách Vị Bàn[21].
Bằnh cách đã đành cao tuế nguyệt[22],
Hạc hoang[23] đường xá hỏi tư đan[24].

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Hựu hạ Đặng quốc lão[25]

又賀鄧國老

Tựa danh Quốc lão đối tiền hòa,
Thêm chút trọng danh mừng thực thà.
Đồng nội hiếm chăng bò nhại cỏ[26],
Chợ trưa khôn chác[27] rượu nòng hoa.
Noi lời hẹn cũ phò ơn chúa
Theo thói dân quê tạm của nhà.
Quang nghĩa[28] anh em cười mặc chịu,
Vậy cho rắn bạn bảy mươi ta.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Đặng quốc lão[29] hỉ tặng thổ vật

鄧國老喜贈土物

Điệu thư nghĩ đã xác như vờ,
Thổ vật ơn nay lại gửi cho.
Nhẵn nhụi của nhà ngon đã biết,
Kềnh càng giống bể mỹ qua[30] ưa.
Hoà canh[31] đòi bữa nhà thêm chuộng,
Giải tửu[32] nhiều phen khách được nhờ.
Một mớ còn xem hơn chín vạc[33],
Huống chi số đã kể trăm thừa.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Hạ Đông Ngàn Cẩm Chương thượng thư trí sĩ quan[34]

賀東岸錦章尚書致仕官

Bể rộng triều quan[35] lặng lặng khơi
Thiên thanh[36] vượt khỏi gác chèo ngơi.
Túi thần thắt vững hằng mang dạ,
Khóa giống buông không mặc gác tại.
Tiêu sái[37] ngàn đông non nước cũ,
Thảnh thơi song bắc tháng ngày dài.
Trên đời đòi rất, tiên thì vậy[38]
Bầu bạn cùng mừng chẳng một ai.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Mục kính gắp trầu[39]

木鏡合槟榔

Hai ông tuổi tác thuở ngày ngày,
Ông vẻ kia ông có vẻ này.
Nhật nguyệt đôi vầng soi trước mặt,
Khu cơ[40] một mối vững trong tay.
Xét nơi hào mạt[41] nào tằng nhật,
Hoá kẻ ngoan phu[42] đã dễ ngay.
Niên thiếu phô ngươi[43] đừng mủm mỉm,
Càng già càng trọng nhủ cho hay.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Đề Lạc Thọ đình bài 1

題樂壽亭之一

Chếch mé Thiền lâm[44] chụm một đình
Trong nhàn dành họp bạn kỳ anh[45].
Giậu hiềm[46] che gió cài then lệch,
Vách ngại ngăn trăng để chống chênh.
Vui mặt uống say nằm nhếch nhác
Dan tay hóng mát đứng hềnh hênh.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Đề Lạc Thọ đình bài 2

題樂壽亭之二

Quê kệch hãy còn đeo cổ thể,
Khôn ngoan chưa chút hợp thời trang.
Vốn hay hai chữ gìn hai chữ,
Ngại học một đàng làm một đàng.
Ngay thẳng ơn trên đà xét biết,
Cho nên được dựa bậu[47] xênh xang[48].

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Quy nhàn hậu tự thuật

歸閒後自述

Ơn chúa nay đà vẹn đạo tôi[49],
Non xanh nước biếc tháng ngày rồi.
Bẻ hoa nếm rượu khi xuân sớm,
Bừa nguyệt[50] giồng lan thuở nắng lui.
Sân rắc lá thu dầu gió quét
Cửa song[51] then trúc mặc trăng soi.
Thị phi thế sự tai đà gác
Chút chạnh trong niềm chểnh mảng thôi.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Hạ Đặng Quốc lão trí sĩ thi

Khoa mục[52] thao kiếm[53] đủ mọi tài
Trẻ sang già lọn[54] được hòa hai.
Giậu đông[55] hái cúc dầu hâm rượu
Kiều bá[56] hớp sương mặc thưởng mai.
Han hỏi thanh phong lãng nguyệt[57]
Thảnh thơi áo quán[58] lương đài[59].
Phục Ba[60] quắc thước già càng khỏe.
Thể chất non đào tuổi sánh dài.

Nguồn: Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

[1] Chùa Tây Phương ở xã Thạch Xá huyện Thạch Thất trấn Sơn Tây. Năm 1719 chúa Trịnh Cương cùng các quan cận thần đi thăm chùa Tây Phương, nhân hứng viết bài Ngự chế Tây Phương tự. Khi về ông ghé thăm đình Lạc Thọ của Nguyễn Quý Đức và viết tặng bài thơ nôm này. Nguyễn Quý Đức cảm động, bèn làm bài thơ họa lại nguyên vận.

[2] Ý cả câu nói, nhà Chúa có sở thích đi thăm thú các địa phương.

[3] Mẽ (từ cổ): giống như, dường như. Từ này được dùng phổ biến trong sáng tác thơ văn nôm từ thế kỷ XVIII trở về trước. Bài Mạn thuật 6 trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có câu:

Ngàn nọ so miền Thái Thạch Làng kia mẽ cảnh Tiêu Tương.

Kim đan: tên một loại khoáng chất để luyện thuốc trường sinh (theo Liệt tiên truyện).

[4] Ngân đái: dải sông Ngân hà.

[5] Đòi thì: tùy theo thời gian, theo thời vụ.

[6] Nguyệt: mặt trăng.

[7] Ngoài cõi: ở phía bên ngoài. Ý Nguyễn Quý Đức muốn cảm ơn chúa cho được ân sủng, tuy rằng vẫn làm quan ở triều, song hưởng quy chế làm việc tại nhà, khi có việc cần thì chúa cho người đến hỏi hoặc mời về kinh sư.

[8] Quê tiện: làng quê nghèo hèn. Quê của Nguyễn Quý Đức là làng Đại Mỗ, nằm ở phía tây kinh thành Thăng Long xưa.

[9] Phen học: học theo, làm theo

[10] Lạc tây: miền tây thành Lạc Dương. Nghiêm Tử Lăng thời Hán, không ham phú quý, về ở ẩn tại vườn ở phía tây thành Lạc Dương.

[11] Rãnh cúc: luống trồng hoa cúc. Đào Tiềm đời Tấn chán cảnh quan trường bỏ về quê vui thú điền viên. Vườn nhà ông trồng đầy hoa cúc.

[12] Hoa cổn: mũ gấm áo gấm của vua ban cho.

[13] Đồng hưu: cùng tốt lành. Rút gọn từ câu thành ngữ: “Dữ quốc đồng hưu” (Tốt lành cùng đất nước). Ý nói khi Nguyễn Quý Đức được chúa ban cho danh hiệu Quốc lão. Trong chiếu thư có mượn câu thành ngữ này để khuyến miễn Nguyễn Quý Đức. Do vậy ông trỏ vào núi Tản Viên ở phía tây và núi Tam Đảo ở phía bắc mà thề thốt rằng sẽ ghi lòng tạc dạ lời chúa ban cho ấy.

[14] Đặng Quốc lão: tức Đặng Thụy (1649-1735), tự là Đình Tướng, hiệu là Trúc Ông người làng Lương Xá huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) đời Lê Huyền Tông. Lúc đầu ông là quan văn, sau đổi sang ngạch võ, trải thăng đến Thái phó, Quốc lão, tước Ứng quận công. Đặng Đình Tướng là quan đồng triều cùng với Nguyễn Quý Đức, đồng thời cũng là bạn thơ. Hai ông thường lui tới thăm nhau và có thơ thù tặng.

[15] Ưu lão: quý trọng bậc quốc lão.

[16] Thế quan: quan lại thế phiệt. Họ Đặng ở Lương Xá là một thế gia vọng tộc, đời đời có người làm quan cao trong triều.

[17] Tử lý: xóm làng. Câu này mượn ý người xưa quan niệm rằng, nếu phú quý mà không quay về làng thì giống như mặc áo gấm đi đêm. Ở đây Nguyễn Quý Đức tán thưởng Đặng Đình Tướng phẩm cao tột bậc, phú quý cao sang lại được chúa cho về quê nghỉ ngơi.

[18] Hương Sơn: núi Hương Tích ở gần quê của Đặng Đình Tướng. Ý cả câu nói có dịp các bạn thơ sẽ cùng nhau thăm thú Hương Sơn.

[19] Tây Lạc: miền tây thành Lạc Dương. Nghiêm Tử Lăng thời Hán, không ham phú quý, về ở ẩn tại vườn ở phía tây thành Lạc Dương.

[20] Thừa lưa (từ cổ): dồi dào, nhiều vô kể.

[21] Vị bàn: bàn cấu trên sông Vị. Sử ký của Tư Mã Thiên chép, khi chưa giúp Chu Vũ vương, thì Khương Tử Nha ngồi ở bàn đá bên sông Vị thả cần câu cá.

[22] Tuế nguyệt: năm tháng. Ý nói tuổi tác đã cao.

[23] Hạc hoang: tuổi hạc. Theo quan niệm của người xưa, loài rùa và chim hạc là giống vật có tuổi thọ cao, nên người ta thường chúc nhau tuổi thọ như quy hạc.

[24] Tu đan: luyện thuốc trường sinh.

[25] Đặng Quốc lão: tức Đặng Thụy (1649-1735), tự là Đình Tướng, hiệu là Trúc Ông người làng Lương Xá huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) đời Lê Huyền Tông. Lúc đầu ông là quan văn, sau đổi sang ngạch võ, trải thăng đến Thái phó, Quốc lão, tước Ứng quận công. Đặng Đình Tướng là quan đồng triều cùng với Nguyễn Quý Đức, đồng thời cũng là bạn thơ. Hai ông thường lui tới thăm nhau và có thơ thù tặng.

[26] Bò nhại cỏ: bò chê cỏ không ăn. Ý nói không có con bò nào ốm yếu chê cỏ, nên không có thịt bò bán.

[27] Chác (từ cổ): mua. Thơ nôm Nguyễn Trãi có câu:

Túi đã không tiền khôn chác rượu

Vườn tuy có cúc chửa đâm hoa.

(Quy Côn Sơn trùng cửu ngẫu tác)

[28] Quang nghĩa: tình nghĩa đơn sơ. Ý nói thết khách đạm bạc. Bài thơ này miêu tả cảnh sống thanh đạm của nhà nho, rất giống với thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến.. Xin dẫn thêm bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm để bạn đọc tham khảo:

Gượng đến mừng nhau một mặt không

Nhiều thì chẳng có ít chẳng thông

Hươu nai hãy đợi trên rừng bắc,

Thu vược còn chờ dưới bể đông.

Nam Sách rượu nồng còn muộn cất

Tay Chân quít ngọt chửa đâm bông

Chẳng mong rắp đợi, song còn muốn

Vậy đến mừng nhau một mặt không.

[29] Đặng Quốc lão: tức Đặng Thụy (1649-1735), tự là Đình Tướng, hiệu là Trúc Ông người làng Lương Xá huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) đời Lê Huyền Tông. Lúc đầu ông là quan văn, sau đổi sang ngạch võ, trải thăng đến Thái phó, Quốc lão, tước Ứng quận công. Đặng Đình Tướng là quan đồng triều cùng với Nguyễn Quý Đức, đồng thời cũng là bạn thơ. Hai ông thường lui tới thăm nhau và có thơ thù tặng.

[30] Qua: vượt qua, hơn hẳn. Đây là phó từ chỉ mức độ, dùng để nhấn mạnh, thường dùng trong thơ văn cổ. Chẳng hạn như, qua ngọt (rất ngọt), qua chua (rất chua)… ở đây từ “qua ưa” nên được hiểu là rất được ưa chuộng.

[31] Hòa canh: đem nấu làm canh để ăn.

[32] Giải tửu: dùng để uống rượu.

[33] Chín vạc: chỉ nhà giàu có. Vạc là chiếc chảo nấu cơm lớn có chân bắc. Xưa kia các nhà hào phú có nhiều người ăn, phải dùng vạc để nấu cơm. Một nhà có đến chín vạc nấu ăn thì phải là đại gia.

[34] Thượng thư trí sĩ quan: Quan Thượng thư trí sĩ, tức Thượng thư Nguyễn Ngô Chung (1641-1715), người làng Cẩm Chương huyện Đông Ngàn, nay thuộc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, thi đỗ Tiến sĩ năm Vĩnh Trị thứ 1 (1676) đời Lê Hy Tông. Làm quan đến Thượng

thư bộ Hộ, tước Khánh Sơn hầu. Nguyễn Ngô Chung là bạn đồng liêu của Nguyễn Quý Đức.

[35] Bể rộng triều quan: người xưa ví việc đi làm quan như đi trên bể rộng. Thơ nôm của Nguyễn Trãi có câu:

Lộng khơi ngại vượt bể triều quan

Lui tới đòi thời miễn phận an.  (Bảo Kính cảnh giới – 33)

[36] Thiên thanh: trời trong sáng.

[37] Tiêu sái: tiêu khiển, thư giãn.

[38] Ý cả câu nói làm hết việc đời thì thành tiên rồi, ý nghĩa là nghỉ

hưu nhàn nhã.

[39] Tương truyền bài thơ này Nguyễn Quý Đức cùng làm với vị Thượng thư Nguyễn Đương Bao, người làng Tây Mỗ. Nguyễn Đương Bao (1647-1727) thi đỗ Tiến sĩ năm 1673, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ. Khi về già, hai ông cùng hay lui tới đàm đạo thế sự, bình thơ giảng văn. Bài thơ gắp trầu này hai ông cùng làm ngay ở đình Lạc Thọ của Nguyễn Quý Đức ở Đại Mỗ, mỗi ông làm một câu.

[40] Khu cơ: then máy. Ý nói hai ông cùng làm quan to trong triều, giữ nhiều trọng trách.

[41] Hào mạt: nhỏ bé.

[42] Hóa kẻ ngoan phu: giáo hóa kẻ ngang ngạnh thành người ngay thẳng.

[43] Phô người: các ngươi.

[44] Thiền lâm: rừng Thiền, ở đây chỉ vào ngôi chùa. Khi về trí sĩ, Nguyễn Quý Đức cho dựng một ngôi nhà ở gần ngôi chùa làng để vui thú tuổi già, họp mặt bạn bè, đặt tên là đình Lạc Thọ.

[45] Kỳ anh: người cao tuổi có đức vọng.

[46] Hiềm: e ngại.

[47] Dựa bậu: đứng dựa vào bậu cửa

[48] Xênh xang: tự do thoải mái.

[49] Đạo tôi: đạo làm bề tôi.

[50] Bừa nguyệt: đi bừa ruộng dưới bóng trăng Nắng lui: bóng nắng khuất sau núi.

[51] Cửa song: cửa bỏ ngỏ then, không cài.

[52] Khoa mục: thi cử đỗ đạt.

[53] Thao kiếm: lược thao ấn tín. Đặng Đình Tướng từng thi đỗ Tiến sĩ làm quan trong triều thuộc hàng văn giai, được chúa tin dùng. Sau ông xin chuyển sang ngạch võ, lập được chiến công.

[54] Trẻ sang già lọn: lúc trẻ đỗ đạt làm quan. Khi già được về trí sĩ. Người xưa quan niệm đó là phúc lớn cho kẻ sĩ. Thơ Nguyễn Trãi có câu:

Trẻ hòa sang, ấy phúc

Già được lọn là tiên.

[55] Giậu đông: dịch chữ Hán “đông lý”. Tấn thư chép: Đào Tiềm từ quan về quê trồng cúc ở giậu đông, hưởng cảnh an nhàn.

[56] Kiều Bá: tức Bá Kiều. Sách Tam phụ hoàng đồ chép, ở phía tây thành Trường An có cây cầu tên là Bá Kiều. Xưa kia người ta tiễn đưa nhau đi đến câu cầu này thì dừng lại bẻ cây tặng nhau và chia tay.

[57] Thanh phong lãng nguyệt: trăng trong gió mát..

[58] Áo quán: nhà sưởi ấm mùa đông.

[59] Lương đài: đài hóng mát mùa hè.

[60] Phục Ba: tên hiệu của danh tướg Mã Viện đời Hán. Sách Hậu Hán thư chép, khi biên cương có giặc, vua Hán Quang Vũ hỏi quần thần xem ai có dũng khí cầm quân đi dẹp giặc. Trong lúc nhiều người cân nhắc chưa dám nhận lời, thì thấy một ông già đã ngoại bảy mươi từ trong nhảy ra xin đi. Quang Vũ nhận ra đó là Phục Ba tướng quân, liền khen rằng “Quắc thước tại thị ông” (Rắn giỏi thay ông già này).

Chấm điểm

Nhân vật liên quan

Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)