Đăng Minh bảo tháp

Đăng Minh bảo tháp

Thông tin cơ bản

Phiên âm:

Mặt 1

Đăng Minh bảo tháp

Cái văn:

Quế ngạc cửu tiêu, hinh hương thế giới;
Anh danh thiên cổ, bưu bính khanh mân.
Hiến hiến hoa tông; chương chương kỳ tích.

Duy:

Trúc Lâm Thiền sư đệ tam đại, đặc phong tự pháp Huyền Quang Tôn Giả, nãi tiền thân A Nan Tôn Giả Phật sắc giáng sinh Đông độ, [quán]1 [Lạng Giang, Nam Sách] Gia Định Vạn Tư2, tính Lý, Trần triều chi gian xuất dã.

Nguyên phù:

Tinh túy […]; […] biểu phú. Tam xa hoàng quyển; bạch phượng đằng vân. Bạt Đông Hải kim ngao ngọc […] hoa; sứ Bắc quốc tài quán thượng bang. Ư bồng đảo mịch Tây Thiên biểu từ […]; ư ngoại vật bạc phú quý ư phù vân. Yên tự sơn đăng, cao thích lâm tuyền […]; […]sư thụ, nhạ ưu viên giác chi tâm. Thịnh giáo [phong] hành, hữu thiên vũ hóa; trạch nguyên dương dật đạo mạch di mạn. Bát tuần ngoại hạ xích -thập nguyện – đạo bảo tháp ân long phi thế.

Trần Minh Tông chỉ trân trọng, vinh phong tích mậu hữu phu.

Hoàng thánh triều chi tuyên dương, [suy] mệnh hộ dân bảo quốc, công phi đặc chiêu trứ ư Nam thiên, nhĩ cung viễn sùng danh [ngưỡng] diệc tùng quan ư Bắc địa sâm nghiêm đài thượng anh khí xung xạ Đẩu Ngưu tọa tiền hương yên trực lăng Tiêu Hán, nhân cơ ngọc chi, ta phù thiết [phỉ] thiên niên phụng san mệnh thiền chính dục thạch lưu vạn thế. Tư nột tử Bùi Trù Tự tính thổ ư Quý Mùi niên – cung phụng y thụ sắc mệnh dĩ kinh chỉ chuẩn ứng trừ, nhậm chức Tướng sĩ Thứ lang Lạng Giang phủ Tăng hội ti tăng chính trụ trì Côn Sơn tự hứa môn thiền Hải Ấn, thiệu kế tông phong, liên đăng tục diệm. Phủ truy tiên cước, ngưỡng bái hoa tông. Thái tập lương hàm phù ngọc án y dạng họa hồ lô kim đàn bảo pháp diệu trai tâm, quản trung khuy văn báo. Nhân sơn trí thủy, duy thánh kỳ tại tư hồ; bảo tháp ngân cung, duy thần kỳ hữu cách hĩ. Đa niên cựu phác, thường phi cửu viễn chi lương đồ nhất đán khởi công viên tập tượng nhân nhi minh sức, cổ tích ngõa chuyên thành cải hoán.

Kim sùng mân thạch […] […] ngưỡng ngọc thể chi hồn toàn, thiên cổ phất thế, vọng oánh nham ư ngật lập […] mậu đức ư hà niên […] trứ minh danh ư lai.

Mặt 2

[…] tụy giới danh lam, Côn Sơn cổ tích, thánh hiển linh thông nhi tứ […] cách nhi triệu thứ nguyện sùng. Ngữ kỳ cảnh dã tắc đáo xứ hòa phong, hữu thiên xuân […] quát tận thượng phương chi hoa phẩm nhã lai, bát tiết kỳ trân, thử Bắc địa chi nhất danh sái dã. Sơn u thủy diểu, côn hóa bằng phi, cao li long tích ư yên tiêu, liêu thoát phượng tường ư tuyệt đỉnh, chân thiên tiên chỉ thanh hư phủ yên. Ngân tháp trang thành,

đoan bái vô nhai ư Tây độ. Hoa cung sùng tựu, vọng huyền cảnh ngưỡng ư nam thùy, dữ nhật nguyệt nhi tịnh minh, đẳng thiên địa nhi đồng cửu, ức niên như tại vạn tải thường tồn. Thị dĩ tâm tư tâm sự tư sự bút tư bút viễn kỳ truyền tỷ hậu giả trai sở trai kính sở kính tôn sở tôn, đương nhất như ước dã. Vu thử chiêu nhất thời chỉ thịnh sự, vĩ vạn thế chi vinh quan, ngu chỉ đại hạnh dã, cẩn bái.

Thời

Lê triều Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi thập ngũ tuế tại Kỷ Hợi, mạnh đông cốc nhật.

Dịch nghĩa:

Mặt 1

Từng nghe:

Hoa quế cửu tiêu3, lừng hương thế giới;

Danh thơm4 thiên cổ, rạng ánh bi minh.

Thịnh đạt5 sơn môn; rỡ ràng công tích.

Thiền sư đời thứ ba của Trúc Lâm, được đặc phong tự pháp Huyền Quang Tôn Giả6, vốn tiền thân là A Nan Tôn Giả. Phật sắc cho giáng sinh vào nhà họ Lý, Gia Bình, [hương] Vạn Tái, [châu Nam Sách], [lộ Lạng Giang], đất Đông Độ, vào khoảng thời gian đời nhà Trần.

Ô hô!

Tinh túy [đúc chung], [Đất trời] bẩm phú. Tỏ rõ năm xe hoàng quyển phượng trắng xông mây, đoạt ngọc kim ngao Đông Hải, đi sứ Bắc quốc, tài năng nổi danh đất Bắc. Mê tiên nơi bồng đảo, tìm đạo từ bi ở cõi Tây Thiên, ngài coi phú quý như phù vân, thú một lòng vui thích cảnh lâm tuyền… được giao truyền viên giác bản tâm. Phật giáo thịnh hành, hóa dục tựa thiên vũ, ấm trạch tràn đầy. Đạo phái cao vời vợi, ngoài 80 tuổi quy tiên mười nguyện xây tháp báu huy hoàng ân lớn không quên.

Trần Minh Tông trân trọng, vinh phong rõ ràng.

Nay Hoàng thánh triều ta tuyên dương công đức, mệnh giúp dân hộ quốc, công tích hiển ứng trời Nam, xa gần cung kính; tiếng tăm lẫy lừng nơi đất Bắc. Trang nghiêm thay anh khí trên đài cao vời vợi tận Đẩu Ngưu. Dẫu trước tòa hương bay thẳng lên vầng Tiêu Hán. Nền ngọc nhân cơ (nền nhân tốt đẹp). Ôi! Xây lên đâu để nghìn năm, vâng mệnh chỉnh đốn nhờ đá lưu truyền vạn đại… Nay tiểu tăng là Bùi Trù Tự vào năm Quý Mùi (1703) cung phụng sắc mệnh chuẩn cho chức Tướng sĩ Thứ lang phủ Lạng Giang, Tăng hội ti Tăng chính, trụ trì Côn Sơn tự hứa truyền giao môn đệ là Hải Ấn, tiếp nối dòng thiền, rạng soi đèn đạo. Cúi theo nếp xưa, ngưỡng bái Hoa Tông. Thu thập vật liệu quý, y hình cũ tạo dựng lại kim đàn, bảo pháp, diệu trai… cách nhìn còn hạn hẹp. Thực cảnh non nhân nước trí duy thánh hiền mới ở đó, nay đài báu gác vàng, duy thần thông lưu đức trạch. Một thời phác hoạch, đâu phải lương đồ vĩnh cửu… một sớm khởi công tập hợp thợ khéo, tu sức cổ tích, thay ngói đổi gạch.

Nay nhờ bia đá […] ngóng ngọc thể bình yên, muôn đời không đổi, mong bia sừng sững […] cây đức muôn năm […] Vậy khắc vào đá để cho đời sau.

Mặt 2

[…] Tụ tập cõi danh lam, vết cũ Côn Sơn, thánh hiền lưu danh hiển tích… muôn dân tỏ đạo tôn sùng. Nói về cảnh sắc thì gió hòa tươi tốt […]

đến tận cõi cao mà phẩm hoa cùng giáng, tám tiết thức báu đủ đầy. Đây chính là ngôi chùa nổi tiếng của đất Bắc vậy. Nước chảy non sâu, cá côn hóa chim bằng bay cao, long tích chốn vân tiêu, phượng hoàng bay lượn nơi tuyệt đỉnh. Đúng là cảnh phủ thanh hư cõi thần tiên. Tháp bạc trang hoàng, cúi lạy đức cao vô bờ miền Tây Trúc. Cung hoa thành kính, vọng ngắm cảnh huyền diệu nơi Nam độ, sáng ngời cùng nhật nguyệt, bền lâu với trời đất, muôn năm còn mãi muôn thuở trường tồn. Thế nên lấy lòng đo lòng, lấy việc đo việc, bút chép lại để lưu dài lâu khiến đời sau trai giới như thế, kính cẩn như thế, tôn sùng như thế, một lòng theo lệ ấy. Thế mới tỏ được việc lớn một thời, để cho muôn đời cùng chiêm ngưỡng, ấy mới thực là cái may mắn của kẻ ngu đần này, kính cẩn cúi lạy.

Thời gian dựng bia:

Ngày tốt tháng đầu đông năm Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 15 (1719) triều nhà Lê.

(Tham khảo Nguyễn Khắc Minh, “Văn bia Đăng Minh bảo tháp”,

Tạp chí Hán Nôm, số 01 (98) 2010: tr. 75-79)

Chú thích

  1. Nguyễn Khắc Minh đọc là” thực” (實)
  2. Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh ghi: “Kinh Bắc Gia Định nhân”
  3. Cửu tiêu: chín tầng mây, chín tầng trời.
  4. Anh danh 英名: tiếng tốt. Bản Nguyễn Khắc Minh dịch là “anh linh”. Nguyên văn ghi hiến hiến nghĩa là “hưng thịnh”. Bản Nguyễn Khắc Minh dịch là “rạng rỡ”.
  5. Công tích: nguyên văn ghi là kỳ tích” nghĩa là” công tích, sự nghiệp kỳ lạ”. Bản Nguyễn Khắc Minh để nguyên phiên âm, dễ bị nhầm do đồng âm Hán Việt.
  6. Tự pháp 嗣法: pháp hiệu để nối kế ý chỉ của tiền tổ. Bản Nguyễn Khắc Minh dịch”Trúc Lâm Thiền sư đời thứ ba, đặc phong tự pháp là Huyền Quang Tôn Giả”, đã biến một ngữ danh từ có mệnh đề thành một câu.
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)