Hậu phật bi kí

Hậu phật bi kí

Thông tin cơ bản

Hậu phật bi kí
後佛碑記
Thác bản bia xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn 東岸縣扶寧社, sưu tầm tại chùa Pháp Vân xã Phù Ninh tổng Hạ Dương huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn, Bắc Ninh.
Thác bản 4 mặt, khổ 100 x 35 cm, gồm 22 dòng chữ Hán,chạm hổ phù.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 17 (1756).
Người soạn:Vị họ Nguyễn, trúng thí đệ tứ trường khoa Bính Tý (1756), phúc thí trúng hạng, được chỉ thụ chức Hồng lô tự Tự ban soạn văn bia. Xã trưởng Nguyễn Văn Liêm kí.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Xây dựng, trùng tu di tích.

Nguyên văn chữ Hán

流傳萬代後佛碑記

嘗謂澤及於人者,必享人之報,此古今之通誼也。

睠惟前令公阮壽李,乃郡夫人之姪孫也。豐資俊爽,性行純和,其處己也;睦族而尊親,其待人也。敬老而慈幼,寬和之德著於鄉村。久遠之謀資於賢助,追想良夫德,欲綿香火之傳,乃出家資助本社爲使用之資,置肥田付當役爲祭祀之禮。

因此全社等共會亭中,協保前饒男該合阮壽李,諡柔慎爲後佛。而今而後,忌臘之禮永矢弗援,因此勒于貞珉,以壽其傳云。

景興十七年良月穀旦

社長阮文廉記

丙子科中第四場覆試中項祇受鴻臚寺序班阮撰。

協保姓名東岸縣扶寧社。

Phiên âm Hán Việt

Hậu Phật bi kí

Thường vị: trạch cập ư nhân giả, tất hưởng nhân chi báo; thử cổ kim chi thông nghi dã. Quyền duy Tiền Lệnh công Nguyễn Thọ Lí nãi Quận phu nhân chi diệt tôn dã. Phong tư tuấn sảng, tính hạnh thuần hoà. Kì tử kì dã, mục tộc nhi tôn thân; kì đãi nhân dã, kính lão nhi từ ấu. Khoan hoà chi đức, trứ ư hương thôn; cứu viện chi mưu, tư ư hiền trợ. Truy tưởng lưỡng phu đức, dục miễn hương hoả chi truyền. Nãi xuất gia tư trợ bản xã vi sở dụng chi tư, trí phi điền phó đường dịch vi tế tự chi lễ. Nhân thử đồng xã đẳng cộng hội đình trung, hiệp bảo Tiền nhiêu nam Cai hợp Nguyễn Thọ Lý thụy Nhu Thuận vi Hậu Phật. Nhi kim nhi hậu kì lạp chi lễ, vĩnh thì phát viễn. Nhân thử lặc vu trinh mân dĩ thọ kì truyền văn.

Thời, Cảnh Hưng thập thất niên lương nguyệt cốc nhật xã trưởng Nguyễn Văn Liêm kí.

Bính Tý khoa trúng đệ tứ trường, phúc thí trúng hạng, chỉ thụ Hồng Lô tự Tự ban Nguyễn soạn.

– Hiệp bảo tính danh: Đông Ngạn huyện Phù Ninh xã quan viên hương lão xã thôn trưởng trung nam đẳng… đồng xã thượng hạ đẳng cộng kí.

Kê:

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia Hậu Phật

Thường nghe: Ai ban ân trạch cho mọi người, tất được mọi người báo đáp. Đó là lẽ đương nhiên từ cổ chí kim vậy. Kính thay, nay có vị nguyên là Lệnh công Nguyễn Thọ Lí là cháu nội bà Quận phu nhân. Ông là người phong tư đĩnh đạc, tính hạnh thuần hậu. Ở nhà thì ôn hoà trong dòng tộc, tôn kính bậc trên; ở ngoài thì kính già, yêu trẻ. Đức khoan hoà sáng rạng khắp xóm làng. Muốn được lưu danh mãi mãi, thờ cúng dài lâu, ông đã bỏ tiền của gia tư giúp cho xã chi dùng và cúng ruộng tốt để lo tế lễ về sau. Nhân đó toàn xã cùng hội họp ở đình trung tôn bầu Cai hợp Nguyễn Thọ Lí, thụy là Nhu Thận, nguyên là Nhiêu nam làm Hậu Phật. Từ nay về sau, các kì giỗ chạp, cúng lễ mãi mãi. Vì vậy khắc lên đá tốt để truyền dài lâu.

Ngày lành tháng tốt năm Cảnh Hưng 17 (1756) Xã trưởng Nguyễn Văn Liêm kí. Vị họ Nguyễn, trúng thí đệ tứ trường khoa Bính Tý (1756), phúc thí trúng hạng, được chỉ thụ chức Hồng lô tự Tự ban soạn văn bia.

Họ tên các vị quan viên hương lão xã thôn trưởng và trung nam xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn kê ra sau đây:

Thừa chánh sứ Hiển Thọ bá (cùng bầu), Trung úy Huân Thọ hầu Nguyễn Thọ Vạn (chuẩn y), Tri huyện Nguyễn Tán (chuẩn y), Huyện thừa Nguyễn Như Khanh (chuẩn y), Nguyễn Thọ Thao (chuẩn y), Nguyễn Thọ Chuẩn (chuẩn y), Hoàng tín đại phu Nguyễn Thọ Cung (chuẩn y), Nho sinh trúng thí Nguyễn Bá Vũ (kí), Nho sinh Nguyễn Cao Danh (kí), Quan viên tử Thạch Duy Ánh (kí), Lương y Nguyễn Đình Lệ (kí), Sinh đồ Nguyễn Thọ Quân, Cai hợp Thạch Lệnh (kí).

Hương lão Nguyễn Văn Sáu (kí), Nguyễn Hữu Đức (kí), Nguyễn Khắc Huệ (kí), Nguyễn Đình Cam (kí), Nguyễn Đức Dụng (kí), Nguyễn Văn Chu (kí), Nguyễn Văn Nhu (kí), Nguyễn Văn Bình (kí), Nguyễn Văn Khải (kí), Nguyễn Đức Nhuận (kí), Nguyễn Công Quỳnh (kí), Nguyễn Đức Đạt (kí), Nguyễn Công Chiểu (kí), Nguyễn Tất Hành (kí), Nguyễn Đăng Sĩ (kí).

Thôn trưởng Nguyễn Đức Dung (kí), Nguyễn Sắc (kí), Nguyễn Đình Sĩ (kí), Nguyễn Viết Nghi (kí), Nguyễn Dục (kí), Nguyễn Tất Thân (kí), Nguyễn Văn Vi (kí), Nguyễn Văn Đàn (kí), Nguyễn Văn Hiếu (kí), Nguyễn Đức Vụ (kí).

Trung nam Nguyễn Văn Tương (kí), Nguyễn Khắc Liêm (kí), Nguyễn Hữu Duyên (kí), Nguyễn Đức Thọ (kí), Nguyễn Văn Thiệu (kí), Nguyễn Đức Thành (kí), Nguyễn Đức Hoan (kí), Nguyễn Văn Phụ (kí), Nguyễn Văn Thảo (kí), Nguyễn Văn Thường (kí), Nguyễn Khắc Dụ (kí), toàn xã trên dưới cùng kí.

Ngày giỗ và ruộng oản tại các xứ đồng là 1 mẫu.

– Xứ Đồng Mãn 1 mảnh 1 sào, 1 mảnh nữa 1 sào 3 thước, 1 mảnh 13 thước; xứ Cầu Lỗi 1 mảnh 1 sào 3 thước, 1 mảnh 1 sào rưỡi; xứ Ngõ Đà 1 mảnh ruộng mạ 15 đấu; xứ Đồng Lương 1 mảnh 1 sào 5 thước.

– Ruộng giỗ 6 sào, ruộng chạp 3 sào, mỗi sào cúng 1 mâm xôi, mỗi mâm 10 đấu gạo, chuối tiêu 1 nải, cau trầu 1 phong 10 miếng.

Ngày giỗ hằng năm vào ngày 16 tháng 10, ngày chạp vào ngày 30 tháng 11, quan viên tư văn hành lễ như nghi thức. Lễ xong, biếu quan viên tư văn 1 mâm, bồi bái 1 mâm, còn lại thì ai có mặt ở đó cùng thụ lộc.

– Ruộng oản 14 thước ở xứ Đồng Mãn giao cho tăng chùa cày cấy. Vào kì giỗ, chạp, sắm đèn nhang, oản quả cúng Tam bảo. Cúng xong, tăng chùa thụ lộc.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 144-148

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)