Hậu phật bi kí

Hậu phật bi kí

Thông tin cơ bản

Hậu phật bi kí
后佛碑記
Thác bản 1 mặt, khổ 55 x 45 cm, gồm 10 dòng chữ Hán, khoảng 200 chữ Hán.
Niên đại: không rõ
Chủ đề:
– Trùng tu di tích, gửi giỗ.
– Sinh hoạt làng xã.

Phiên âm Hán Việt

Hậu Phật bi kí

Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Ninh Giang xã quan viên, hương lão, xã thôn trưởng, đồng xã thượng hạ đẳng do ư Quý Mùi niên mạnh thu tiết hữu cải chính hậu đình chi suy ngõa, hựu trùng tu tả tự chi viên tường. Công dịch phả đá, tài dụng vị thiệm. Nãi hữu phần hương liệt phụ Nguyễn Thị Diễm hiệu Diệu Trang tố thị lương nhân, bột hưng thiện niệm. Tiền kì xuất thanh tiền nhất thập quan, sử chi dĩ trợ hương dụng chi phí; hậu hựu dẫn phi điền tam cao, tính khất vi bản tự Hậu Phật. Bỉ y nhân chi tình, diệc khả nguyện dã. Tư bản xã đẳng chúng khẩu đồng từ, hứa y sở khất, viên tả lập bi vị. Hệ đệ niên suy tam cự, mỗi cự đương ngũ đấu, thanh tiêu giá sử tiền nhị mạch. Tương tựu bi vị, hứa tăng tự chúc thực như nghi.

Nhất sở Ngã Tất điền nhất cao, nhất sở Đường Khôi điền nhị cao tam xích, cúng hương đăng Đường Trình điền ngũ xích.

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia Hậu Phật

Quan viên hương lão xã thôn trưởng cùng toàn dân trên dưới xã Ninh Giang huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn dựng bia.

Nguyên là vào tiết mạnh thu năm Quý Mùi1, xã lợp lại mái ngói chính cung và hậu đình, sau lại tu sửa tường vây bên trái chùa. Công việc nhiều, mà vật liệu chưa đủ. Lúc đó, (trong làng có bà Nguyễn Thị Diễm hiệu Diệu Trang, vốn là người tốt bụng, hưng phát lòng lành. Bà đã bỏ 10 quan tiền xanh trợ giúp việc chi tiêu của xã, nay lại cúng ruộng tốt 3 sào để xin làm Hậu Phật ở chùa. Thể theo sở nguyện đó của bà, dân xã đồng thanh làm theo ước nguyện đó. Do vậy cho viết bài vị lên bia. Hằng năm cúng 3 mâm xôi, mỗi mâm tương đương 5 đấu gạo, chuối tiêu giá 2 mạch tiền sử dâng lên trước bia. Tăng chùa làm lễ theo nghi thức.

Ruộng 1 sào ở xứ đồng Ngã Tất, 2 sào 3 thước xứ Đường Khôi và 5 thước xứ Đường Trình, cúng làm ruộng hương hoả.

Chú thích: 

  1. Năm Quý Mùi không được ghi với niên hiệu vua, nên khó xác định là năm nào. Song theo phong cách bia và nhất là dòng địa danh “Từ Sơn phủ Đông Ngàn huyện Phù Ninh xã” tương tự như thường gặp trên các bia khác có niên đại vào cuối thời Lê. Do vậy năm Quý Mùi này, rất có thể là năm 1763, niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 250-251.

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)