Hậu phật bi kí
后佛碑記
Thác bản 1 mặt, khổ 50 x 35 cm, gồm 10 dòng chữ Hán. Có chữ “cửu” viết kiêng húy thời Lê
Niên đại: không rõ
Chủ đề:
– Trùng tu di tích, gửi giỗ, bầu hậu.
– Sinh hoạt làng xã.
Nguyên văn chữ Hán
后 佛 碑 記
慈山府東岸縣寧江社官員色目鄉老社村長全社等
迺於茲年冬月日重修鍾閣,鳩工甫畢,用度未周。乃有本社人阮氏昕號妙會,乞從本寺后佛,併與前良夫君公字仲壽、女子林氏號貞質各忌並從本寺。仍出古錢十五貫,併引田六高,以乞遞年之忌。
因此本社上下同辭,許依所乞。係遞年正月初玖日林公字仲壽忌日;
遞年月日阮氏號妙會正日;遞年三月初七日林氏號貞質忌日。以上各忌正日,每忌二具,每具炊五年,青焦價使錢二陌,酒一差,芙留十口,將在碑位僧祝供如儀。供畢,本社上下均分飲食。刻之于石,以傳永久云。
Phiên âm Hán Việt
Hậu Phật bi kí
Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Ninh Giang xã quan viên sắc mục hương lão xã thôn trưởng đồng xã đẳng.
Nãi ư tư niên đông nguyệt nhật trùng tu chung các, cựu công phù tất, dụng độ vị chu. Nãi hữu bản xã nhân Nguyễn Thị Gần hiệu Diệu Hội khất tòng bản tự Hậu Phật, tính dữ tiền lương phu quân, công tự Trọng Thọ, nữ tử Lâm thị hiệu Trinh Chất các kị tính tòng bản tự. Nhưng xuất cổ tiền thập ngũ quan tính dân điền lục cao dĩ khất đệ niên chi kị. Nhân thử, bản xã thượng hạ đồng từ hứa y sở khất. Hệ đệ niên chính nguyệt thập cửu nhật Lâm công tự Trọng Thọ kị nhật. Đệ niên nguyệt nhật Nguyễn thị hiệu Diệu Hội chính nhật. Đệ niên tam nguyệt sơ thất nhật Lâm thị hiệu Trinh Chất kị nhật. Dĩ thường các kị chính nhật, mỗi kị nhị cự, mỗi cự suy ngũ đấu, thanh tiêu giá sử tiền nhị mạch, tửu nhất chai, phù lưu thập khẩu tương tại bi vị. Tăng chúc cúng như nghi.
Cúng tất, bản xã thượng hạ quân phân ẩm thực. Khắc chi vu thạch dĩ truyền vĩnh vân.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Phật
Quan viên, sắc mục, hương lão, xã thôn trưởng xã Ninh Giang huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn dựng bia.
Nguyên do vào mùa đông năm nay, xã tu sửa gác chuông chùa, công việc gần hoàn tất, nhưng chi phí chưa đủ. Trong lúc đó, trong xã có bà Nguyễn Thị Gần hiệu Diệu Hội xin làm Hậu Phật ở chùa cùng gửi các giỗ ở chùa cho phu quân tự là Trọng Thọ, con gái là Lâm thị hiệu Trinh Chất. Bà đã bỏ 15 quan tiền cổ và ruộng tốt 6 sào xin cúng giỗ hằng năm. Nhân đó bản xã trên dưới lập đoan ước thực hiện như lời đề nghị của bà.
Vào các ngày giỗ chính vị họ Lâm tự Trọng Thọ ngày 19 tháng giêng, Nguyễn thị hiệu Diệu Hội vào ngày tháng (bỏ trống vì bà chưa mất), Lâm thị hiệu Trinh Chất ngày 7 tháng 3, mỗi giỗ sắm 2 mâm, mỗi mâm xôi 5 đấu gạo, chuối tiêu giá 2 mạch, rượu 1 chai, cau trầu 10 miếng dâng trước bia. Tăng chùa cúng lễ như nghi thức. Lễ xong, toàn xã trên dưới cùng thụ lộc. Nay khắc lên đá, lưu truyền về sau1.
Chú thích:
- Bia này không ghi niên đại, nhưng có phong cách như những bia thời Lê khác, nhất là văn bản có chữ “cửu” viết heo lối kiêng huý nhà Lê. Do vậy, niên đại của bia này có thể vào niên hiệu Cảnh Hưng, cuối thời Lê.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 252-254