Hậu thần bi kí
后神碑記
Kí hiệu: 2436
Thác bản bia đình Ninh Giang xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣寧江社, sưu tầm tại xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 1 mặt, khổ 90 x 138 cm, gồm 22 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 740 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Trị thứ 8 (1670).
Người soạn: tên hiệu: Đông Thọ Chuyết Phu; học vị: Tiến sĩ khoa Bính Tuất; chức vị: Quốc tử giám Tư nghiệp; tước: Thọ Vinh tử.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
– Thơ văn.
Nguyên văn chữ Hán
後 神 碑 記
寧江社受恩厚惠尊立貴將詠郡公爲後神碑並銘
嘗謂凡有功德於民,而民報之,必立碑記,流傳永遠也。
茲慈山府東岸縣寧江社官員譚仕厚、阮有進。。。上下巨大等,因爲於己巳年構作本社瓦亭參間二廈,人民財力不敷。敬仰貴將石象奇兼知公象該官參督詠郡公,北京貴將,南國重臣,各已著於朝庭恩,又推及本總。於丁未年,乃以使錢五百貫,並木條各色,構作瓦亭三間二廈,鳩工完好。
於本社感此恩德,徵之詩曰:“投之木瓜,猶報以瓊琚”。況貴將恩及於民如此,其可不以厚意答之乎?乃共端言,尊立爲後神,係遞年奉事忌臘如法,入席求福,鉦鼓旗杖,衣帽整肅如儀。今後或某人違約廢禮,即天地照鑒,是約不得而泯也。
因勒于碑,以昭後世,垂無窮。豈止榮一時,誇一鄉而已哉!然言之不足,又銘以贊之。曰:
東岸縣號
寧邑社名
地形是固
山水有情
渙然風景
建此廟亭
萬蒙貴將
多賜蚨青
造成規闊
昭立度宏
恩推民感
祀若神明
各禮忌臘
用好酒牲
祈福入席
旗鼓常行
一時立約
萬世常經
皇朝景治萬萬年之捌季冬穀日
賜丙戌科進士特進金紫榮祿大夫國子監司業壽榮子快東壽拙夫撰
流傳萬代
Phiên âm Hán Việt
Hậu Thần bi kí
Ninh Giang xã thụ ân hậu huệ tôn lập quý tướng Vịnh Quận công vi Hậu Thần bi tính minh.
Thường vị phàm hữu công đức ư dân nhi dân báo chi, tất lập bi kí lưu truyền vĩnh viễn dã. Tư Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Ninh Giang xã quan viên Đàm Sĩ Hậu, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đăng Quý, Nguyễn Tiến Lộc, Nguyễn Đức Ân, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Thọ Vinh, Nguyễn Công Lộc, Hương lão Nguyễn Đình (?)… thượng hạ cự tiểu đẳng nhân vi ư Kỉ Tỵ niên cấu tác bản xã ngõa đình tam gian nhị hạ. Nhân dân tài lực bất phó, kính ngưỡng quý tướng Hữu tượng kì kiêm tri công tượng Cai quan Tham đốc Vịnh Quận công. Bắc kinh quý tướng, Nam quốc trọng thần, các dĩ trứ ư triều đình ân, hựu suy cập bản tổng. Ư Đinh Mùi niên nãi dĩ sử tiền ngũ bách quan tính mộc điệu các sắc, cấu tác ngõa đình tam gian nhị hạ, cựu công hoàn hảo. Ư bản xã cảm thử ân đức, trưng chi thi viết: đầu chi mộc qua, du báo dĩ quỳnh cư. Huống quý tướng ân cập ư dân như thử, kì khả bất dĩ hậu ý đáp chi hồ? Nãi cộng đoan ngôn tôn lập vi Hậu Thần. Hệ đệ niên phụng sự kì lạp như pháp, nhập tịch, cầu phúc, chính cổ kì trường, y mao chính túc như nghi. Kim hậu hoặc mỗ nhân vi ước phế lễ, tức thiên địa chiếu giám. Thị ước bất đắc nhi dẫn dã. Nhân lặc vu bi dĩ chiêu hậu thế, thùy vô cùng khải chi. Vinh nhất thời, khoa nhất hương nhi dĩ tai. Nhiên ngôn chi bất túc, hựu minh dĩ tán chi viết:
Đông Ngạn huyện hiệu, Ninh ấp xã danh
Địa hình thị cổ
Sơn thủy hữu tình
Hoán nhiên phong cảnh
Kiến thử miếu đình
Vạn mông quý tướng
Đa tư phù thành
Tạo thành quy khoát
Chiêu lập đồ hoàng
Ân suy dân cảm
Tự nhược thần minh
Các lễ kì lạp
Dụng hạo tửu sinh
Kì phúc nhập tịch
Kì cổ thường hành
Nhất thời lập ước
Vạn thế thường kinh.
Hoàng triều Cảnh Trị vạn vạn niên chi bát đông tiết cốc nhật. Tứ Bính Tuất khoa tiến sĩ Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Quốc tử giám Tư nghiệp Thọ Vinh tử Khoái Đông Thọ chuyết phu soạn.
Lưu truyền vạn đại
Nguyễn Thạc Lộc…
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Thần
Văn bia và bài minh về việc xã Ninh Giang được ân huệ của quý tướng Vịnh Quận công mà tôn lập Hậu Thần.
Thường nghe: Phàm người có công đức với dân thì được dân báo đáp và được dựng bia lưu truyền về sau vậy. Nay quan viên xã Ninh Giang huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn ta gồm Đàm Sĩ Hậu, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đăng Quý, Nguyễn Tiến Lộc, Nguyễn Đức Ân, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Thọ Vinh, Nguyễn Công Lộc; hương lão Nguyễn Đình, Đàm Trang, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Nhân Khoan, Lâm Đăng Cao, Đàm Uyên, Nguyễn Công Niệm, Nguyễn Khắc Lượng, Đàm Phùng, Ngô Văn Bản, Lâm Như Xuyên, Nguyễn Thạc Dung, Lâm Học Sĩ, Nguyễn Nhân Ân, Nguyễn Khắc Khoan, Nguyễn Công Tiến, Nguyễn Hữu Đắc, Nguyễn Thạc Hoàng, Đàm Đắc Dung, Nguyễn Nhân Chiêu, Lâm Đăng Minh, Nguyễn Ngọc Hoàn, Nguyễn Nhậm Chính, Đàm Nhuận, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Bách Phúc, Lâm Đăng Tiến; xã thôn Nguyễn Đình Tướng, Lâm Đăng Đệ, Nguyễn Nhân Văn, Đàm Phú Cường, Nguyễn Nhân Hưng, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Vinh Tín, Nguyễn Viết Kiệm, Nguyễn Đình Hưng, Lâm Đăng Khoa, Nguyễn Công Ngữ, Lâm Đăng Sĩ, Nguyễn Thạc Trọng, Ngô Tiến Triều, Phạm Văn Thành, Nguyễn Tông Phú, Nguyễn Đức Tiến, Nguyễn Đình Thân, Nguyễn Nhân Phú, Đàm Hữu Tiến, … cùng toàn dân trên dưới nhất nhất rằng:
Vào năm Ất Tỵ (1665) nhân lúc xã xây một ngôi đình 3 gian 2 chái, tài lực của dân không đủ, cúi nhờ quý tướng là Hữu tượng kì kiêm Tri công tượng Cai quan Tham đốc Vịnh Quận công. Ngài là quý tướng xứ Kinh Bắc, là bậc trọng thần của nước Nam hết đỗi nổi danh trong triều. Ân huệ, ngài ban phát khắp cả tổng. Vào năm Đinh Mùi ngài giúp cho xã 500 quan tiền cổ và gỗ cột để làm đình ngói 3 gian 2 chái. Công việc hoàn hảo, bản xã cảm kích trước ân huệ lớn lao này. Sách Kinh Thi đã nói rằng: “Người cho ta quả dưa, ta đáp lại ngọc quý”. Huống hồ quý tướng có ân đức với dân như vậy, lẽ nào chẳng báo đền hậu hĩ sao? Bèn lập đoan ước tôn bầu quý tướng làm Hậu Thần. Hằng năm cúng lễ giỗ chạp như lệ định. Kì nhập tịch, cầu phúc thì chiêng trống, cờ trượng, áo mũ tề chỉnh như nghi thức. Từ nay về sau, có ai làm trái đi, phế bỏ lễ nghi, tất có trời đất soi xét. Nay lập lời ước truyền mãi về sau. Nhân đó dựng bia để truyền hậu thế. Vinh một thời đã làm rạng rỡ một hương ấp. Nói như vậy vẫn chưa thể hết được, nên làm bài minh để ngợi ca, rằng:
Tên huyện Đông Ngạn
Có xã Ninh Giang
Địa thế cẩm tú
Sơn thủy hữu tình
Đẹp thay phong cảnh
Dựng lên miếu đình
Ơn nhờ quý tướng
Chu cấp tiền xanh
Quy mô rộng mở
Sừng sững trời xanh
Ân sâu cảm kích
Thờ như Thần linh
Các kì giỗ chạp
Dâng lễ thơm lành
Cầu phúc, nhập tịch
Cờ trống rợp bay
Một thời lập ước
Muôn kiếp chẳng thay.
Ngày lành tiết đông năm Cảnh Trị 8 (1670) Tư nghiệp Quốc tử giám, Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646), chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tước Thọ Vinh tử, người xã Đông Thọ huyện Khoái Châu soạn văn bia.
Lưu truyền muôn thừa
Nguyễn Thạc Lộc, Nguyễn Thạc Bảo, Ngô Tiến Mộc; Đàm Phú, Nguyễn Thạc Kế, Đàm Đăng Khoa, Nguyễn Khắc Nhượng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Đình Phương, Nguyễn Viết Lang, Nguyễn Công (?), Nguyễn Nhân Hoà, Lê Tất Tài, Nguyễn Thạc Hồng, Nguyễn Đăng Dụng, Đàm Gia, Nguyễn Công Nhung, Lâm Tịch, Phạm Văn Đình, Đàm Tiến Lộc, Nguyễn Văn Luân, Nguyễn Thạc Quảng, Đàm Danh, Nguyễn Cầu, Lâm Học Danh, Nguyễn Thời Cao, Đàm Cầu, Lâm Đình Môn, Ngô Sáng, Đàm Như Chiêu, Nguyễn Vạn.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 384 – 391